Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm - Lý luận và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU . 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN

CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM not def

1.1. Khái quát về giai đoạn xét xử sơ thẩm.

1.2 Đặc điểm, ý nghĩa, căn cứ việc áp dụng biện pháp ngăn chặn

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. .

1.2.1 Đặc điểm của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai

đoạn xét xử . .

1.2.2 Mục đích- Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm . .

1.2.3. Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

1.3. Những biện pháp ngăn chặn được quy định trong giai đoạn

xét xử sơ thẩm. .

1.3.1. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bắt người no

1.3.2. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giamError! Bookma

1.3.3. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về cấm đi khỏi

nơi cư trú . .

1.3.4. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp

bảo lĩnh . .

1.3.5. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp đặt

tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm .

Kết luận chương 1 . .

pdf25 trang | Chia sẻ: mimhthuy20 | Ngày: 21/09/2020 | Lượt xem: 55 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm - Lý luận và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sựError! Bookmark not defined. 3.2.4. Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ và đảm bảo các điều kiện công tác nhằm thực hiện tốt việc áp dụng các biện pháp ngăn chặnError! Bookmark not defined. 3.2.5. Giải pháp về tăng cường công tác chỉ đạo và kiểm sát, kiểm tra việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự và tuyên truyền giáo dục pháp luật cho quần chúng nhân dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật là điều kiện để bảo đảm việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn.Error! Bookmark not defined. 3.2.6. Giải pháp về việc xử lý các trường hợp vi phạmError! Bookmark not defined. Kết luận chương 3 ......................................... Error! Bookmark not defined. KẾT LUẬN .................................................... Error! Bookmark not defined. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 11 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nội dung BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự BPNC Biện pháp ngăn chặn CP Chính phủ CQĐT Cơ quan điều tra CT Chỉ thị HĐXX Hội đồng xét xử LTTHS Luật tố tụng hình sự NQ Nghị quyết NXB Nhà xuất bản SL Sắc lệnh TANDTC Tòa án nhân dân tối cao TTHS Tố tụng hình sự TW Trung ương UBTVQH Ủy ban thường vụ quốc hội VKS Viện kiểm sát VKSND Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang Bảng 2.1. Số lượng các biện pháp ngăn chặn được áp dụng tại Toà án Hà Nội Error! Bookmark not defined. Bảng 2.2. Số lượng, tỷ lệ các biện pháp ngăn chặn được áp dụng tại Toà án Hà Nội Error! Bookmark not defined. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Các biện pháp ngăn chặn (BPNC) là những chế định vô cùng quan trọng được quy định tại BLTTHS. Việc quy định và áp dụng đúng đắn các BPNC trong thực tế hoạt động tố tụng sẽ tác động rất lớn đến việc giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ của luật tố tụng hình sự (TTHS) là phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời, công minh đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn chặn không cho tội phạm tiếp tục được thực hiện, đồng thời không làm oan người vô tội, bảo đảm được các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân. Trải qua quá trình lịch sử lập pháp từ sau khi giành được chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, những BPNC cũng đã được Nhà nước ta quy định rải rác hoặc xen kẽ trong một số văn bản về hình sự hoặc tố tụng hình sự như các Lệnh, Sắc lệnh, Luật, Sắc luật và các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 cũng đều có quy định về quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, những chế định về BPNC chỉ được quy định chi tiết, cụ thể ở lần pháp điển hóa đầu tiên BLTTHS năm 1988 (được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 1988 và sau đó được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990. 1992 và 2000) tại Chương V. Đến lần pháp điển hóa thứ 2 vào năm 2003, chế định BPNC được quy định tại Chương VI của BLTTHS. Về các BPNC và căn cứ áp dụng các BPNC, Điều 79 BLTTHS năm 2003 cơ bản vẫn giữ nguyên như quy định tại Điều 61 BLTTHS năm 1988, đó là: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền tố 2 tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm [26]. Kế thừa và phát triển, BLTTHS năm 2003 ra đời cũng đã quy định cụ thể, chi tiết hơn về thẩm quyền của những cơ quan THTT và những người THTT trong việc áp dụng, hủy bỏ, thay thế các BPNC. BLTTHS năm 2003 cũng đã quy định về từng BPNC và các căn cứ, thời hạn, thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) và những người THTT trong việc áp dụng, hủy bỏ, thay thế đối với từng BPNC. Mặc dù BLTTHS quy định về 6 BPNC (như đã nêu trên) nhưng không phải cơ quan THTT nào cũng có thẩm quyền như nhau trong việc áp dụng, hủy bỏ, thay thế BPNC, ví như: CQĐT có quyền áp dụng tất cả các BPNC nhưng đối với biện pháp bắt (bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang có lệnh truy nã), tạm giữ, tạm giam thì tùy trường hợp phải được phê chuẩn của VKS (trong một thời hạn cụ thể nhất định). Đối với VKS thì có quyền áp dụng, phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ một số BPNC do CQĐT ban hành. Riêng đối với Tòa án thì chỉ có quyền áp dụng các BPNC sau: bắt (bắt và tạm giam để bảo đảm cho việc xét xử và thi hành án, bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án); tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lĩnh; đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm mà không có quyền áp dụng biện pháp tạm giữ. Mọi quyết định áp dụng, hủy bỏ, thay thế BPNC của Tòa án (của Chánh án, Phó Chánh án; Thẩm phán là Chánh tòa, Phó Chánh tòa phúc thẩm TANDTC; HĐXX; Thẩm phán chủ tọa phiên tòa) đều không cần phê chuẩn của VKS. Có thể nói, BPNC là một đặc thù của tố tụng hình sự. Trong đó biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam là những biện pháp có ý nghĩa rất quan trọng, là 3 vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị - xã hội, nó tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền tự do đi lại, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân. Việc bị áp dụng những biện pháp đó đồng thời ảnh hưởng đến sinh mạng chính trị, danh dự, uy tín của con người và cả dư luận xã hội. Ở mỗi giai đoạn tố tụng hình sự, việc áp dụng BPNC nào là thuộc thẩm quyền của cơ quan THTT ở giai đoạn đó. Thực tiễn xét xử cho thấy, khi hồ sơ vụ án hình sự do VKS chuyển đến, thông thường Tòa án vẫn tiếp tục áp dụng BPNC do cơ quan THTT trước đó áp dụng, ví dụ như trước đó bị can đang bị tạm giam mà tính đến ngày xét xử thời hạn tạm giam đã hết thì Tòa án ra Lệnh tạm giam, nếu trước đó bị can được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú thì Tòa án vẫn tiếp tục áp dụng biện pháp này, rất ít khi Tòa án áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Mặc dù BLTTHS quy định về các BPNC như vậy nhưng thực tế các cơ quan THTT và đặc biệt là Tòa án rất ít khi áp dụng 2 BPNC là bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú thì Tòa án thường áp dụng trong trường hợp trước đó bị can, bị cáo đang được áp dụng biện pháp này hoặc Tòa án hủy bỏ biện pháp tạm giam do cơ quan THTT trước đó áp dụng và thay thế bằng biện pháp này. Về thẩm quyền áp dụng BPNC của Tòa án, các biện pháp bắt và tạm giam (để bảo đảm cho việc xét xử và thi hành án), tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là các biện pháp được áp dụng ở giai đoạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa cũng có thể quyết định bắt giữ đối với người gây rối trật tự tại phiên tòa (nhưng đây là chỉ là biện pháp xử lý hành chính trong tố tụng hình sự) hoặc trong trường hợp người có hành vi hành hung người khác tại phiên tòa đến mức cấu thành tội phạm thì thực hiện việc bắt người phạm pháp quả tang theo quy định của Điều 82 BLTTHS. Riêng đối với biện pháp bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án là do HĐXX quyết định. 4 Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm xây dựng một nền tư pháp lành mạnh, mang bản chất nhân dân, hoạt động thực sự có hiệu quả. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị "về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới"; Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị "về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020" xác định: "Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, đảm bảo sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp" [3]. Và tiếp đó, Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị "về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" cũng đã khẳng định: , xác định tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm; Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [4]. Như vậy, Đảng và Nhà nước đã xác định vai trò, vị trí rất quan trọng của Tòa án trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Và thực tiễn xét xử ở giai đoạn sơ thẩm cũng cho thấy, rất ít khi Tòa án áp dụng biện pháp bắt tạm giam đối với bị can, bị cáo đang được tại ngoại. Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải thực sự cần thiết và tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, nếu không thực sự ảnh hưởng đến việc xét xử và thi hành án thì không cần bắt tạm giam. Trong trường hợp bị cáo bị xử phạt tù thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật sẽ bắt bị cáo chấp hành hình phạt trong trại giam (vì chế độ giam giữ đối với người chấp hành hình phạt tù khác với chế độ tạm giam). Mặt khác, trong quá trình 5 chuẩn bị xét xử đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam, qua nghiên cứu hồ sơ, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam (do bị cáo có thể được hưởng chế định án treo theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự hoặc có thể bị xử phạt không phải là hình phạt tù) thì Tòa án có thể quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam và thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác mà không nhất thiết phải đợi xét xử để trả tự do cho bị cáo (mặc dù thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt nhưng như vậy cũng không có lợi cho bị cáo). Tuy nhiên, đối với 2 BPNC là bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm thì gần như không được các cơ quan THTT áp dụng. Các cơ quan THTT thường "ngại" khi áp dụng 2 biện pháp này, có thể một phần là do chưa có sự hướng dẫn cụ thể, chi tiết từ các cơ quan có thẩm quyền. Đây là 2 BPNC có thể được áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam và có thể nói đây là 2 biện pháp ít nghiêm khắc hơn tạm giam, được áp dụng trong trường hợp không cần thiết phải tạm giam, nhưng thấy cần phải ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của cơ quan THTT. Trong xu thế phát triển chung của thế giới cũng như việc thực hiện tinh thần chỉ đạo của Đảng, Tòa án cần phát huy hơn nữa vai trò và vị trí của mình trong công cuộc cải cách tư pháp, đặc biệt là cần chủ động, mạnh dạn trong việc áp dụng các BPNC không phải là tạm giam, nhất là đối với những tội phạm về kinh tế hoặc liên quan đến vấn đề bồi thường mà bị can, bị cáo đã bồi thường thiệt hại, sửa chữa, khắc phục hậu quả. Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: "Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm - lý luận và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội" làm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học với mong muốn cố gắng nghiên cứu một cách tổng thể về các BPNC do Tòa án áp dụng trong 6 giai đoạn xét xử sơ thẩm được quy định tại BLTTHS hiện hành, từ đó đưa ra những đề xuất nhằm khắc phục những thiếu sót, nhược điểm trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật, góp phần nâng cao hơn nữa tính hiệu quả, tính thực tiễn của vấn đề này để phục vụ tốt hơn nữa cho các hoạt động tư pháp hình sự ở Việt Nam. 2. Tình hình nghiên cứu Các BPNC là những chế định rất quan trọng trong BLTTHS. Về các BPNC được quy định trong BLTTHS năm 1988 và sau này là BLTTHS năm 2003, đã có rất nhiều giáo trình giảng dạy ở bậc đại học, cao đẳng như Trường Đại học Luật Hà Nội, khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, khoa Luật của các học viện như Học viện Cảnh sát, Học viện An ninh, Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội, Học viện Tư pháp đã đề cập, nghiên cứu về các BPNC, không những thế các BPNC còn là đối tượng nghiên cứu của một số tài liệu chuyên khảo hoặc bình luận như: "Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự" (Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp - 1990, 1992); "Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự" (Võ Khánh Vinh- chủ biên, Nxb Công an nhân dân, 2004); "Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự" (Nxb Chính trị quốc gia, 1994) của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; "Những điều cần biết về bắt người, tạm giữ, tạm giam đúng pháp luật" (Nxb Chính trị quốc gia, 1993) của Phạm Thanh Bình - Nguyễn Vạn Nguyên; "Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng" (Nxb Công an nhân dân, 1995) của Nguyễn Vạn Nguyên; các bài viết của các tác giả Nguyễn Vạn Nguyên, Mai Bộ, Phạm Thanh Bình, Nguyễn Văn Điệp, Vũ Gia Lâm, Nguyễn Nông, Vũ Tiến Trí... đăng trên các tạp chí, đặc san chuyên ngành, và các BPNC còn là đối tượng nghiên cứu để hướng dẫn áp dụng pháp luật vào thực tiễn như các thông tư liên ngành, đơn ngành, các chỉ thị, công văn hướng dẫn của các cơ quan Công an, VKS, Tòa án, Bộ Tư pháp, Nghị quyết của Hội đồng 7 thẩm phán TANDTC v.v... Tuy nhiên, các bài viết, sách đó hầu hết chỉ đề cập chủ yếu đến các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc các BPNC nhưng do CQĐT, VKS áp dụng ở giai đoạn trước hoặc sau khi khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can. Cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, đầy đủ, toàn diện về đề tài "BPNC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm-lý luận và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội". 3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là đưa ra các luận giải khoa học và một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao vị trí, vai trò, hiệu quả áp dụng của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với việc áp dụng, hủy bỏ, thay thế các BPNC trong tố tụng hình sự Việt Nam nói chung và nhất là trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Qua đó, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách Tư pháp và hoàn thiện pháp luật của nước ta giai đoạn từ nay đến năm 2020, bảo đảm quyền dân chủ của công dân theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Với mục đích nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về những BPNC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn tập trung vào những vấn đề sau: - Khái quát các vấn đề lý luận cơ bản về các BPNC trong TTHS Việt Nam. Trong đó nghiên cứu sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về các BPNC; nghiên cứu và phân tích pháp luật thực định về các BPNC, từ đó đưa ra các khái niệm về các BPNC nói chung và các khái niệm về từng BPNC nói riêng. 8 - Nghiên cứu thực trạng áp dụng các BPNC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực cho đến hết năm 2012; Tham khảo việc áp dụng BPNC trong pháp luật tố tụng hình sự ở một số nước trên thế giới, tìm hiểu nguyên nhân của những vướng mắc, tồn tại, bất cập giữa các quy định luật và thực tiễn. - Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao tính hiệu quả trong việc áp dụng, hủy bỏ, thay thế BPNC của Tòa án trên địa bàn thành phố Hà Nội.. 3.3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thẩm quyền áp dụng, đối tượng áp dụng, thời hạn áp dụng, thủ tục áp dụng (kể cả hủy bỏ hoặc thay thế) các BPNC của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong đó luận văn tập trung nghiên cứu nhiều hơn về những điểm bất cập, vướng mắc trong việc quy định và áp dụng các BPNC. 3.4. Phạm vi và thời gian nghiên cứu BPNC là những chế định lớn và phức tạp trong luật TTHS, vì vậy trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ khó có thể nghiên cứu và giải quyết hết mọi vấn đề. Vì vậy, luận văn chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu nội dung của các quy định về thẩm quyền, đối tượng, thời hạn, thủ tục áp dụng các BPNC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội với thực trạng áp dụng chúng, nghiên cứu nguyên nhân của những bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng lý luận vào thực tiễn, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định về các BPNC do Tòa án áp dụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các BPNC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội từ khi BLTTHS có hiệu lực đến hết năm 2012. 4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu - Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; 9 - Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học pháp lý cụ thể phù hợp với yêu cầu của từng vấn đề nghiên cứu như: phương pháp phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch sử, tổng hợp, so sánh, thống kê Tư pháp 5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn Điểm mới của luận văn thể hiện ở chỗ: đây là lần đầu tiên, các BPNC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện, kết quả của quá trình nghiên cứu không những tìm ra các nhược điểm trong công tác xây dựng và thực thi pháp luật mà còn đưa ra được những kiến nghị đề xuất nhằm góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật TTHS, góp phần thúc đẩy việc áp dụng các quy định về các BPNC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vào thực tiễn thực thi pháp luật được nghiêm minh, chính xác, áp dụng đúng pháp luật, bảo đảm quyền con người đến mức tối đa trong chế độ dân chủ của chúng ta. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về những vấn đề lý luận và thực tiễn về BPNC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo LTTHS Việt Nam, nó có những đóng góp nhất định về mặt khoa học cho việc nghiên cứu, áp dụng trong thực tiễn (tuy nhiên vẫn còn bị hạn chế vì mới chỉ dừng lại ở cấp độ một Luận văn thạc sĩ), đồng thời góp phần tăng cường sự nhận thức đúng đắn của nhân dân, cán bộ, công chức nhất là những người THTT thuộc cơ quan Tòa án trên địa bàn thành phố Hà Nội về thẩm quyền áp dụng, đối tượng áp dụng, thời hạn áp dụng, thủ tục áp dụng (kể cả hủy bỏ hoặc thay thế) các BPNC của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam; - Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định về việc áp dụng, hủy bỏ, thay thế các BPNC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm nhưng 10 cũng đồng thời bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự do, dân chủ của nhân dân, tôn trọng quyền con người. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 3 chương. Chương 1: Những vấn đề lý luận về BPNC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Chương 2: Thực trạng áp dụng các BPNC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ 01/01/2008 đến hết năm 2012. Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng BPNC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. 11 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Chính trị (2000), Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21 tháng 3 năm 2000, về một số việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, Hà Nội. 2. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp, Hà Nội. 3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005, về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội. 4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005, về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội. 5. Bộ Công an (1999), Chỉ thị 06/1999/CT-BCA (C11) ngày 07-08-1999, về việc chấm dứt ngay tình trạng bắt oan sai, bức cung, dùng nhục hình trong công tác điều tra và xử lý tội phạm, Hà Nội. 6. Bộ Nội vụ (1993), Chỉ thị 15/CT-BNV (C16) ngày 18-9-1993, về một số biện pháp cấp bách nhằm chấn chỉnh công tác bắt, giam giữ, khởi tố, điều tra xử lý tội phạm, Hà Nội. 7. Bộ Nội vụ (1994), Chỉ thị 16/CT-BNV ngày 30-11-1994, Về chấn chỉnh việc chấp hành pháp luật trong công tác bắt, giam giữ và tổ chức thi hành án phạt tù, Hà Nội. 8. Nguyễn Mai Bộ (1997), Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9. Chính phủ (1957), Nghị định số 301-TTg ngày 10-7/1957, về quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân, Hà Nội. 12 10. Chính phủ (1998), Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 17-11-1998, Quy chế về tạm giữ, tạm giam, Hà Nội. 11. Công báo nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1960), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, (ngày 3-8), Hà Nội. 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Hà Nội. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Thông báo số 136/TB-TW ngày 15-01 -1996 của Bộ Chính trị, về cải cách tư pháp, Hà Nội. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 53 CT/TW ngày 24-3-2000 của Bộ Chính trị, Về một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, Hà Nội. 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01- 2002 của Bộ Chính trị, Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội. 16. Phạm Hồng Hải (1995), "Một số nét lịch sử và phát triển của Luật tố tụng hình sự Việt Nam trong 50 năm qua", Nhà nước và pháp luật (3). 17. Hội đồng Bộ trưởng, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân (1981), Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, Nxb Pháp lý, Hà Nội. 18. Liên Hiệp Quốc (1996), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị ngày 16 tháng 12 năm 1996. 19. Luật Gia Long (1994), Hoàng Việt luật lệ, tập IV, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 20. Bình Nguyên (1995), "Từ thực tiễn áp dụng những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam", Kỷ yếu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội. 13 21. Nguyễn Vạn Nguyên (1995), Các biện pháp ngăn chặn và vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 22. Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa (1999), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 23. Đỗ Ngọc Quang (1998), "Một số vấn đề về thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam trong tình hình hiện nay", Thông tin pháp chế, Vụ Pháp chế, Bộ Công an, (1). 24. Quốc Hội (1957), Luật số 103/SL/005 ngày 20-5-1957, Về việc bảo đảm tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, thư tín, đồ vật của nhân dân, Hà Nội. 25. Quốc Hội (1957), Sắc luật 002/SL ngày 18-6-1957 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hà Nội. 26. Quốc Hội (1988), Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003, Hà Nội. 27. Quốc Hội (1992), Luật tổ chức Quốc hội, ngày 15-4-1992, Hà Nội. 28. Quốc hội (1995), Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội. 29. Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội. 30. Quốc hội (2001), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội. 31. Quốc Hội (2003), Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội. 32. Quốc Hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội. 33. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội. 14 34. Quốc Hội (2009), Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Hà Nội. 35. TANDTC-VKSNDTC- BNV-BTP (1989), Thông tư liên ngành số 02 ngày 12-01-1989, Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội. 36. TANDTC-VKSNDTC- BNV-BTP (1995), Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 7-01-1995, Hướng dẫn thi hành một số quy định về truy nã bị can, bị cáo trong giai đoạn truy tố, xét xử, Hà Nội. 37. Trịnh Văn Thanh (2000), Áp dụng biện pháp ngăn chặn trong điều tra vụ án hình sự của lực lượng cảnh sát nhân dân, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội. 38. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2008), Báo cáo số liệu công tác, Hà Nội. 39. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2009), Báo cáo số liệu công tác, Hà Nội. 40. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2010), Báo cáo số liệu công tác, Hà Nội. 41. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2011), Báo cáo số liệu công tác, Hà Nội. 42. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2012), Báo cáo số liệu công tác, Hà Nội. 43. Tòa án nhân dân tối cao (1976), Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, Hà Nội. 44. Tòa án nhân dân tối cao (1990), Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng, Hà Nội. 45. Tòa án nhân dân tối cao (1995), Công vă

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_phan_viet_hung_1552_2010065.pdf
Tài liệu liên quan