Báo cáo Tìm hiểu tình hình thu nhập của nông hộ tại xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh ĐakLak

- Về y tế: Xã có 01 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia tại khu vực trung tâm xã với 01 Bác sỹ, 5 cán bộ y sỹ, hộ lý, điều dưỡng. 15/15 thôn, buôn có cộng tác viên y tế, mạng lưới y tế từ xã xuống thôn buôn được củng cố. Các chương trình y tế quốc gia về phòng chống dịch bệnh được triển khai thực hiện tốt.

Ban dân số KHHGĐ xã có 16 người trong đó có 15 cộng tác viên trên 15 thôn, buôn hoạt động bằng nhiều hình thức tuyên truyền như loa phát thanh, băng rôn khẩu hiệu, tư vấn tại nhà, tư vấn theo nhóm, giới

Thực hiện tốt công tác khám, điều trị, chăm sóc cho nhân dân, đặc biệt công tác khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi. kết quả khám chữa bệnh trong năm, tổng số lần khám tại trạm là 9133 ca, trong đó:

+BHYT có 6017 ca. tổng số tiền 209.521.726 đ.

+Trẻ em dưới 6 tuổi: có 2243 ca tổng số tiền 62.337.026 đ.

+Khám chữa bệnh có thu viện phí: 179 ca, số tiền 7.305.000 đ.

Tổ chức khám chữa bệnh miễn phí khác 694 ca. về khám bằng phương pháp cổ truyền có 540 ca trong đó BHYT 505 ca, viện phí 35 ca.

Ngoài ra trạm còn thực hiện tốt công tác phòng bệnh và các chương trình y tế quốc gia như phòng chống lao, phong, bướu cổ, tiêm chủng mở rộng.v.v.

- Về giáo dục: Năm qua sự nghiệp giáo dục đào tạo của xã được quan tâm về mọi mặt, cơ sở vật chất được đầu tư cơ bản, trường lớp sạch đẹp khang trang đã phần nào đáp ứng nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh. Ðiều này, chứng tỏ xã rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, toàn xã cơ bản đã phổ cập được tiểu học và gần 100% trẻ em đến tuổi đến trường.

 

doc36 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 06/12/2013 | Lượt xem: 1210 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo Tìm hiểu tình hình thu nhập của nông hộ tại xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh ĐakLak, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
diện tích khoảng 97 ha, chiếm 1,87% diện tích tự nhiên,phân bố tập trung ven sông Krông Ana. Đất có tầng dày lớn, hơi chua, thành phần cơ giới từ trung bình đến nhẹ, một phần bị ngập vào mùa mưa, thích hợp cho tròng lúa nước, các cây hàng năm như: Bắp, Đậu đỗ và các cây công nghiệp ngắn ngày như: sắn, Thuốc lá,… Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf), Đất phù sa ngòi suối (Py), *Nhóm đất xám: Phân bố ờ khu vực Đông bắc xã, thành phần cơ giới nh; hàm lượng đạm, lân, kali ở mức từ nghèo đến trung bình, hiện đang được khai thác trồng Mỳ, Điều, Tiêu, Cà phê,… *Nhóm đất đỏ vàng: Bao gồm ba loại đất: Đất đỏ vàng trên đá phiến sét, đất đỏ vàng trên đá Granit và đất mùn vàng trên đá granit. Đất đỏ vàng trên đá phiến (Fs): Phân bố nhiều ở khu vực phía Tây của xã, đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, tầng dày < 30cm. -Đất vàng trên đá granit (Fa, Ha): Phân bố tập trung ở khu vực nữa xã, phía đông. Đất có tầng dày <30vm, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét, khả năng giữ ẩm kém, có đá lẫn. *Nhóm đất khác: Bao gồm các loại đất lầy thụt và đất dốc tụ, phân bố dưới các khe suối hợp thủy. Loại đất này có độ phì khá cao, giùa mùn, khả năng giữ ẩm rất tốt, tuy nhiên chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ. b.Tài nguyên nước: *Nước mặt: Hòa Sơn là một trong những xã có (mật độ 0,35 -055km/m2). Có sông chính (sông Krông Ana) là ranh giới tự nhiên phía Bắc giữa Hòa Sơn và xã Hòa Tân, chảy theo hướng Đông Nam – Tây Bắc. Ngoài ra còn có mạng lướng suối nhỏ phân bố khá đều khắp trên địa bàn xã. Cùng với lượng mưa khá lớn từ 1.800-2.200mm/năm nên sông suối trên địa bàn xã có tổng lưu lượng dòng chảy năm tương đối lơn, do đó nguồn nước mặt của xã Hòa Sơn khá dồi dào. Tuy nhiên, nguồn nước mặt phân bố không đều trong năm. Mùa mưa chiếm tới 90 -95% tổng lượng mưa năm, dòng chảy lớn, nhất là thời kỳ mưa lũ gây ra tình trạng ngập nước ở khu vực đất thấp. Mùa khô dòng chảy nhỏ, mực nước và cao trình đồng ruộng chênh lệch lớn, nên khả năng khai thác kém nếu không có các công trình thủy lợi. Chất lượng nước mặt khá tốt, nước sối thường có độ khóa hóa nhỏ, pH trung tính, sử dụng tốt cho nông nghiệp. Cùng với đặc điểm địa hình, mạng lưới sông suối của xã thuận lợi cho việc xây dụng một công trình thủy lợi nhỏ. *Nước ngầm: Trên địa bàn xã hiện chưa có tài liệu nghiên cứu, đánh giá chi tiết về nước ngầm, song dựa vào kết quả điều tra của sở công nghiệp ĐăkLăk và kết quả lập bản đồ địa chất thủy văn của Liên đoàn Địa chất Thủy văn – Địa chất Công trình miền Trung cho thấy: Nước ngầm trên địa bàn xã thuộc phía hệ thống chứa nước lỗ hổng các thành tạo bờ rồi đệ tứ (albq): diện phân bố của phức hệ chứa nước không lớn và chủ yếu dọc theo các thung lũng sông suối, như sông Krông Ana. Phức hệ này có khả năng cung cấp nước khá phong phú, độ sâu phân bố 15 đến 20m. c.Tài nguyên rừng: Qua kết quả điều tra từng theo chỉ thị 286/TTg và kết quả tổng kiểm kê đất đai theo chỉ thị 24/TTg thì xã Hòa Sơn có diện tích rừng là 2.328,00 ha, chiếm 43,36% diện tích tự nhiên. Trong đó: -Đất rùng trồng chỉ có 11,00 ha, chiếm 0,47% diện tích rừng, trong đó chỉ có rừng sản xuất với cây trồng chính là bạch đàn trắng. Năm trong vùng có điều kiện khí hậu, đất đai nhiều thuận lợi nên thảm động thực vật ở đây phát triển đa dạng và phong phú với nhiều chủng loại khác nhau: -Thảm thực vật rừng: Thảm thực vật rừng tác động là kho tàng thiên nhiên quý giá và đa dạng với nhiều chủng loại cây rừng có giá trị như thông 2 lá dẹt, hoàng đàn giả, thông nàng, pơmu , cẩm lai, gõ, trắc, kiền kiền,…. Trong đó có những loài cây đặc hữu và quý hiếm ghi trong sách đỏ của Việt nam cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Rừng ở Hòa Sơn chẳng những có nhiều về chủng loại mà còn giàu về sản lượng, trung bình là 14.150m3 gỗ tròn trên 1ha như rừng Cư Yang Sin. Hiện rừng Cư Yang Sin đã được nâng cấp thành vườn Quốc gia để bảo vệ môi trường sinh thái và các loại động thực vật quý hiếm nhằm phục vụ cho nghiên cứu khoa học, du lịch và bảo tồn. -Động vật rừng: Đi đôi với nguồn tài nguyên về thực vật, hệ động vật của rừng ở Hòa Sơn cũng khá phong phú về số lượng và chủng loại, có giá trị kinh tế cũng như nghiên cứu khoa học, nhóm động vật quý hiếm (bò, rừng, hổ, báo, cầy, mực, vượn đen…) nhòm động vật kinh tế (nai, hoãng, lợn rừng, khỉ, vượn…), nhóm động vật cung cấp dược liệu, da lông, làm cảnh (tê tê, rắn, bò sát…)cùng các loại chin, bò sát, ếch nhái… trong đó có rất nhiều loại được nêu trong sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển. d.Tài nguyên khoáng sản: Qua tham dò và đánh giá ở mức sơ bộ cho thấy xã Hòa Sơn không có nguồn tài nguyên khoáng sản nào đáng kể, chỉ có đá, cát xây dựng, nhưng chất lượng không cao, không đồng bộ và trữ lượng cũng không lớn. đ. Thủy văn, nguồn nước Khả năng tập trung nước tương đối nhanh do đặc trưng dòng chảy của hệ thống ở đây cao nhất thường gấp 50 lần, lúc nhỏ nhất lưu lượng dòng chảy trung bình của lưu vực lớn hơn 251/s/km2. Do vậy tình trạng ngập úng cục bộ vẫn thường xuyên diễn ra, gây khó khăn 5 năm sau. 3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 3.1.2.1 Dân số và lao động Theo báo cáo UBND xã Hòa Sơn toàn xã có 15 thôn, buôn với 2.044 hộ với 9.867 khẩu. Trong đó đồng bào dân tộc tại chỗ có 243 hộ với 1.255 khẩu chiếm 12,7% dân số toàn xã. Bảng1. Tình hình dân số trên địa bàn xã Stt Thôn, buôn Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Số hộ Số khẩu Số hộ Số khẩu Số hộ Số khẩu 1 Thôn 1 164 794 168 782 178 816 2 Thôn 2 271 1436 121 630 121 622 3 Thôn 3 215 1102 138 711 140 703 4 Thôn 4 133 701 135 709 141 720 5 Thôn 5 75 411 75 386 76 407 6 Thôn 6 146 737 158 711 168 791 7 Thôn 7 169 844 163 821 174 824 8 Thôn 8 185 996 192 857 205 894 9 Thôn 9 121 592 121 613 134 613 10 Thôn 10 260 1235 149 674 161 721 11 Buôn Ja 117 661 124 687 131 725 12 Thôn Thanh Phú Chưa thành lập 134 681 142 732 13 Thôn Tân Sơn Chưa thành lập 40 166 43 181 14 Thôn Quảng Đông Chưa thành lập 109 573 115 550 15 Thôn Hòa Xuân Chưa thành lập 113 565 115 568 Tổng cộng 1856 9.509 1.940 9.566 2044 9867 (Nguồn: Báo cáoUBND xã) Khi đó, tổng số hộ nghèo tại xã Hòa Sơn: 344 hộ - 1.499 khẩu, chiếm 17.28 %, trong năm đã có 160 hộ nghèo và cận nghèo với sự tín chấp của các đoàn thể, được ngân hàng chính sách cho vay tổng số tiền là 750 triệu đồng, góp phần cải thiện vốn đầu tư sản xuất cho nhân dân. Công tác phúc tra hộ nghèo năm 2010, kết quả tại xã: 625 hộ, 2828 khẩu chiếm tỷ lệ 30.74%, hộ cận nghèo 271 hộ, 1393 khẩu. Với 11 dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn và có 4 tôn giáo chính gồm có: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành và Cao Đài. Theo thống kê mới nhất: tổng số hộ có theo tôn giáo trên địa bàn là 119 hộ chiếm tỷ lệ 5,8% tổng số hộ, và số khẩu tương ứng là 494 khẩu chiếm tỷ lệ 5,0% tổng số khẩu. Bảng 2: Cơ cấu dân cư theo thành phần dân tộc Hòa Sơn Chỉ tiêu Số hộ Nhân khẩu Số khẩu BQ/hộ Tổng Tỷ lệ (%) Tổng Tỷ lệ (%) Tổng 2033 100 9364 100 4,6 Dân tộc kinh 1799 88,4 8223 88 4,5 Dân tộc tại chỗ 123 6,0 695 6,7 5,5 Dân tộc thiểu số khác 111 5,4 516 5,5 4,6 Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Hòa Sơn Bảng 3: Tình hình sử dụng lao động của xã Hoà Sơn Chỉ tiêu Hiện trạng lao động Số lượng Tỷ lệ (%) Tổng lao động 3626 38,7 Số lao động thất nghiệp 422 11,6 Số lao động xuất khẩu 4 0,11 Số lao động đang làm việc tại xã Bông Krang 3200 88,25 Phân phối nguồn lao động theo ngành Lao động nông nghiệp 3112 85,8 Lao động công nghiệp xây dựng 277 7,63 Lao động dịch vụ 237 6,53 Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Hòa Sơn Tình hình sử dụng đất Bảng 4: Kết quả sản xuất nông nghiệp của xã năm 2010 Chỉ tiêu cây trồng Tổng diện tích (ha) N.S (tạ/ha) Sản lượng (tấn) 1 2 3 4 A.Tổng Dt cây trồng 2137 B.Tổng SL lương thực 7393 I.VỤ ĐÔNG XUÂN Tổng DT gieo trồng 315 1908 1.Lúa nước 228 70 1596 2.Cây Ngô 52 60 312 3.Rau xanh 14 14 1.96 4.Lang 14 25 3.5 5.Thuốc lá 7 18 1.26 II.VỤ HÈ THU Tổng DT gieo trồng 1662 5295 1.Lúa nước 342 65 2223 2.Lúa cạn 68 40 272 3.Cây ngô 400 70 2800 4.Cây Mỳ 402 40 1608 5.Cây Lang 62 25 155 6.Đậu xanh 29 7 2.03 7.Đậu các loại 57 7 3.99 8.Đậu phộng 27 30 8.1 9.Rau xanh 21 14 2.94 10.Cây mía 60 70 420 11.Cà phê 57 14 7.98 12.Cây Điều 59 1 5.9 13.Cây tiêu 4 0.9 0.36 14.DT trồng cỏ 56 III.VỤ THU ĐÔNG Tổng DT gieo trồng 160 190 1.Cây Ngô 38 50 190 2.Đậu các loại 54 5 2.7 3.Rau xanh 14 15 2.1 4.Cay lang 54 20 180 IV.VỀ CHĂN NUÔI ĐVT 1.Trâu Con 450 2.Bò Con 4150 3.Lợn Con 8000 4.Dê Con 390 5.Gia cầm Con 48500 Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Hòa Sơn Cần có nhận xét sau mỗi bảng biểu 3.1.2.3 Y tế, giáo dục: - Về y tế: Xã có 01 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia tại khu vực trung tâm xã với 01 Bác sỹ, 5 cán bộ y sỹ, hộ lý, điều dưỡng. 15/15 thôn, buôn có cộng tác viên y tế, mạng lưới y tế từ xã xuống thôn buôn được củng cố. Các chương trình y tế quốc gia về phòng chống dịch bệnh được triển khai thực hiện tốt. Ban dân số KHHGĐ xã có 16 người trong đó có 15 cộng tác viên trên 15 thôn, buôn hoạt động bằng nhiều hình thức tuyên truyền như loa phát thanh, băng rôn khẩu hiệu, tư vấn tại nhà, tư vấn theo nhóm, giới… Thực hiện tốt công tác khám, điều trị, chăm sóc cho nhân dân, đặc biệt công tác khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi. kết quả khám chữa bệnh trong năm, tổng số lần khám tại trạm là 9133 ca, trong đó: +BHYT có 6017 ca. tổng số tiền 209.521.726 đ. +Trẻ em dưới 6 tuổi: có 2243 ca tổng số tiền 62.337.026 đ. +Khám chữa bệnh có thu viện phí: 179 ca, số tiền 7.305.000 đ. Tổ chức khám chữa bệnh miễn phí khác 694 ca. về khám bằng phương pháp cổ truyền có 540 ca trong đó BHYT 505 ca, viện phí 35 ca. Ngoài ra trạm còn thực hiện tốt công tác phòng bệnh và các chương trình y tế quốc gia như phòng chống lao, phong, bướu cổ, tiêm chủng mở rộng..v.v. - Về giáo dục: Năm qua sự nghiệp giáo dục đào tạo của xã được quan tâm về mọi mặt, cơ sở vật chất được đầu tư cơ bản, trường lớp sạch đẹp khang trang đã phần nào đáp ứng nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh. Ðiều này, chứng tỏ xã rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, toàn xã cơ bản đã phổ cập được tiểu học và gần 100% trẻ em đến tuổi đến trường. Toàn xã có 5 trường học với 73 phòng học, trong đó có 02 trường mầm non là trường mầm non Phong Lan và Sơn Ca, 02 trường tiểu học là Sơn Tây và Sơn Đông và 01 trường trung học cơ sở Hòa Sơn. Với tổng số 2375 học sinh, trong đó 341 học sinh mẫu giáo, 1241 học sinh tiểu học và 1153 học sinh cấp II. 3.1.2.4 Cơ sở hạ tầng * Hệ thống giao thông: Đường tỉnh lộ 12 đi qua địa bàn xã dài 9 km, được rải nhựa và thuận tiện cho việc đi lại giao thương đi lại với các xã, thuận tiện cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa. Tuy nhiên, phần lớn các tuyến giao thông trong khu dân cư, giao thông nội đồng là đường đất hẹp, gặp khó khăn cho việc đi lại vận chuyển nông sản, hàng hóa nhất là vào mùa mưa. * Hệ thống thủy lợi: Năm 2009 Xã Hòa Sơn đã được nhà nước đầu tư đang thi công bê tông hóa tuyến kênh N1, đã góp phần rất lớn giúp người dân trên địa bàn Xã Hòa Sơn nói riêng và cả Huyện Krông Bông nói chung cung cấp được lượng nước cho đồng ruộng vào mùa khô và thoát nước nhanh chóng khi mùa lũ tràn về. Theo Báo cáo tổng kết UBND Xã Hòa Sơn năm 2008, diện tích được tưới theo kế hoạch năm 2008 là 2.166 ha, đến năm 2009 diện tích được tưới 2.170ha. 3.1.2.5 Tình hình phát triển kinh tế: đưa bảng biểu thể hiện chỉ tiêu giá trị qua các năm của các ngành qua đó đánh giá được tốc độ tăng trương kinh tế như thế nào rong đó từng kĩnh vực là bao nhiêu Trong những năm qua mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng xã Hòa Sơn biết vận dụng những lợi thế sẵn có của xã đã đưa tốc độ phát triển kinh tế liên tục được gia tăng, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh chính trị được giữ vững. Bên cạnh đó được sự chỉ đạo của các cấp và sự nỗ lực của nhân dân địa phương, cán bộ và nhân dân trong xã đã thu được một số kết quả trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội như sau: Ngành nông nghiệp: Với diện tích đất canh tác là 2.179,02 ha, ngành nghề chủ yếu của bà con trong xã là sản xuất nông nghiệp trồng cây nông sản như, lúa nước, ngô, cà phê, tiêu, điều…Trồng trọt vẫn là ngành chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của xã. Đặc biệt là trong mấy năm nay do dịch bệnh và kèm theo đó là giá thịt hơi của gia súc gia cầm giảm (cho đến cuối năm 2006 giá thịt lợn hơi và thịt gà mới tăng trở lại) nên giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đã giảm một cách đáng kể. Trồng trọt cho đến nay vẫn là ngành sản xuất chính trong nền kinh tế của xã, trong ba năm diện tích gieo trồng có tăng 134ha với tốc độ tăng không đáng kể. Cây hàng năm: Có thể nói nhóm cây này là thế mạnh của địa phương, luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng diện tích gieo trồng (>60%). Cây lúa: Trên địa bàn xã phần diện tích gieo trồng lúa chủ yếu là cây lúa nước, chủ yếu là lúa vụ Mùa còn vụ Đông Xuân là không đáng kể (cả về mặt diện tích và sản lượng) Cây ngô: Là yếu tố cơ bản trong việc tăng sản lượng lương thực hàng năm của xã. Hầu hết diện tích là ngô lai được đầu tư phát triển cả hai vụ hoặc một vụ trồng ngô, một vụ trồng đậu. Nhóm cây có củ (khoai, đậu xanh và rau xanh) trong cơ cấu cây trồng của nhóm cây hàng năm thì tăng lên (2009) tăng 25% đối với khoai, đậu xanh tăng 7,14% và rau xanh là 12,94% còn giảm xuống 20% (2008) với khoai, đậu xanh là giảm xuống 12,5% và rau xanh giảm 10,53%. Còn cây lúa, sắn thì diện tích không thay đổi qua 3 năm. Cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, mía, DT Trồng cỏ): Có tăng lên năm 2008 nhưng đều giảm xuống vào năm 2009. Do đất trồng màu đã bị thu hẹp dần do chuyển mục đích sử dụng đất, và một điều quan trọng nữa là các loại cây trồng này không mang lại hiệu quả kinh tế cao bằng các nhóm cây khác do đất đai ít phù hợp cho việc trồng màu. Cây lâu năm: Nhìn chung cây cà phê có tăng lên trong năm 2008, 2009 khoảng 54%, cây điều giảm diện tích xuống để chuyển đổi mục đích sử dụng năm 2009 giảm 55,59%. Bảng 5: Cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã ĐVT: ha Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 2008/2007 2009/2008 SL % SL % 1. Cây lương thực 1620 1651 1652 31 1.19 1 0.06 Lúa nước đông xuân 228 228 229 0 0.00 1 0.44 Lúa nước vụ mùa 410 419 419 9 2.20 0 0.00 Ngô 490 515 502 25 5.10 -13 -2.52 Khoai lang 90 81 66 -9 -10.0 -15 -18.52 Sắn 402 408 436 6 1.49 28 6.86 2. Cây thực phẩm 184 184 223 0 0.00 39 21.20 Đậu xanh 29 29 29 0 0.00 0 0.00 Đậu các loại 111 111 151 0 0.00 40 36.04 Rau xanh 44 44 43 0 0.00 -1 -2.27 3. Cây CN ngắn ngày 143 150 85 7 4.90 -65 -43.33 Lạc 27 27 27 0 0.00 0 0.00 Mía 60 60 12 0 0.00 -48 -80.00 Cỏ chăn nuôi gia súc 56 63 46 7 12.50 -17 -26.98 4. Cây CN lâu năm 86 141 134 55 63.95 -7 -4.96 Cà phê 23 78 104 55 239.13 26 33.33 Điều 59 59 26 0 0.00 -33 -55.59 Tiêu 4 4 4 0 0.00 0 0.00 (Nguồn: Báo cáo UBND xã) Nhận xét chung: Nhìn chung điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã tương đối thuận lợi để phát triển nhiều loại cây trồng vật nuôi khác, xã nằm trên tỉnh lộ 09 là nơi chuyển tiếp giữa các xã, phường, thị trấn, lân cận rất thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, tạo công ăn việc làm cho dân tộc tại chỗ,luôn giữ gìn bản sắc dân tộc, tuyên truyền vận động giáo dục nhân dân cùng tham gia xây dựng nếp sống văn hóa gia đình văn hóa, bảo vệ bản sắc văn hóa truyền thống của địa phương. 3.2 Kết quả nghiên cứu: 3.2.1 Tình hình chung của xã Hòa Sơn: đã nói ở đặc điểm địa abnf rồi không nên nhắc lại, có chăng nói vấn đề thu nhập trên địa bàn xã thôi Xã Hoà Sơn là xã nằm dọc theo tỉnh lộ 12 ở phía Đông Nam của Huyện Krông Bông cách trung tâm Huyện 5Km về phía Đông Nam, vị trí thuận lợi cho việc giao thông hàng hóa và phát triển kinh tế. Với diện tích tự nhiên là 5.396,00 ha, dân số toàn xã là 2.033 hộ với 9.364 khẩu. Lượng lao động tuy lớn nhưng chủ yếu là tham gia sản xuất nông nghiệp. Ngoài sản xuất nông nghiệp, một số lao động hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp như may mặc, giáo viên, cán bộ khuyến nông… Tại địa bàn xã, các công trình thủy lợi đã được nhà nước đầu đang thi công bê tông hóa tuyến kênh N1, đã góp phần rất lớn giúp người dân trên địa bàn Xã Hòa Sơn. Bảng 6: Tình hình chung của các nhóm nông hộ điều tra Nhóm hộ Số hộ Tỉ lệ (%) Số khẩu (người) Tỉ lệ (%) BQ/Hộ Lao động chính (LĐ) BQ lao động chính/Hộ Tỷ lệ phụ thuộc Khá 95 70.37 427 68.21 4.49 289 3.04 31.83 Cận Nghèo 8 6.67 43 6.87 5.38 26 3.25 80.95 Nghèo 32 22.96 156 24.92 4.88 98 3.06 32.09 (Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra) Từ bảng trên ta thấy: trong tổng số 135 hộ được điều tra, có 95 hộ khá chiếm 70,37% với 427 khẩu, 8 hộ cận nghèo chiếm 6,67% với 43 khẩu và 32 hộ nghèo chiếm 22,96% với 156 khẩu. Số hộ khá chiếm tỷ lệ cao cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của họ có hiệu quả, đảm bảo cuộc sống cho gia đình tốt hơn. Tuy nhiên số hộ nghèo vẫn còn chiếm tỷ lệ cao. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho giáo dục đã được thuận tiện. Hiện nay, toàn xã có 5 trường học với 73 phòng học, trong đó có 02 trường mầm non là trường mầm non Phong Lan và Sơn Ca, 02 trường tiểu học là Sơn Tây và Sơn Đông và 01 trường trung học cơ sở Hòa Sơn. Với tổng số 2375 học sinh, trong đó 341 học sinh mẫu giáo, 1241 học sinh tiểu học và 1153 học sinh cấp II. Về y tế: Xã có 01 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia tại khu vực trung tâm xã với 01 Bác sỹ, 5 cán bộ y sỹ, hộ lý, điều dưỡng. 15/15 thôn, buôn có cộng tác viên y tế, mạng lưới y tế từ xã xuống thôn buôn được củng cố. Các chương trình y tế quốc gia về phòng chống dịch bệnh được triển khai thực hiện tốt. Về kinh tế: Điều kiện của xã phù hợp với việc phát triển sản xuất nông nghiệp đa dạng với nhiều loại cây trồng như: lúa, ngô, cà phê, thuốc lá, đậu... mà đặc biệt là trồng lúa nước. 3.2.2 Tình hình chung của nông hộ: a. Trình độ học vấn của nông hộ: Ngoài những nguồn lực sẵn có như: đất đai, cơ sở vật chất trang bị cho sản xuất... thì trình độ học vấn của lao động là một yếu tố ảnh hưởng nhiều đến thu nhập của nông hộ. Bảng 7: Trình độ lao động của các nông hộ được điều tra Trình độ lao động Số Lượng (người) Tỷ lệ % 1. không biết chữ 49 7.81 2.Chưa đi học 33 5.26 3. biết chữ - cấp 1 163 26.00 - cấp 2 209 33.33 - cấp 3 112 17.86 - trung cấp,CĐ-ĐH 61 9.73 Tổng 627 100 (Nguồn: số liệu điều tra) Từ bảng trên ta thấy, trình độ lao động ở cấp 2 là nhiều nhất trong các nông hộ được điều tra trên. Cụ thể trình độ lao động của số người không biết chữ chiếm 7.81%, số người chưa đi học chiếm 5.26%, số người học cấp 1 chiếm 26%, số người học cấp 2 chiếm 33.33%, số người học cấp 3 chiếm 17.86%, số người học trung cấp, cao đẳng, đại học chiếm 9.73% trong tổng lao động của các nông hộ được điều tra trên. Tại địa bàn điều tra không có hộ nào kinh doanh thương mại hay mở trang trại, nguồn thu nhập của họ chủ yếu là từ các hoạt động phi nông nghiệp như giáo viên, cán bộ khuyến nông, nhân viên văn phòng của các cơ quan Nhà nước... Do vậy các lao động ở nhóm hộ khá thường là những người có trình độ cao hơn ở các nhóm hộ khác. Như vậy có thể nói trình độ lao động có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ nông dân. Hộ hoạt động phi nông nghiệp thường là những hộ khá do có nguồng thu nhập từ các nguồn khác, lao động của nhóm hộ này thường có trình độ cao. Còn hộ nghèo thường là những hộ sản xuất thuần nông, trình độ lao động thấp nên không thể tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp, thu nhập chỉ đơn thuần trông chờ vào cây trồng, vật nuôi... b. Cơ cấu diện tích đất trồng của các nông hộ được điều tra: Bảng 8: Cơ cấu sử dụng đất của xã Hòa Sơn, huyện KrongBong, tỉnh ĐăkLăk: Chỉ tiêu Loại đất Khá Cận nghèo Nghèo BQC Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Đất trồng cây hàng năm 47.2 100 4.6 100 9.01 100 20.27 100 - Lúa 28.2 59.75 2.15 46.74 4.91 54.50 11.75 53.65 - Ngô 7.2 15.25 0.9 19.57 1.8 19.98 3.30 18.27 - Sắn 11.05 23.41 1.4 30.43 2.1 23.31 4.85 25.72 - Đậu 0.75 1.59 0.15 3.26 0.2 2.22 0.37 2.36 Đất trồng cây lâu năm 122.94 100 21.2 100 74.9 100 73.01 100 - Cà phê 33.04 26.87 0.2 0.94 2.5 3.34 11.91 10.38 - Điều 1.7 1.38 0 0.00 0 0.00 0.57 0.46 - Rừng 88.2 71.74 21 99.06 72.3 96.53 60.50 89.11 - Khác 0 0.00 0 0.00 0.1 0.13 0.03 0.04 Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra - Đất đai phần lớn là đất phù sa được bồi đắp hàng năm do những đợt ngập lụt nên khá phì nhiêu, phù hợp cho việc trồng các loại cây hàng năm, đặc biệt là lúa. Từ số liệu điều tra, ta thấy diện tích đất trồng cây hàng năm của tất cả các hộ khá là 47,2 ha, cao hơn rất nhiều so với những hộ cận nghèo (4,6 ha) và hộ nghèo (9,01 ha). Trong đó diện tích đất trồng lúa chiếm tỷ lệ cao, hộ khá chiếm 59,75%, hộ cận nghèo chiếm 46,74%, hộ nghèo chiếm 54,5%, sau lúa là sắn và ngô. Đây là những loại cây trồng mang lại thu nhập chính cho các nông hộ. Bình quân diện tích đất trồng cây hàng năm là 20,27 ha, trong đó diện tích đất trồng lúa là 11,75 ha chiếm 53,65%, diện tích đất trồng ngô là 3,3 ha chiếm 18,27%, trồng sắn là 4,85 ha chiếm 25,72%, trồng đậu các loại là 0,37 ha chiếm 2,36%. - Những năm vừa qua, các nông hộ có xu hướng chuyển dịch từ cây hàng năm sang cây lâu năm, đặc biệt là cà phê, mang lại hiệu quả kinh tế. Diện tích đất trồng cây lâu năm của nhóm hộ khá là 122,94 ha, của nhóm hộ cận nghèo là 21,2 ha, của nhóm hộ nghèo là 74,9 ha. Ngoài việc trồng cà phê để cải thiện cuộc sống, các nhóm hộ còn trồng rừng, nhận rừng để quản lý và bảo vệ, góp phần bảo vệ tài nguyên, phủ xanh đồi trọc. c. Tình hình năng suất sản lượng: Bảng 9: Tình hình năng suất, sản lượng của các loại cây trồng Loại Cây Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Năng suất (tấn/ha) Cây lúa 33.41 241.475 7.23 Cà phê 35.74 52.16 1.46 Ngô 9.9 40.45 4.09 Mì 14.6 149.08 10.21 Đậu 1.1 1.3 1.18 Khác 1.8 2.6 1.44 ( Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra) Nhìn chung năng suất các loại cây trồng ở xã không cao vì đất đai ở đây khồn màu mỡ, chủ yếu là đất cát pha thịt, một phần nhỏ là đất đỏ bazan và đất thịt. Với điều kiện như ở đây có thể trồng nhiều loại cây trồng nhưng không cho năng suất cao. Như đã nói ở trên, ngành nghề chủ yếu ở xã Hòa Sơn là nông nghiệp. Do vậy, năng suất các loại cây trồng không cao sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Để nâng cao được năng suất từng loại cây trồng cần phải đầu tư cơ sở vật chất, chăm sóc đúng kỷ thuật quy định, ứng dụng các loại giống mới phù hợp với điều kiện khí hậu của vùng... Làm được điều này rất khó vì đa số vốn dĩ người dân chủ yếu trồng trọt theo phương thức cũ, hơn nữa nông dân là tầng lớp mang nặng tính bảo thủ, khó làm họ thay đổi suy nghĩ cũng như các quyết định trong cuộc sống. Do vậy, để đạt được điều này công tác khuyến nông lâm của địa phương cần phát triển mạnh mẽ hơn nhằm khuyến khích người nông dân mạnh dạn đổi mới trong phương thức sản xuất để đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn. 3.2.3 Cơ cấu thu nhập: Bảng 10: Thu nhập bình quân/hộ/năm của các nhóm hộ Chỉ tiêu Khá Nghèo Cận nghèo BQC Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Tổng thu từ trồng trọt 12136061 73.41 139345 43.39 284221 62.57 4186542 72.57 Tổng thu từ chăn nuôi 2330900 14.10 156400 48.7 33200 7.31 796500 13.81 Tổng thu từ nguồn khác 2063980 12.49 25400 7.91 136800 30.12 785726.7 13.62 Tổng các khoản thu 16530941 100 321145 100 454221 100 5768769 100 Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra Qua bảng trên ta thấy thu nhập giữa các nhóm hộ có sự chênh lệch rất lớn . Thu nhập của các hộ nghèo là 321145 ngàn đồng, của hộ cận nghèo là 454221 ngàn đồng, hộ khá là 16530941 ngàn đồng gấp 51.47 lần so với hộ nghèo. Chính vì thu nhập của các nhóm hộ chênh lệch lớn như vậy nên thu nhập bình quân/ lao động và thu nhập bình quân/ nhân khẩu của các nhóm hộ cũng rất khác nhau. Thu nhập bình quân/ lao động của nhóm hộ khá là 16530941 ngàn đồng gấp 36.39 lần so với hộ cận nghèo. Do sự chênh lệch lớn nên sự phân hóa giàu nghèo ở đây ngày càng tăng. Cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ cũng có sự khác biệt rõ ràng. Hộ nghèo thường là những hộ thuần nông, thu nhập từ trồng trọt chiếm 43.39%, thu nhập từ chăn nuôi chiếm 48.7% trong tổng thu nhập của họ. Còn các nhóm khác, nguồn thu từ trồng trọt, chăn nuôi cũng là nguồn thu chủ yếu, mang lại thu nhập cao, chiếm gần 70% trong tổng thu nhập của họ. Nhưng ngoài nông nghiệp, thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp cũng góp một phần lớn vào thu nhập. Cụ thể, hộ cận nghèo có thu nhập ngoài nông nghiệp chiếm 30.12% , hộ khá chiếm 12.49% trong tổng thu nhập của họ. Do đó, thu nhập của hộ nghèo phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp. Còn các nhóm hộ khác là những hộ có hoạt động sản xuất phi nông nghiệp như may mặc, làm thuê, cán bộ, công nhân viên… Ngoài nguồn thu từ nông nghiệp, hộ còn có nguồn thu từ các hoạt động đó, các nguồn thu

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc1 14.doc
Tài liệu liên quan