Báo cáo Tìm hiểu tình hình sản xuất lương thực của nông dân tại xã Hòa Sơn huyện Krông Bông tỉnh Đăk lăk

Trong những năm qua mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng xã Hòa Sơn biết vận dụng những lợi thế sẵn có của xã đã đưa tốc độ phát triển kinh tế liên tục được gia tăng, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh chính trị được giữ vững. Bên cạnh đó được sự chỉ đạo của các cấp và sự nỗ lực của nhân dân địa phương, cán bộ và nhân dân trong xã đã thu được một số kết quả trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội như sau:

Ngành nông nghiệp: Với diện tích đất canh tác là 2.179,02 ha, ngành nghề chủ yếu của bà con trong xã là sản xuất nông nghiệp trồng cây nông sản như, lúa nước, ngô, cà phê, tiêu, điều Trồng trọt vẫn là ngành chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của xã. Đặc biệt là trong mấy năm nay do dịch bệnh và kèm theo đó là giá thịt hơi của gia súc gia cầm giảm (cho đến cuối năm 2006 giá thịt lợn hơi và thịt gà mới tăng trở lại) nên giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đã giảm một cách đáng kể. Trồng trọt cho đến nay vẫn là ngành sản xuất chính trong nền kinh tế của xã, trong ba năm diện tích gieo trồng có tăng 134ha với tốc độ tăng không đáng kể.

Cây hàng năm: Có thể nói nhóm cây này là thế mạnh của địa phương, luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng diện tích gieo trồng (>60%).

 

doc30 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 06/12/2013 | Lượt xem: 1764 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo Tìm hiểu tình hình sản xuất lương thực của nông dân tại xã Hòa Sơn huyện Krông Bông tỉnh Đăk lăk, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ứ cấp bao gồm: - Các báo cáo tổng quan về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội - Báo cáo về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội - Báo cáo về tình hình sử dụng đất đai - Các tài liệu khác có liên quan Được thu thập từ UBND xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh ĐakLak. Thu thập số liệu sơ cấp: + Phỏng vấn trực tiếp nông hộ. + Từ số liệu năm băt tổng hợp: là gì cần nói cụ thể hơn Phương pháp điều tra chọn mẫu Quá trình điều tra và thu thập số liệu được tiến hành trong 4 thôn, buôn trên tổng số 15 thôn, buôn tại xã. Những thôn được điều tra là: thôn 1, 8, 10 và buôn Ja. Đây là những thôn tiêu biểu đại diện cho toàn xã, trong đó có 2 thôn phát triển nhất là thôn 1 và 8, thôn 10 được xếp là thôn trung bình của xã, buôn Ja là buôn châm phát triển nhất (theo tổng hợp kết quả điều tra hộ nghèo chính thức của xã Hòa sơn năm 2010, theo chuẩn nghèo 2011-2015). Phương pháp chọn hộ điều tra: Theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên, chọn đại diện 100 hộ (lấy 15% xem lại, em và nhóm điều tra bao nhiêu hộ, mâu thuẫn với số liệu phân tich ở dưới trang 15 trở đi: trong tổng số hộ của 4 thôn) hộ nào cũng có thể được điều tra. Mỗi thôn chọn ra 25 hộ, việc lựa chọn hộ điều tra bằng cách đi điều tra từng hộ trong thôn, hộ nào có người ở nhà thì tiến hành điều tra hộ đó. Đây là hình thức thu thập số liệu 1 cách ngẫu nhiên các hộ trong thôn có xác suất chọn mẫu như nhau. Chỉ tiêu phân loại hộ Thủ tướng vừa ký quyết định ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011-2015. Theo đó, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6 triệu đồng/người/năm) trở xuống. Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 - 520.000 đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 - 650.000 đồng/người/tháng. Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2011. Dựa vào tình hình cụ thể của các hộ trong xã để phân loại nhóm hộ như sau: Nhóm hộ nghèo: <401000 VNĐ/người/tháng Nhóm hộ trung bình: Từ 401000 đến 520000 VNĐ/người/tháng Nhóm hộ khá và giàu: >520000 VNĐ/người/tháng Số mẫu được chọn là 120 hộ thuộc xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh ĐăkLăk. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu - Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel. - Phương pháp thống kê mô tả. Phương pháp phân tích - Từ số liệu thu thập được nhận xét, đánh giá tình hình. - So sánh các kết quả đó. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu - Thu nhập bình quân /hộ = Tổng thu nhập của các hộ/ Tổng số hộ - Bình quân lao động /hộ = Tổng số lao động của các hộ/ Tổng các hộ - Tổng diện tích bình quân/hộ = Tổng diện tích của các hộ/ Tông số hộ - Năng suất (tấn/ha)= Tổng sản lượng/ Tổng diện tích PHẦN THỨ BA ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc Điểm Địa Bàn Nghiên Cứu Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Xã Hòa Sơn nằm trên tỉnh lộ 12 và thuộc Huyện Krông Bông cách trung tâm Huyện Krông Bông khoảng 4 km về phía Đông. - Phía Đông: giáp thị trấn Krông Kmar. - Phía Tây: giáp xã Ea Trul. - Phía Nam: giáp dãy núi Cư Yang Sin - Phía Bắc: giáp xã Khuê Ngọc Điền, Xã Hòa Tân. Tổng diện tích toàn xã là 5.369 ha (số liệu kiểm kê ĐĐ 2010). Điều kiện khí hậu Xã Hòa Sơn có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do sự nâng lên của địa hình ở độ cao trung bình từ 245 - 260 mét (so với mặt nước biển) nên có đặc điểm rất đặc trưng của chế khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Về đặc điểm khí hậu thuỷ văn khu vực này có một số khác biệt so với khu vực khác như sau: *Nhiệt độ: - Nhiệt độ trung bình trong năm 25,70 C - Nhiệt độ cao nhất trung bình năm 28,70 C - Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm 22,30 C - Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 38,50 C - Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 12,60 C *Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối ở xã Hòa Sơn nói riêng, vùng cao nguyên nói chung bình quân năm khoảng 81%. Độ ẩm tương đối trung bình có giá trị số lớn nhất vào tháng 9 khoảng ( 92%) và thấp nhất vào các tháng 2, 3, 4 khoảng (70% - 79%) biến trình ẩm của không khí phù hợp với biến trình mưa ở đây và ngược lại với biến trình của nhiệt độ trung bình năm độ ẩm thấp nhất 25% tháng mùa khô và dưới 41% trong các tháng mùa mưa... Địa hình Xã có địa hình bị chia cắt thành 2 vùng tương đối rõ rệt, phía Nam là vùng núi cao, phía Bắc là vùng trũng tương đối thấp, độ cao trung bình 650-690m. Đất đai khá bằng phẳng ở khu vực trung tâm, Phía đông nam của Xã là dãy núi Chư Yang Sin chiếm 51,54 % diện tích tự nhiên. Khu vực có địa hình thấp hơi có lượn sóng, phân bổ ở phía tây bắc. Độ cao trung bình 450 - 470m, chiếm 48,46 %diện tích tự nhiên. Nhìn chung, địa hình thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp. Rất thích hợp cho các loại cây Lúa và công nghiệp dài ngày phát triển: cây điều, cà phê .v.v... Các nguồn tài nguyên Nguồn nước, thuỷ văn Hệ thống sông suối, chảy trên địa bàn xã phân bố tương đối đồng đều, mật độ sông suối là 0,35-055km/m². Có sông chính(sông Krông Ana) là ranh giới tự nhiên phía Bắc giữa Hòa Sơn và xã Hòa Tân, chảy theo hướng Đông Nam-Tây Bắc. Lưu lượng nước của các suối đều chịu ảnh hưởng theo mùa. - Mùa mưa: 450 - 500 m³/s, nước lớn, dâng nhanh, dòng chảy mạnh. - Mùa khô: 2,7 m³/s, lưu lượng rút nhanh, lượng nước giảm đáng kể, một số các suối nhỏ hầu như cạn kiệt nước. Tài nguyên đất Trên địa bàn xã có những nhóm đất chính với diện tích và tỷ lệ từng loại đất như sau: * Nhóm đất phù sa: Diện tích 1.465 ha, chiếm tỷ lệ 27,29% diện tích tự nhiên toàn xã, phân bổ tập trung ở khu vực thung lũng ven sông thuộc phía Bắc của xã. Đất được bồi đắp hàng năm do bị ngập lụt nên khá phì nhiêu. Hiện nay đất phù sa đang được sử dụng vào trồng lúa 2 vụ và hoa màu ,cây công nghiệp ngắn ngày. * Nhóm đất xám rẫy: Diện tích 1.215,5 ha, chiếm tỷ lệ 22,56%. Phân bố ở khu vực phía Đông Bắc của Xã. Hiên nay đang được khai thác để trồng cà phê, tiêu, điều, sắn.... * Nhóm Đất đỏ vàng trên đấ phiến sét: chiếm 14,17%, phân bố ở khu vực phía tây của xã. * Nhóm đất vàng nhạt trên đá granit (Fa,Ha) chiếm 18,52%; phân bổ tập trung ở khu vực nữa xã, phía Đông. Đất có tầng dày <30cm, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét, khả năng giữ ẩm kém, có đá lẫn. * Nhóm đất khác: Bao gồm các loại đất lầy thụt và đất dốc tụ, phân bổ dưới các khe suối hợp thủy. Loại đất này có độ phì khá cao, giàu mùn, khả năng giữ ẩm rất tốt, tuy nhiên chỉ chiếm tỷ lệ 17,46%. Tài nguyên rừng Về diện tích rừng của xã Hòa Sơn, theo kết quả kiểm kê 01/01/2005: Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng: 2.790ha. Trong đó: - Đất rừng sản xuất: 1.598 ha - Đất rừng đặc dụng: 959 ha - Đất rừng trồng: 233 ha Điều kiện kinh tế - xã hội Tình hình dân số, dân tộc và tôn giáo Theo báo cáo UBND xã Hòa Sơn toàn xã có 15 thôn, buôn với 2.044 hộ với 9.867 khẩu. Trong đó đồng bào dân tộc tại chỗ có 243 hộ với 1.255 khẩu chiếm 12,7% dân số toàn xã. Khi đó, tổng số hộ nghèo tại xã Hòa Sơn: 344 hộ - 1.499 khẩu, chiếm 17.28 %, trong năm đã có 160 hộ nghèo và cận nghèo với sự tín chấp của các đoàn thể, được ngân hàng chính sách cho vay tổng số tiền là 750 triệu đồng, góp phần cải thiện vốn đầu tư sản xuất cho nhân dân. Công tác phúc tra hộ nghèo năm 2010, kết quả tại xã: 625 hộ, 2828 khẩu chiếm tỷ lệ 30.74%, hộ cận nghèo 271 hộ, 1393 khẩu. Với 11 dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn và có 4 tôn giáo chính gồm có: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành và Cao Đài. Theo thống kê mới nhất: tổng số hộ có theo tôn giáo trên địa bàn là 119 hộ chiếm tỷ lệ 5,8% tổng số hộ, và số khẩu tương ứng là 494 khẩu chiếm tỷ lệ 5,0% tổng số khẩu. Bảng 3.1.3.1: Tình hình dân số trên địa bàn xã Stt Thôn, buôn Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Số hộ Số khẩu Số hộ Số khẩu Số hộ Số khẩu 1 Thôn 1 164 794 168 782 178 816 2 Thôn 2 271 1436 121 630 121 622 3 Thôn 3 215 1102 138 711 140 703 4 Thôn 4 133 701 135 709 141 720 5 Thôn 5 75 411 75 386 76 407 6 Thôn 6 146 737 158 711 168 791 7 Thôn 7 169 844 163 821 174 824 8 Thôn 8 185 996 192 857 205 894 9 Thôn 9 121 592 121 613 134 613 10 Thôn 10 260 1235 149 674 161 721 11 Buôn Ja 117 661 124 687 131 725 12 Thôn Thanh Phú Chưa thành lập 134 681 142 732 13 Thôn Tân Sơn Chưa thành lập 40 166 43 181 14 Thôn Quảng Đông Chưa thành lập 109 573 115 550 15 Thôn Hòa Xuân Chưa thành lập 113 565 115 568 Tổng cộng 1856 9.509 1.940 9.566 2044 9867 (Nguồn: Báo cáo UBND xã) Tình hình phân bổ và sử dụng đất trên địa bàn Căn cứ vào kết quả điều tra trên địa bàn xã cũng như kế hoạch sử dụng đất đến 2010, tình hình phân bổ và sử dụng đất như sau: Tổng diện tích đất nông nghiệp là 4.581,69 ha chiếm 85,04% tổng diện tích tự nhiên. Đất phi nông nghiệp là 303,02 ha chiếm 5,62%, đất chưa sử dụng là 503,29 chiếm 9,34%. Bảng 3.1.3.2: Tình hình phân bổ và sử dụng đất trên địa bàn xã Chỉ tiêu Ký hiệu Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Tổng diện tích tự nhiên 5388,00 100 1. Đất nông nghiệp NNP 4581,69 85,04 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 2179,02 40,44 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm CHN 1717,98 31,89 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm CLN 461,04 8,56 1.2 Đất lâm nghiệp LNP 2376,96 44,12 1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản NTS 25,71 0,48 2. Đất phi nông nghiệp PNN 303,02 5,62 2.1 Đất ở OTC 72,67 1,35 2.2 Đất chuyên dùng CDG 185,89 3,45 2.3 Đất sông suối, mặt nước chuyên dùng SMN 30,76 0,57 3. Đất chưa sử dụng CSD 503,29 9,34 (Nguồn: Báo cáo UBND xã năm 2009) Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội Trong những năm qua mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng xã Hòa Sơn biết vận dụng những lợi thế sẵn có của xã đã đưa tốc độ phát triển kinh tế liên tục được gia tăng, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh chính trị được giữ vững. Bên cạnh đó được sự chỉ đạo của các cấp và sự nỗ lực của nhân dân địa phương, cán bộ và nhân dân trong xã đã thu được một số kết quả trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội như sau: Ngành nông nghiệp: Với diện tích đất canh tác là 2.179,02 ha, ngành nghề chủ yếu của bà con trong xã là sản xuất nông nghiệp trồng cây nông sản như, lúa nước, ngô, cà phê, tiêu, điều…Trồng trọt vẫn là ngành chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của xã. Đặc biệt là trong mấy năm nay do dịch bệnh và kèm theo đó là giá thịt hơi của gia súc gia cầm giảm (cho đến cuối năm 2006 giá thịt lợn hơi và thịt gà mới tăng trở lại) nên giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đã giảm một cách đáng kể. Trồng trọt cho đến nay vẫn là ngành sản xuất chính trong nền kinh tế của xã, trong ba năm diện tích gieo trồng có tăng 134ha với tốc độ tăng không đáng kể. Cây hàng năm: Có thể nói nhóm cây này là thế mạnh của địa phương, luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng diện tích gieo trồng (>60%). Cây lúa:Trên địa bàn xã phần diện tích gieo trồng lúa chủ yếu là cây lúa nước, chủ yếu là lúa vụ Mùa còn vụ Đông Xuân là không đáng kể (cả về mặt diện tích và sản lượng) Cây ngô: Là yếu tố cơ bản trong việc tăng sản lượng lương thực hàng năm của xã. Hầu hết diện tích là ngô lai được đầu tư phát triển cả hai vụ hoặc một vụ trồng ngô, một vụ trồng đậu. Nhóm cây có củ (khoai, đậu xanh và rau xanh) trong cơ cấu cây trồng của nhóm cây hàng năm thì tăng lên (2009) tăng 25% đối với khoai, đậu xanh tăng 7,14% và rau xanh là 12,94% còn giảm xuống 20% (2008) với khoai, đậu xanh là giảm xuống 12,5% và rau xanh giảm 10,53%. Còn cây lúa, sắn thì diện tích không thay đổi qua 3 năm. Cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, mía, DT Trồng cỏ): Có tăng lên năm 2008 nhưng đều giảm xuống vào năm 2009. Do đất trồng màu đã bị thu hẹp dần do chuyển mục đích sử dụng đất, và một điều quan trọng nữa là các loại cây trồng này không mang lại hiệu quả kinh tế cao bằng các nhóm cây khác do đất đai ít phù hợp cho việc trồng màu. Cây lâu năm: Nhìn chung cây cà phê có tăng lên trong năm 2008, 2009 khoảng 54%, cây điều giảm diện tích xuống để chuyển đổi mục đích sử dụng năm 2009 giảm 55,59%. Bảng 3.1.3.3: Cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã ĐVT: ha Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 2008/2007 2009/2008 SL % SL % 1. Cây lương thực 1620 1651 1652 31 1.19 1 0.06 Lúa nước đông xuân 228 228 229 0 0.00 1 0.44 Lúa nước vụ mùa 410 419 419 9 2.20 0 0.00 Ngô 490 515 502 25 5.10 -13 -2.52 Khoai lang 90 81 66 -9 -10.0 -15 -18.52 Sắn 402 408 436 6 1.49 28 6.86 2. Cây thực phẩm 184 184 223 0 0.00 39 21.20 Đậu xanh 29 29 29 0 0.00 0 0.00 Đậu các loại 111 111 151 0 0.00 40 36.04 Rau xanh 44 44 43 0 0.00 -1 -2.27 3. Cây CN ngắn ngày 143 150 85 7 4.90 -65 -43.33 Lạc 27 27 27 0 0.00 0 0.00 Mía 60 60 12 0 0.00 -48 -80.00 Cỏ chăn nuôi gia súc 56 63 46 7 12.50 -17 -26.98 4. Cây CN lâu năm 86 141 134 55 63.95 -7 -4.96 Cà phê 23 78 104 55 239.13 26 33.33 Điều 59 59 26 0 0.00 -33 -55.59 Tiêu 4 4 4 0 0.00 0 0.00 (Nguồn: Báo cáo UBND xã) Cơ sở hạ tầng * Hệ thống giao thông: Đường tỉnh lộ 12 đi qua địa bàn xã dài 9 km, được rải nhựa và thuận tiện cho việc đi lại giao thương đi lại với các xã, thuận tiện cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa. Tuy nhiên, phần lớn các tuyến giao thông trong khu dân cư, giao thông nội đồng là đường đất hẹp, gặp khó khăn cho việc đi lại vận chuyển nông sản, hàng hóa nhất là vào mùa mưa. * Hệ thống thủy lợi: Năm 2009 Xã Hòa Sơn đã được nhà nước đầu tư đang thi công bê tông hóa tuyến kênh N1, đã góp phần rất lớn giúp người dân trên địa bàn Xã Hòa Sơn nói riêng và cả Huyện Krông Bông nói chung cung cấp được lượng nước cho đồng ruộng vào mùa khô và thoát nước nhanh chóng khi mùa lũ tràn về. Theo Báo cáo tổng kết UBND Xã Hòa Sơn năm 2008, diện tích được tưới theo kế hoạch năm 2008là 2.166 ha, đến năm 2009 diện tích được tưới 2.170ha. Kết Quả Nghiên Cứu Tình hình dân số. lao động và nhân khẩu ăn theo. Bảng 3.2.1. Tình hình dân số. lao động và nhân khẩu ăn theo. Mẫu điều tra 135 hộ đã nới rong pương pháp điều tra Nhóm hộ Tỉ lệ Số khẩu (người) Tỉ lệ BQ/Hộ Lao động chính (LĐ) BQ lao động chính/Hộ Tỷ lệ phụ thuộc (%) (%) Khá 70.37 427 68.21 4.49 289 3.04 31.83 Cận Nghèo 6.67 43 6.87 5.38 26 3.25 80.95 Nghèo 22.96 156 24.92 4.88 98 3.06 32.09 Nguồn: tổng hợp từ phiếu điều tra Qua bảng số liệu ta thấy: Trong tổng số 135 hộ điều tra thì nhóm hộ khá chiếm 70.73%, hộ cận nghèo chiếm 6.67% và hộ nghèo 22.96%. Tuy tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo tương đối cao phản ánh mức thu nhập của người dân vần còn thấp nên cần tăng nhóm hộ khá lên để mức sống của người dân được nâng lên. Tỏng số nhân khẩu là 626 người, các nhân khẩu cũng làm ảnh hưởng đến chi tiêu của từng hộ. Lao động chính thấp mà nhân khẩu ăn theo lại đông làm mất cân đối thu - chi của hộ gia đình. Cụ thể từng nhóm hộ của thôn như sau: Nhóm hộ khá: Nhân khẩu bình quân trên hộ tương đối cao 4.49 người, lao động chính bình quân trên hộ là 3.04 lao động, tỉ lệ phụ thuộc tương đối thấp chỉ có 31.83% chứng tỏ lao động chính chiếm tỉ lệ lớn 289 người so với nhân khẩu ăn theo. Nhóm hộ cận nghèo: Nhân khẩu bình quân trên hộ là cao nhất 5.38 người, lao động chính bình quân trên hộ là 3.25 lao động, tỉ lệ phụ thuộc rất cao 80,95% cho thấy số nhân khẩu ăn theo rất nhiều chủ yếu là nuôi con đi học. Nhóm hộ nghèo: Nhân khẩu bình quân trên hộ thấp hơn nhiều so với nhóm hộ cận nghèo. Bình quân mỗi một hộ có số nhân khẩu là 4.88 người, lao động hính bình quân của nhóm hộ này là 3.06 người, tỉ lệ phụ thuộc thấp 32.09%. Như vậy, nhóm hộ cân nghèo bình quân cứ một người phải nuôi 1.66 người, hộ nghèo phải nuôi 1.5 người, vì lao động có thu nhập ít trong khi đó phải nuôi nhiều người thì khó khăn trong đời sống sinh hoạt cũng như trong sản xuất. Do đó, trong những lĩnh vực sản xuất lương thực thì cây trồng sẽ bị thiếu các yếu tố đầu tư cư bản dẫn đến năng suất và kết quả không cao. Còn trong lĩnh vực sinh hoạt thì đời sống thiếu thốn, hộ không đủ điều kiện cung cấp nguồn dinh dưỡng cần thiết trong bữa ăn gia đình nhất là các hộ trong buôn. Tình hình sản xuất lương thực Tình hình sử dụng đất trồng cây lương thực. Bảng 3.2.2.1: Tình hình sử dụng đất trồng cây lương thực. Mẫu điều tra 135 hộ Chỉ tiêu Cây Trồng Khá Cận nghèo Nghèo DT (ha) Tỉ lệ % DT (ha) Tỉ lệ % DT (ha) Tỉ lệ % Lúa 28.2 60.71 2.15 48.31 4.91 55.73 Ngô 7.2 15.50 0.9 20.23 1.8 20.43 Sắn 11.05 23.79 1.4 31.46 2.1 23.84 Tổng 46.45 100 4.45 100 8.81 100 Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra Qua bảng 3.2.2.1. cho ta thấy: Việc phân bổ đất trồng để sản xuất lương thực của các nhóm hộ không đồng đều, chủ yếu đất được các hộ dùng trồng lúa là nhiều nhất, đất trồng sắn và ngô chỉ chiếm một lượng nhỏ. Nhóm hộ khá: Sử dụng đất để trồng lúa là nhiều nhất 28.2 ha chiếm 60.71% trong tổng diện tích trồng cây lương thực, đất trồng ngô ít nhất là 7.2 ha chiếm 15.5%, còn đất trồng sắn chỉ 11.05 ha chiếm 23.79%. Nhóm hộ cận nghèo: Có tổng diện tích sản xuất lương thực là 4.45 ha, trong đó đất trồng lúa chiếm 48.31%, đát trồng sắn là 1.4 ha chiếm 31.46%, đất trồng ngô là 0.9 ha chiếm tỉ lệ nhỏ nhất 20.23%. Nhóm hộ nghèo: Có tổng diện tích sản xuất lương thực là 8.81 ha, đất trồng lúa là 4.91 ha chiếm 55.73%, đất trồng ngô và trồng sắn 3.9 ha chiếm 44.27%. Vậy, Ngô là loại cây được các nhóm hộ trồng với diện tích ít nhất khoảng 16.56% tổng diện tích dùng để sản xuất lương thực. Lúa là cây trồng chủ lực nên được trồng nhiều. Hộ nghèo bình quân một hộ chỉ trồng 0.153 ha lúa, còn sắn và ngô thì trồng rất ít nên thu nhập của nhóm hộ này từ sản xuất lương thực không cao, sản xuất chỉ phục vụ cho cuộc sống thậm chí không đủ dẫn đến mức sống ngày càng giảm sút đây là một trong những nguyên nhân của sự nghèo đói. Tình hình năng suất cây lương thực. Năng suất cây trồng chính là hiệu quả đạt được trên một đơn vị diện tích. Năng suất càng cao thì thể hiện canh tác hợp lý, khả năng áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất của người dân,…Để biết được tình hình sử dụng đất đai và năng suất cây lương thực của người dân ở đây ta theo dõi bảng sau: Bảng3.2.2.2. Tình hình năng suất cây lương thực Mẫu điều tra 135 hộ Cây trồng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Sản lượng (tấn) Năng suất BQ(tấn/ha) Hộ Khá Hộ Cận Nghèo Hộ Nghèo Lúa 35.26 59.03 252.651 7.94 6.28 3.52 Ngô 9.9 16.56 42.95 3.93 5.00 4.08 Sắn 14.6 24.41 187.08 15.19 3.32 6.95 Tổng 59.8 100 482.681 Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra Qua nghiên cứu 135 hộ ta thấy cơ cấu sản xuất lương thực của người dân là không trồng cây khoai lang chỉ trồng ba loại cây lúa, ngô, sắn là chính. Năng suất lúa của hộ khá là rất cao 7.94 tấn/ha cao hơn rất nhiều so với các năm trước và mặt bằng chung của toàn xã 6.5 tấn/ha, năng suất lúa của hộ cận nghèo cũng đạt chỉ có năng suất lúa của hộ nghèo là thấp 3.52 tấn/ha chủ yếu là các hộ đồng bào dân tộc êđê, m’nông sản xuất lúa rẫy. Nhìn chung thì năng suất của ngô và sắn còn rất thấp do đất trồng xấu và vốn đầu tư cho ản xuất chưa cao.Đời sống của người dân phụ thuộc nhiều vào thu nhập từ sản xuất lương thực, khi năng suất thấp chỉ đủ bù đắp cho chi phí sản xuất, chưa có dư thừa để tích lũy sản xuất. Mặt khác do điều kiện thời tiết không thuận lợi và sâu bệnh nên ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng. Vì vậy, cần có những chính sách hộ trở vốn để tái sản suất, nhất là các nhóm hộ cận ngèo và hộ nghèo thiếu tư liệu sản suất. Tất cả các bảng thể hiện là tổng số hô điều tra là q 135 hộ nên không cần ghi như thế nhìn khoog khoa học Tình hình thu nhập từ trồng cây lương thực. Sản xuất lương thực là nguồn thu nhập chính của người dân ở đây, việc canh tác hợp lý sẽ nâng cao được năng suất, nâng cao được thu nhập và từ đó đời sống kinh tế hộ được nâng lên. Cây lương thực có nhiều loại và kỹ thuật áp dụng cho từng loại cây khác nhau. Để biết được tình hình thu nhập của các hộ nông dân ta nghiên cứu bảng số liệu tổng hợp sau: Bảng 3.2.2.3. Tình hình thu nhập từ trồng cây lương thực. Mẫu điều tra 135 hộ Đơn vị tính: 1.000 đồng Nhóm hộ Lúa Ngô Sắn Tổng thu Tổng thu/hộ Khá 1463467 142210 8253336 9859013 103779.1 TB 92340 29860 15045 137245 17155.6 Nghèo 105480 35700 36540 177720 5553.8 Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra Qua bảng trên cho ta thấy: Nguồn thu nhập chính của các hộ trồng cây lương thực của các nhóm hộ chủ yếu là cây lúa chiếm 97% tổng thu nhập từ cây lương thực, thu nhập từ ngô và sắn rất nhỏ chỉ chiếm 3%. Điều này cho thấy đất đai ở dây rất thích hợp để trồng lúa, người nông dân ở đây chưa chú trộng đến sản xuất ngô và sắn nên năng suất chưa đạt dẫn đến thu nhập vẫn còn thấp. Bình quân tổng thu nhập từ cây lương thực/hộ là 126,488 triệu đồng. Các hộ khá có thu nhập từ cây lương thực cao hơn hẳn so với các nhóm hộ cận nghèo và nghèo. Vì các hộ này có tiền tích lũy từ các nguồn thu khác nên họ đầu tư vào việc sản suất nên đạt hiểu quả cao hơn nhiều so với các nhóm hộ khác. Nhóm hộ cận nghèo và nhóm hộ nghèo có thu nhập từ cây lương thực rất thấp. Cho thấy đời sống của các nhóm hộ này đang gặp phải khó khăn trong sản xuất, họ không đủ điều kiện, kinh nghiệm và khoa học- kỹ thuật để áp dụng vào trong sản xuất. Phần lớn là người đồng bào dân tộc canh tác trên đất rẫy, chủ yếu phụ thuộc vào ưu đãi từ thiên nhiên, họ ít đầu tư hoặc không có vốn để đầu tư tái sản xuất dẫ đến mức thu nhập thấp. Tình hình chi phí cho sản xuất lương thực. Bảng 3.2.2.4. Tình hình chi phí cho sản xuất lương thực. Mẫu điều tra 135 hộ Nhóm hộ Lúa Ngô Sắn Tổng chi Tổng chi/hộ Khá 453870 38454.5 25640 517964.5 5452.3 Cận Ngèo 44798 2730 1710 49238 6154.8 Nghèo 64639 6796.3 6830 78265.3 2445.8 Đơn vị tính: 1.000 đồng Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra Từ bảng trên ta thấy tổng chi cho sản xuất lương thực/hộ của nhóm hộ cận nghèo là 61,54 triệu đồng, chênh lệch nhiều so với nhóm hộ nghèo 24,45 triệu đồng nhưng thu nhập thấp, nguyên nhân là do các hộ cận nghèo đầu tư nhiều cho sản xuất lương thực nhưng chưa hiệu quả hoặc gặp rủi ro trong sản xuất như thiên tai, dịch bệnh … Nhóm hộ khá họ chi cho sản xuất lương thực không cao lắm, trung bình/hộ là 54,52 triệu đồng đáp ứng yêu cầu của cây trồng nên đạt hiệu quả cao. Nhóm hộ nghèo chi cho sản xuất lương thực ít chỉ bằng 50% so với hộ khá nên không đủ đáp ứng cho yêu cầu của cây trồng nên kết quả sản xuất không cao, dẫn đến thu nhập sẽ giảm. Điều này là do họ không có đủ vốn để đầu tư cho sản xuất. Tình hình vay vốn của các hộ. Vốn là yếu tố quan trọng cho sản xuất các các hộ nông dân, phát triển kinh tế hàng hóa, trong nông nghiệp vốn là yếu quyết định đến hiểu quả sản xuất. Các hộ nông dân ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa thường sản xuất theo phương thức tự cung tự cấp.Trong thực tế ở nông thôn nói chung và ở xã Hòa Sơn nói riêng đang tồn tại một vấn vấn đề là thiếu vốn. Để biết tình hình vay vốn của các hộ ta theo dõi bảng sau: Bảng 3.2.2.5. Tình hình vay vốn của các hộ Mẫu điều tra 135 hộ Đơn vị tính: 1.000 đồng Nhóm Hộ Số hộ được vay (người) Tỷ lệ (%) Tỷ lệ tiếp cận vốn vay (%) Vốn vay BQ/hộ Khá 65 67.71 68.42 14157.89 Cận Nghèo 5 5.21 62.50 7875.00 Nghèo 26 27.08 81.25 7625.00 Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra Qua bảng tình hình vay vốn của các nông hộ ta thấy nhóm hộ khá được tiếp cận với vố vay nhiều nhất so với các nhóm hộ khác. Bình quân một hộ vay được 14,157 triệu đồng. Lượng vay cũng tương đối nhiều chủ yếu là vay ngân hàng nông nghiệp về để lấy vốn tích lũy đầu tư tái sản xuất cũng như chi tiêu cho sinh hoạt… Nhóm hộ cận nghèo và hộ nghèo được vay với số lượng ít hơn do phần lớn họ ưu tiên vay được ngân hàng chính sách và vay ngân hàng nông nghiệp nhưng không được nhiều do các hộ có ít tài sản thế chấp để vay một lượng vốn lớn. Lượng vốn nhỏ nên không đủ để đầu tư cho sản xuất mặt khác còn bù vào tiêu dùng hằng ngày nữa nên hiệu quả sản xuất không cao, việc phát triển kinh tế gặp rất nhiều khó khăn. Hoạt động khuyến nông Chương trình khuyến nông là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết đối với người dân lao động trong sản xuất nông ngiệp nói chung và sản xuất lương thực tại xã nói riêng. Thực tế cho thấy tại xã đã mở nhiều lớp tập huấn về chăn nuôi và trồng trọt cho người dân và nó đã mang lại hiểu quả rất cao trong sản xuất. Tuy vậy vấn còn hiều bất cập và khó khăn xãy ra là người dân chưa nhận rõ được tầm quan trọng của các lớp khuyến nông và bận rộn với công việc mùa vụ nên số lượng tham gia còn ít,mỗi lần tập huấn các thôn buôn phải cử người đại diện đi nên vấn đề truyền lại những kiến thức tiếp thu được cũng rất khó thực hiện. Để hoạt động có hiệu quả phải có những chương trình khuyến nông như sau: Đưa đội ngũ khuyến nông xuống hướng dẫn trực tiếp cho người dân để tập huấn kỹ thuật cho nông dân bằng các hình thức như xây dựng mô hình thử nghiệm các loại giống lúa lai mới trên ruộng đất của nông hộ. Đó cũng là mong muốn của bà con nông dân ở nơi đâ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc1 16.doc
Tài liệu liên quan