Báo cáo thực tập tại Công ty Cổ phần kinh doanh Chế biến Lâm sản xuất khẩu Yên bá

PHẦN 1: - 1 -

TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH - 1 -

CHẾ BIẾN LÂM SẢN XUẤT KHẨU YÊN BÁI - 1 -

1.1. QUÁ TRèNH HèNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN. - 1 -

1.2. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA CÔNG TY. - 1 -

1.3. CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN Lí CỦA CễNG TY. - 2 -

1.4. MỘT SỐ CHỈ TIÊU CÔNG TY ĐẠT ĐƯỢC TRONG 2 NĂM VỪA QUA. - 3 -

1.5.ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY. - 3 -

1.5.1.Cơ cấu bộ máy kế toán của Công ty. - 3 -

1.5.2. Tổ chức công tác kế toán của Công ty. - 5 -

PHẦN 2: - 6 -

THỰC TẾ VỀ KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH CHẾ BIẾN LÂM SẢN XUẤT KHẨU YÊN BÁI. - 6 -

2.1.KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ CÔNG CỤ DỤNG CỤ. - 6 -

2.2. KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH ( TSCĐ ) - 7 -

2.3.KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG. - 8 -

2.4. KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ. - 9 -

2.5. KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHI SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM. - 13 PHẦN 3: - 15 -

MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH CHẾ BIẾN LÂM SẢN XUẤT KHẨU YÊN BÁI - 15 3.1.ƯU ĐIỂM. - 15 -

3.2. TỒN TẠI, HẠN CHẾ. - 15 -

3.3. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ. - 16 -

KẾT LUẬN - 18 -

 

 

 

doc19 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 11/08/2014 | Lượt xem: 853 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo thực tập tại Công ty Cổ phần kinh doanh Chế biến Lâm sản xuất khẩu Yên bá, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thuật, tiến độ sản xuất, xây dựng phương án, kế hoạch, soạn thảo các hợp đồng kinh tế cho cấp trên. Phòng Kinh doanh: nghiên cứu, thâm nhập, chiếm lĩnh, mở rộng thị trường, tổ chức mạng lưới tiêu thụ và xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm. 1.4. Một số chỉ tiêu Công ty đạt được trong 2 năm vừa qua. Đơn vị : 1000đ TT Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Chênh lệch 1 Doanh thu 17.523.537 23.285.371 5.761.834 2 Lợi nhuận 742.724 1.101.895 359.171 3 Tổng tài sản 15.635.665 15.415.328 - 220.337 4 Nộp ngân sách 1.424.576 980.987 - 443.589 * Nhận xét: Qua bảng trên ta thấy: - Tỷ suất lợi nhuận so với tổng tài sản: Năm 2006: 742.724/ 15.635.665 = 4,63 % Năm 2007: 1.101.895 / 15.415.328 = 7,14 % - Tỷ suất doanh thu so với tài sản: Năm 2006: 17.523.537 / 15.635.665 = 112,07 % Năm 2007: 23.285.371 / 15.415.328 = 151,05 % Như vậy ta thấy: - Tỷ suất lợi nhuận so với tài sản của Công ty năm 2007 tăng so với năm 2006 là: 7,14 - 4,63 = 2,51% => chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty được nâng lên, điều đó thể hiện trình độ tổ chức sử dụng các yếu tố sản xuất của Công ty là tốt hơn. - Tỷ suất doanh thu so với tài sản của Công ty năm 2007 cao hơn so với năm 2006 là: 151,05 - 112,07 = 38,98% => chứng tỏ sự vận động của các tài sản đã nhanh dần; tốc độ tăng của chỉ tiêu lợi nhuận so với tài sản thấp hơn tốc độ tăng của chỉ tiêu tỷ suất doanh thu so với tài sản => tốc độ tăng của chi phí năm 2007 cao hơn so với năm 2006. - Tổng tài sản năm 2007 giảm so với năm 2006 là 220.337 triệu đồng vì năm 2007 Công ty đã tiến hành đánh giá lại tài sản đồng thời thanh lý một số tài sản có hiệu quả kinh doanh thấp. 1.5.Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại Công ty. 1.5.1.Cơ cấu bộ máy kế toán của Công ty. Công ty áp dụng mô hình quản lý vừa tập trung vừa phân tán (Sơ đồ 3, PPL, T3 ). Đây là hình thức quản lý được xây dựng trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa kế toán Công ty với kế toán của các đơn vị thành viên vì vậy nó đảm bảo thông tin một cách chính xác, kịp thời, phục vụ đắc lực cho việc ra quyết định của lãnh đạo. Nội dung quan trọng đầu tiên của công tác tổ chức kế toán là tổ chức bộ máy kế toán sao cho phù hợp với tính chất, qui mô, đặc điểm của Công ty cũng như phù hợp với trình độ của đội ngũ nhân viên kế toán. - Kế toán trưởng (Kiêm trưởng phòng Kế toán): Phụ trách Phòng Tài chính - Kế toán. Chịu trách nhiệm trước Giám đốc về toàn bộ tình hình tài chính của Công ty. Tổng hợp số liệu kê khai thuế của đơn vị. Tập hợp các chứng từ, bảng kê của các kế toán đơn vị phụ thuộc đồng thời tập hợp chi phí phát sinh và tính giá thành cho các sản phẩm. Xác định kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty. Chịu trách nhiệm ghi chép và phản ánh tình hình biến động về tài sản cố định của Công ty. Tính và phân bổ khấu hao tài sản cố định cho các bộ phận sử dụng. - Kế toán quỹ tiền mặt: Chịu trách nhiệm quản lý về nhập, xuất quỹ tiền mặt tại quỹ. Hàng ngày kiểm kê số tiền tồn quỹ thực tế, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ quỹ và lập báo cáo quỹ. - Kế toán thanh toán, vật tư và ngân hàng: làm nhiệm vụ theo dõi, thực hiện các khoản thanh toán với khách hàng với nội bộ Công ty. Giao dịch với ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kế toán với ngân hàng. Tập hợp tính toán số liệu vật liệu phụ, phụ tùng thay thế với các phân xưởng theo định mức của Công ty. Theo dõi tình hình nhập - xuất vật tư. - Kế toán kho nguyên liệu chế biến sản phẩm và bán hàng: có nhiệm vụ nhập - xuất nguyên liệu. Theo dõi từng loại nguyên liệu đưa vào chế biến. Quyết toán với các phân xưởng theo định mức của Công ty. Nhập sản phẩm để thanh toán lương và bán hàng. - Kế toán tiền lương và thống kê: hàng tháng kế toán lương có nhiệm vụ căn cứ vào phiếu nhập kho sản phẩm của kế toán kho sản phẩm để tính toán tiền lương sản phẩm cho các phân xưởng theo đơn giá tiền lương của Công ty. Thanh toán tiền lương theo thời gian và tiền lương khoán theo khối lượng công việc hoàn thành, đồng thời làm báo cáo thống kê tình hình sản xuất để nộp lên cơ quan chủ quản. - Kế toán các phân xưởng: Có chức năng thu thập ghi chép số liệu khối lượng sản phẩm từng loại. Căn cứ vào định mức để hoàn chứng từ chi phí vật liệu và tiến hành công tác hạch toán tại Phòng Tài vụ của Công ty. Thanh toán lương và chi trả lương cho công nhân (Hạch toán theo hình thức báo sổ). 1.5.2. Tổ chức công tác kế toán của Công ty. Công ty áp dụng chế độ kế toán ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài Chính. Niên độ kế toán bắt đầu từ ngày 01/01/N và kết thúc ngày 31/12/N. Kỳ lập báo cáo: theo từng quý, năm. Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán: Đồng (VNĐ). Nguyên tắc chuyển đổi các đồng tiền khác theo tỷ giá Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam tại thời điểm thanh toán. Phương pháp tính thuế GTGT: theo phương pháp khấu trừ. Phương pháp kế toán hàng tồn kho: + Nguyên tắc đánh giá: theo giá thành thực tế hàng nhập. + Phương pháp hạch toán tổng hợp vật tư theo phương pháp: kê khai thường xuyên + Phương pháp tính giá xuất theo phương pháp: bình quân gia quyền Hình thức ghi sổ kế toán: chứng từ ghi sổ (Sơ đồ 4, PPL,T4) bao gồm các sổ sau: +Sổ chứng từ ghi sổ: ghi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo thời gian. +Sổ cái: mở cho tất cả các tài khoản đang sử dụng. +Sổ chi tiết: mỗi tài khoản chi tiết được mở một sổ. Hệ thống báo cáo tài chính bao gồm: báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, bảng cân đối kế toán, thuyết minh báo cáo tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Hệ thống tài khoản: Công ty sử dụng tài khoản theo quy định của Bộ Tài chính. Ngoài ra Công ty còn sử dụng một số tài khoản cấp 2 để theo dõi chi tiết. Phần 2: Thực tế về kế toán tại công ty cổ phần kinh doanh chế biến lâm sản xuất khẩu yên bái. 2.1.Kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ. * Khái niệm nguyên vật liệu(NVL) và công cụ dụng cụ (CCDC) - NVL là đối tượng lao động, một trong 3 yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh: - Tư liệu lao động - Đối tượng lao động - Sức lao động * Nhiệm vụ của kế toán NVL, CCDC: Xuất phát từ yêu cầu quản lý trong doanh nghiệp và vai trò chức năng của kế toán NVL, CCDC có 2 nhiệm vụ sau: - Tổ chức chứng từ sổ sách kế toán phù hợp với phương pháp hạch toán hàng tồn kho của Công ty. - Kế toán phản ánh phân bổ CCDC vào trong quá trình sản xuất từ đó cung cấp số liệu cho việc tính chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm. Từ đó cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và phân tích hoạt động kinh tế. * Phân loại NVL: Công ty phân loại NVL theo nội dung kinh tế: - NVL chính: Tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. - NVL phụ: tham gia gián tiếp vào quá trình sản xuất - Nhiên liệu - Phụ tùng thay thế - Phế liệu: vật liệu dư thừa trong quá trình sản xuất - Vật liệu khác * Phân loại CCDC: Công ty phân loại theo yêu cầu tổ chức hạch toán kế toán: - CCDC - Bao bì luân chuyển - Đồ dùng cho thuê Trị giá NVL xuất kho được tính trên cơ sở hạch toán mua vào và chi phí mua hàng. Trị giá thực tế = Giá hạch toán + Chi phí mua NVL xuất kho VL mua vào Hàng * Hạch toán chi tiết: Hạch toán chi tiết NVL, CCDC là việc hạch toán kết hợp giữa thủ kho và phòng kế toán trên cùng cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho nhằm đảm bảo theo dõi chặt chẽ số hiện có và tình hình biến động từng loại nhóm NVL, CCDC về cả số lượng và chất lượng. Hiện nay, Công ty hạch toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song Công ty hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên và áp dụng tính thuế theo phương pháp khấu trừ * Hạch toán NVL, CCDC _ Hạch toán nhập NVL, CCDC Kế toán phản ánh: Nợ TK: 152, 153 Nợ TK: 133 Có TK: 331, 111 _ Hạch toán xuất NVL, CCDC. Công ty sử dụng giá xuất kho là giá đích danh. Ké toán phản ánh: Nợ TK: 152, 153 Kho phân xưởng Có TK: 152, 153 Kho xí nghiệp 2.2. Kế toán tài sản cố định ( TSCĐ ) * Khái niệm: TSCĐ là tư liệu lao động chủ yếu và những tư liệu lao động khác có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài. Hiện nay, ở nước ta quy định những tư liệu lao động là TSCĐ có giá trị lớn từ 10 triệu và thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên. TSCĐ hiện nay của Công ty chủ yếu là TSCĐ hữu hình được hình thành từ quỹ đầu tư phát triển, ngân sách cấp và từ nguồn vốn kinh doanh do cấp trên duyệt Hiện nay, Công ty cổ phần kinh doanh chế biến Lâm sản Yên Bái có những tài sản chủ yếu sau: Nhà văn phòng, máy vi tính, máy photo, máy điều hoà, xe ô tô, máy in, dây chuyền sản xuất. * Nguyên tắc đánh giá TSCĐ của Công ty: - TSCĐ do mua sắm mới Nguyên giá = Giá hoá đơn + Chi phí lắp đặt _ Giảm giá (Chưa thuế ) chạy thử (Nếu có) - TSCĐ do được cấp Nguyên giá = Giá trị ghi trong biên bản gốc + Chi phí tiếp nhận ( Biên bản giao nhận TSCĐ) (Nếu có) - TSCĐ do điều chỉnh trong nội bộ Nguyên giá TSCĐ điều = Nguyên giá của giá trị ghi trong sổ chỉnh trong nội bộ của đơn vị điều chuyển tiền - Đánh giá giá trị còn lại của TSCĐ theo giá trị còn lại Giá trị còn lại = Nguyên giá TSCĐ _ Hao mòn luỹ kế của TSCĐ * Phương pháp tính khấu hao TSCĐ của Công ty: Trong quá trình sử dụng TSCĐ vào sản xuất, giá trị của TSCĐ bị hao mòn dần và giá trị hao mòn này được tính vào chi phí. Vì vậy, Công ty áp dụng phương pháp trích khấu hao TSCĐ như sau: Mức khấu hao TSCĐ = Nguyên gía TSCĐ Thời gian sử dụng = Nguyên giá x Tỷ lệ khấu bình quân năm TSCĐ hao năm *Hệ thống tài khoản sử dụng:TK 211 “ TSCĐ hữu hình” TK 212 “ TSCĐ thuê tài chính” TK 214 “ Hao mòn TSCĐ” TK 009 “Nguồn vốn khấu hao cơ bản” 2.3.Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương. * Tại Công ty chủ yếu là sản xuất đũa, ván công nghiệp, thanh ghép thanh. Vì vậy, trong Công ty có 2 loại lao động: _Lao động trực tiếp sản xuất: là bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất hay trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. _Lao động gián tiếp sản xuất: là bộ phận tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất. Vì vậy hình thức trả lương của Công ty vừa dựa vào thời gian và sản phẩm của người lao động. * Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương Tài khoản sử dụng: TK 334 “ phải trả công nhân viên” TK 338 “ phải trả, phải nộp khác” (338(2): KPCĐ; 338(3): BHXH; 338(4): BHYT) Hàng quý tiền lương và các khoản có tính chất lương trả cho công nhân viên: Nợ TK: 622, 627, 642 Có TK: 334 Trích BHXH, BHYT, KPCĐ: Nợ TK: 622, 627, 642 Có TK: 338(2,3,4) Thanh toán lương và các khoản cho người lao động sau khi đã trừ đi các khoản tạm ứng, bồi dưỡng: Nợ TK: 334 Có TK: 111 Cuối kì kết chuyển tiền lương công nhân viên đi vắng chưa lĩnh: Nợ TK: 334 Có TK: 338.8( phải trả, phải nộp khác) 2.4. Kế toán bán hàng và xác định kết quả. Phương thức bán hàng của Công ty: Bán trực tiếp, đây là hình thức bán hàng chính của Công ty vì khách hàng của Công ty là Công ty TNHH, Công ty tư nhân, DNNN... Các Công ty này thường xuyên mua hàng với số lượng lớn.Theo phương thức bán buôn, Công ty chủ động lập kế hoạch mua nguyên liệu, hàng hoá để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bán hàng nói riêng và kế hoạch sản xuất nói chung. Mặt hàng bán trực tiếp chủ yếu của Công ty hiện nay là giấy đế, ván công nghiệp các loại và đũa gỗ. Phương pháp tính giá vốn hàng bán của Công ty: Công ty thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên. Đối với sản phẩm sản xuất nhập kho, giá vốn hàng bán chính là giá thành công xưởng. Đối với hàng xuất kho, kế toán trị giá hàng xuất được coi là tiêu thụ theo phương pháp giá bình quân cả kỳ dự trữ . Ví dụ: Tình hình tồn kho, nhập - xuất giấy đế trong quý I/2007 tại Công ty: * Tồn đầu kỳ : 24 tấn = 61.713.000 đồng * Nhập kho trong quý I/2007 : 628 tấn = 1.669.159.200 đồng * Xuất trong quí I/2007 : 615 tấn Theo phương pháp giá bình quân cả kỳ dự trữ ta có: Đơn giá bình quân hàng xuất trong quý I/2007 là: 61.713.000 + 1.669.159.200 = 2.654.712 đồng/ tấn 24 + 628 Giá vốn của lô hàng xuất là: 2.654.712 đồng x 615 tấn = 1.632.648.000 đồng * Tồn cuối kỳ: 37 tấn = 98.224.200 đồng Kế toán doanh thu bán hàng: Khi có nghiệp vụ bán hàng, căn cứ vào hợp đồng mua bán hàng hoá đã ký kết giữa khách hàng và Công ty (Phụ lục 2.1,PPL,T27), Phòng Kế toán lập hoá đơn GTGT (Biểu số 2.1, PPL,T5). Hoá đơn GTGT này vừa là hoá đơn bán hàng vừa là phiếu xuất kho và là căn cứ để hạch toán doanh thu ở Phòng Kế toán. Hoá đơn này dùng giấy than để viết 1 lần làm 3 liên : + Liên 1 (Màu tím): Lưu tại quyển hoá đơn gốc do Phòng Tài vụ giữ. + Liên 2 (Màu đỏ in bằng mực đặc biệt có chất phản quang): Giao cho khách hàng làm chứng từ đi đường và ghi sổ kế toán ở đơn vị mua. + Liên 3 (Màu xanh): Giao cho thủ kho để ghi thẻ kho sau đó chuyển cho kế toán ghi sổ và làm thủ tục thanh toán. Sau khi lập hoá đơn GTGT, nhân viên Phòng Tài vụ chuyển hoá đơn này xuống kho làm thủ tục xuất hàng. Sau khi nhận được hoá đơn GTGT của thủ kho, kế toán bán hàng kiểm tra tính pháp lý rồi coi đây là chứng từ gốc về tiêu thụ và ghi sổ chi tiết doanh thu (Biểu số 2.2, PPL,T6) để theo dõi hàng hoá và giá trị. Kế toán giá vốn hàng bán: Căn cứ vào thẻ tính giá thành thành phẩm đối với hàng hoá sản xuất, kế toán ghi sổ chi tiết thành phẩm (Biểu số 2.3, PPL,T7) hoặc sổ chi tiết hàng hoá theo đơn giá tính trong thẻ hoặc theo giá mua. Cuối quý, dựa vào số chi tiết hàng hoá,kế toán lập bảng tổng hợp giá vốn thành phẩm (Biểu số 2.4, PPL,T8) và biểu tổng hợp doanh thu (Biểu số 2.5, PPL,T9). Bên cạnh việc phản ánh vào các sổ chi tiết như trên, kế toán tiến hành ghi sổ tổng hợp các nghiệp vụ xảy ra trong quý. Các sổ tổng hợp được kế toán Công ty sử dụng trong nghiệp vụ tiêu thụ gồm: + Chứng từ ghi sổ số 4 (Biểu số 2.6, PPL,T10), số 5 (Biểu số 2.7, PPL,T11). + Sổ cái TK 511(Biểu số 2.8, PPL,T12). + Sổ cái TK 632 (Biểu số 2.9, PPL,T13). Trong đó chứng từ ghi sổ được kế toán Công ty ghi một lần vào cuối quý. Căn cứ vào chứng từ ghi sổ, kế toán thu thập và ghi vào sổ cái các TK liên quan. Kế toán thuế phải nộp Nhà nước: Khi có nghiệp vụ bán hàng, kế toán phải thanh toán các khoản thuế đầu ra với Nhà nước. Hàng hoá của Công ty thường chịu các loại thuế sau: + Thuế GTGT đầu ra của hàng hoá dịch vụ. + Thuế xuất khẩu (Những năm gần đây, Công ty không phát sinh loại thuế này vì Nhà nước khuyến khích xuất khẩu gỗ rừng trồng). - Kế toán thuế GTGT đầu ra: Kế toán sử dụng tài khoản 133 - Thuế GTGT được khấu trừ và TK 333.1 -Thuế GTGT phải nộp để hạch toán. Hàng ngày, khi các nghiệp vụ bán hàng xảy ra, căn cứ vào hoá đơn GTGT xuất cho khách hàng, kế toán ghi sổ chi tiết phần thuế phải nộp cho Nhà nước. Cuối tháng, kế toán lập Bảng kê hoá đơn chứng từ hàng hoá dịch vụ bán ra (Biểu số 2.10, PPL,T14), sổ cái TK 333.1 (Biểu số 2.11, PPL,T15) tính ra số thuế phải nộp Nhà nước trong tháng theo công thức: Thuế GTGT phải nộp trong tháng = Thuế GTGT đầu ra PS trong tháng - Thuế GTGT đầu vào PS trong tháng được khấu trừ Căn cứ vào các bảng kê, kế toán lập 02 tờ khai thuế GTGT (Phụ lục 2.2, PPL,T28). 01 bản gửi cho Cục Thuế tỉnh Yên Bái để kiểm tra, 01 bản lưu Công ty. Sau khi kiểm tra và xác nhận số thuế phải nộp, Cục thuế sẽ gửi cho Công ty thông báo nộp thuế. Căn cứ vào thông báo này Công ty thực hiện nộp thuế cho Nhà nước. Kế toán các khoản phải thu của khách hàng: Kế toán sử dụng TK131 “Phải thu của khách hàng” để hạch toán thanh toán với người mua. TK131 được mở chi tiết cho từng khách hàng thường xuyên của Công ty. Khi xảy ra nghiệp vụ thanh toán, căn cứ vào hoá đơn GTGT, kế toán mở sổ theo dõi chi tiết công nợ đối với khách hàng thường xuyên (Biểu số 2.12, PPL,T16). Đến cuối kỳ quyết toán, căn cứ vào sổ chi tiết, kế toán vào sổ cái TK131 (Biểu số 2.13, PPL,T17). Sổ cái chỉ phản ánh số tổng cộng. Giữa sổ chi tiết công nợ và sổ cái TK131 có quan hệ đối chiếu. Kế toán chi phí bán hàng: Kế toán sử dụng TK641 “Chi phí bán hàng”. Chi phí này được Công ty tập hợp riêng cho từng loại hàng hoá, sản phẩm trên sổ chi tiết TK641 (Biểu số 2.14, PPL,T18). Cuối kỳ, TK641 được phản ánh vào chứng từ ghi sổ 8 (Biểu số 2.15, PPL,T19) và sổ cái TK641 (Biểu số 2.16, PPL,T20). Số chi phí bán hàng phát sinh được kết chuyển sang TK911. Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp: Kế toán sử dụng TK642 “Chi phí quản lý doanh nghiệp”. Khi phát sinh CPQL doanh nghiệp, căn cứ vào hoá đơn, chứng từ, kế toán ghi vào sổ chi tiết TK 642 (Biểu số 2.17, PPL,T21). Sau đó, căn cứ vào sổ chi tiết cuối quý, kế toán phản ánh vào chứng từ ghi sổ số 09 (Biểu số 2.18, PPL,T22) và sổ cái TK 642 (Biểu số 2.19, PPL,T23). Cuối quý, toàn bộ chi phí này được kết chuyển sang TK911 để xác định kết quả. Kế toán kết quả bán hàng: Công ty xác định kết quả bán hàng( XĐKQBH ) vào cuối mỗi quý. Kế toán sử dụng chứng từ ghi sổ số 10 (Biểu số 2.20, PPL,T24) và sổ cái TK911 (Biểu số 2.21, PPL,T25) để XĐKQBH. Công ty không xác định riêng kết quả tiêu thụ của từng loại sản phẩm mà chỉ xác định kết quả của từng khâu sản xuất. Trình tự thực hiện như sau: + Kết chuyển số liệu ở sổ cái TK 511 sang sổ cái TK 911 (bên Có ) + Kết chuyển số liệu ở sổ cái TK 632 sang sổ cái TK 911 (bên Nợ ) + Kết chuyển số liệu ở sổ cái TK 641 sang sổ cái TK 911 (bên Nợ ) + Kết chuyển số liệu ở sổ cái TK 642 sang sổ cái TK 911 (bên Nợ ) + Kết chuyển số liệu ở sổ cái TK 911 sang sổ cái TK 421 (Biểu số 2.22, PPL,T26) 2.5. Kế toán tập hợp chi phi sản xuất và tính giá thành sản phẩm. * Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một kỳ nhất định. ở đây, Công ty tiến hành phân loại chi phí sản xuất thành 3 khoản mục chi phí như sau: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp + Chi phí nhân công trực tiếp + Chi phí sản xuất chung * Giá thành sản phẩm: là chi phí sản xuất tính cho khối lượng hoặc một đơn vị sản phảm do doanh nghiệp sản xuất ra đã hoàn thành nhập kho. Giá thành sản xuất là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh quá trình sử dụng vật tư, lao động tiền vốn trong quá trình sản xuất cũng như sự hợp lý trong việc tổ chức quản lý sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản xuất, tiết kiệm chi phi hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. * Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất: do đặc điểm của Công ty có thể sản xuất ra các loại sản phẩm có cùng chất lượng và mẫu mã như nhau, chỉ khác nhau về định mức vật liệu để tạo ra các loại sản phẩm khác nhau đó. Do vậy, Công ty xác định đối tượng là toàn bộ qui trình công nghệ của Công ty. Sau khi tập hợp chi phí sản xuất toàn Công ty sẽ tiến hành phan bổ cho các sản phẩm theo một tiêu thức nhất định. * Đối tượng tính giá thành sản phẩm Công ty tổ chức sản xuất theo quy trình công nghệ khép kín về mặt không gian, liên tục về mặt thời gian, chu kì sản xuất sản phẩm ngắn, sản phẩm sản xuất ra liên tục từ khi đưa nguyên liệu vào cho đến khi sản phẩm hoàn thành nhập kho. Do vậy, Công ty chọn đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm hoàn thành. * Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của bộ tài chính ban hành và công bố gồm 2 phương pháp để hạch toán, theo dõi và tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp là: + Phương pháp kê khai thường xuyên + Phương pháp kiểm kê định kỳ ở đây Công ty áp dụng theo phương pháp kê khai thường xuyên. Theo phương pháp này thì mọi nghiệp vụ nhập, xuất các loại vật liệu và sản phẩm đều phải lập chứng từ đầy đủ và phản ánh vào các loại sổ sách có liên quan, từ đó bất cứ lúc nào cũng xác định được giá nhập, xuất và tồn để phục vụ cho yêu cầu quản lý tài sản. Công ty áp dụng phương pháp tính giá thành giản đơn trực tiếp. Do cuối kỳ không có SPDD nên tổng giá thành chỉ bao gồm chi phí sản xuất trong kỳ. Công thức tính giá thành: Z = Ctk trong đó: Z: Là tổng giá thành Ctk: Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ Giá thành đơn vị của = Chi phí sản xuất phân bổ cho từng loại sản phẩm từng loại sản phẩm Sản lượng nhập kho Tài khoản sử dụng: TK 154 “ Chi phí sản xuất KDDD” - Tập hợp chi phí sản xuất: Nợ TK: 154 Có TK: 621, 622, 627 - Tính giá thành sản phẩm: Nợ TK: 155 Có TK: 154 Phần 3: Một số nhận xét, đề xuất nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán tại công ty cổ phần kinh doanh chế biến lâm sản xuất khẩu yên bái 3.1.ưu điểm. * Về công tác kế toán. Cùng với sự lớn mạnh của Công ty, bộ phận kế toán đã không ngừng trưởng thành về mọi mặt, thực sự trở thành công cụ đắc lực giúp Ban Giám đốc ra được các quyết định quan trọng, kịp thời và chính xác. Nhận thức được vai trò của công tác kế toán, Công ty đã xây dựng một bộ máy kế toán tương đối hoàn chỉnh, gọn nhẹ, đảm bảo thực hiện đúng quy định của Bộ Tài chính. Với đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn vững vàng, được phân công nhiệm vụ rõ ràng theo từng phần hành kế toán phù hợp với năng lực của mỗi người, công tác kế toán của Công ty được chuyên môn hoá cao, đơn giản, chính xác, gọn nhẹ hơn. * Về công tác kế toán bán hàng (KTBH) và xác định kết quả bán hàng (XĐKQBH). Phần hành KTBH và XĐKQBH đã thực hiện tốt chức năng của mình bằng cách phản ánh, ghi chép đầy đủ tình hình doanh thu bán hàng, quá trình thanh toán tiền hàng với khách hàng và Nhà nước theo số tổng hợp, sổ chi tiết. Điều này đã đáp ứng được phần nào yêu cầu cung cấp thông tin của Ban Giám đốc. Quá trình KTBH và XĐKQBH đã được Công ty thực hiện đúng nguyên tắc của chế độ kế toán hiện hành, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của Công ty và khả năng, trình độ của đội ngũ kế toán viên. Công ty luôn chấp hành đúng, đủ các chính sách tài chính cũng như quyền và nghĩa vụ của một doanh nghiệp đối với Nhà nước, cơ quan cấp trên, đơn vị chủ quản. 3.2. Tồn tại, hạn chế. * Về công tác kế toán: Công ty chú trọng đến công tác kế toán tài chính mà không quan tâm tới công tác kế toán quản trị, trong khi đó, thông tin kế toán tài chính cung cấp chỉ là các tư liệu phản ánh các nghiệp vụ kế toán phát sinh trong kỳ đã qua, có tính lịch sử nhưng không có tính chất định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập cáo biểu, giải trình, thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính của kế toán quản trị nên công tác lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi thực hiện kế hoạch trong nội bộ Công ty chưa đảm bảo; việc sử dụng và quản lý tài sản chưa hiệu quả, chặt chẽ. Do vậy, Công ty nên chú trọng phát triển kế toán quản trị đi đôi với kế toán tài chính để công tác quản lý và sử dụng tài sản của Công ty được tốt hơn. * Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng. - Việc nghiên cứu nhu cầu thị trường chưa được quan tâm đúng mức. Công ty chỉ thực hiện thăm dò thị trường qua các đợt đi thanh quyết toán công nợ với khách hàng. Mặt khác, cán bộ thị trường của Công ty chưa phát huy hết năng lực của mình để đáp ứng yêu cầu kinh doanh trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế. - Phương thức bán hàng còn nhiều bất cập, thụ động và chưa chú trọng đến các khâu quảng cáo, chiết khấu, giảm giá bán ... Để đẩy mạnh bán hàng. - Công tác kiểm tra, đối chiếu chứng từ và luân chuyển chứng từ giữa thủ kho và kế toán chưa được tiến hành thường xuyên. - Chứng từ ghi sổ là sổ tổng hợp quan trọng nhất dùng để ghi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hàng ngày theo trình tự thời gian nhưng Công ty lại sử dụng chứng từ này để ghi vào cuối kỳ kế toán như vậy là không đúng với trình tự ghi sổ kế toán theo qui định của Bộ Tài chính. Mặt khác, chứng từ ghi sổ chưa được tách riêng từng tài khoản; sổ cái và chứng từ ghi sổ đều được ghi vào cuối quí và sổ cái chỉ ghi một lần với số tổng cộng nên rất khó khăn cho việc đối chiếu, kiểm tra. 3.3. Một số đề xuất, kiến nghị. *. Về việc lập sổ đăng ký chứng ghi sổ Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ là loại sổ tổng hợp để tập hợp các chứng từ ghi sổ trong tháng,quý , năm sau khi các chứng từ ghi sổ đã được lập. .Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ là cơ sở để đối chiếu với sổ cái và qua sổ đăng ký chứng từ ghi sổ ta biết được số phát sinh của một chứng từ ghi sổ nào đó .Do vậy để quản lý chứng từ ghi sổ một cách chặt chẽ, cụ thể, phòng kế toán nên lập sổ đăng ký chứng từ ghi sổ . Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ phải được lập theo đúng chế độ kế toán hiện hành . *. Về việc kế toán khoản phải thu của khách hàng Trong quá trình bán hàng Công ty có nhiều quan hệ với khách hàng, trong đó có khách hàng thanh toán ngay, có khách hàng mua hàng với hình thức thanh toán trả chậm. Do vậy điều kiện này đặt ra cho kế toán Công ty một trách nhiệm nặng nề là phải thường xuyên kiểm tra một lượng tiền của mình đang ở trong tay khách hàng . Trong thời gian qua việc theo dõi của kế toán công ty chưa được quan tâm đúng mực. Phòng kế toán chỉ theo dõi công nợ với khách hàng mà chưa theo dõi được thời gian mà khách hàng phải thanh toán công nợ với Công ty là bao lâu và phải trả từng đợt như thế nào. Theo em Công ty nên có những biện pháp khuyến khích khách hàng thanh toán ngay như chiết khấu thanh toán với khách hàng thường xuyên thực hiện tốt khâu thanh toán tiền hàng .Còn đối với khách hàng vi phạm hợp đồng không chịu thanh toán cho Công ty thì Công ty có thể áp dụng một số biện pháp như tính lãi tiền nợ theo lãi xuất của ngân hàng ... *. Về việc áp dụng hệ thống máy tính và chương trình kế toán máy vào công tác hạch toán kế toán. - Về hệ thống máy tính : H

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc10431.doc
Tài liệu liên quan