Chuyên đề Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Xí nghiệp Dược phẩm 120

Năng suất lao động: Đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất trong doanh nghiệp. Trong ba năm qua, năng suất lao động luôn tăng qua các năm. Cụ thể, năm 2006 năng suất lao động đạt 125,59 triệu đồng/người/năm, năm 2007 tăng lên là 146,83 triệu đồng/người/năm và tăng mạnh vào năm 2008 khi đạt 195,9 triệu đồng/người/năm. Điều đó thể hiện rằng Xí nghiệp đã sử dụng lao động một cách có hiệu quả. Sở dĩ như vậy là năm 2008, Xí nghiệp đã đầu tư, mua sắm các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc sản xuất thuốc theo dây chuyền đạt tiêu chuẩn GMP nên một lượng lao động cắt giảm được chuyển sang các xí nghiệp khác thuộc công ty, chính vì vậy năm 2008 số lao động của Xí nghiệp giảm song năng suất lao động không những không giảm mà còn tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó, với việc đầu tư các trang thiết bị máy móc hiện đại nên trình độ của người lao động được nâng lên thông qua các lần tập huấn do Xí nghiệp và công ty tổ chức. Cụ thể, năm 2008 Xí nghiệp có trên 30% cán bộ công nhân viên đạt trình độ đại học, trong đó có nhiều người là dược sĩ và kỹ sư cao cấp.

doc59 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 26/07/2014 | Lượt xem: 1106 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Xí nghiệp Dược phẩm 120, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường, nâng cao uy tín sản phẩm của doanh nghiệp, tạo dựng niềm tin của khách hàng về sản phẩm. Từ đó tăng doanh thu, đẩy nhanh vòng quay của vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất: Việc sử dụng tiết kiệm các khoản chi phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng ảnh hưởng đến kết quả đạt được. Doanh nghiệp có thể cải tiến quản lý điều hành nhằm sử dụng hợp lý hơn các nguồn lực, giảm tổn thất để tăng cường giá trị đầu ra. Song nếu quá trình sản xuất kinh doanh đã hợp lý thì doanh nghiệp không thể giảm đầu vào mà không làm giảm giá trị đầu ra. Chính vì vậy để có một hiệu quả không ngừng tăng lên thì đòi hỏi doanh nghiệp không những không giảm mà còn phải tăng chất lượng đầu vào. Như vậy để tăng hiệu quả kinh doanh chỉ có con đường duy nhất là không ngừng đầu tư vào công nghệ, nguồn nhân lực, quản lý,… V. Một số nét về ngành Dược Ngành Dược Việt Nam trước đây được xem là ngành có rủi ro cao và hoạt động không hiệu quả. Lý do chủ yếu dẫn đến nhận định trên là do trang thiết bị lạc hậu, nạn vi phạm bản quyền và sao chép công thức sản xuất thuốc một cách tràn lan. Tuy nhiên, trong những năm gần đây ngành Dược đã có những thay đổi mạnh mẽ nhờ vào sự hỗ trợ của Chính phủ và sự năng động sáng tạo của ban lãnh đạo các công ty Dược phẩm. Hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Dược có một vài đặc thù như sau: Về trình độ: Ngành Dược Việt Nam đang được xếp hạng ở mức độ 2,5 trong thang phân loại 4 mức độ xếp hạng thuốc của WHO. Đây là mức độ được đánh giá là có công nghệ dược, đã sản xuất được thuốc generic (thuốc có gốc hoá học giống thuốc phát minh) nhưng đa phần vẫn nhập khẩu. Hiện nay, Chính phủ đã vạch rõ lộ trình cụ thể cho các công ty dược nhằm đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế do WHO đặt ra. Để đáp ứng được những tiêu chuẩn trên đòi hỏi các công ty dược phải có vốn đầu tư lớn và đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao. Các công ty trong nước chưa chú trọng đến việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Hiện tại, các công ty chỉ tập trung phát triển nhiều nhóm sản phẩm tương tự nhau, dẫn đến sản xuất trùng lặp, nhái mẫu mã gần như phổ biến. Theo thống kê của cục Quản lý dược Việt Nam, thuốc không đạt chất lượng năm 2007 chiếm 3,3% tổng số mẫu lấy. Ngoài ra, nạn làm thuốc giả ngày càng tăng cao cũng đã góp phần nâng tỷ lệ thuốc kém chất lượng nêu trên, làm cho doanh nghiệp bị mất uy tín, ảnh hưởng đến thị phần. Về hệ thống phân phối: Hầu hết các công ty dược trong nước chỉ sản xuất được các loại thuốc generic, chưa sản xuất được thuốc đặc trị. Do đó, hệ thống phân phối đóng vai trò rất quan trọng trong ngành. Những công ty nào có thể đưa thuốc đến tận tay người tiêu dùng thì được xem là thành công. Thị trường thuốc Việt Nam chia làm hai mảng: Hệ điều trị và hệ thương mại, chiếm tỷ trọng tương ứng là 37:63. Hệ điều trị là hệ bán trực tiếp cho các bệnh viện thông qua đấu thầu. Hệ thương mại là hệ được bán tại các cửa hàng thuốc, trung tâm phân phối. Ngành Dược và những thách thức: Nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu: 90% nguyên vật liệu sản xuất thuốc đều phải nhập khẩu. Điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lợi của các công ty Dược trong nước do giá bán đang bị kiểm soát bởi Chính phủ. Sự sàng lọc các doanh nghiệp không đủ tiêu chuẩn GMP theo khuyến cáo của WHO: Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BYT ngày 19/4/2007 của Bộ y tế thì từ ngày 1/7/2008, doanh nghiệp sản xuất không đạt GMP sẽ phải ngừng sản xuất. Điều này sẽ dẫn đến sự thanh lọc khắt khe trong thời gian tới vì hiện tại trong cả nước chỉ 75/180 doanh nghiệp đạt GMP. Cạnh tranh với thuốc ngoại nhập à các công ty dược nước ngoài gia tăng: Kể từ ngày 1/1/2009, các công ty dược nước ngoài còn được phép trực tiếp nhập khẩu thuốc, không cần thông qua các công ty trung gian để nhập khẩu uỷ thác và mức thuế trung bình là 2,5%. Điều này dẫn đến giá bán các loại thuốc nhập khẩu sẽ giảm và các công ty trong nước sẽ phải cạnh tranh mạnh mẽ hơn, khốc liệt hơn đối với các loại thuốc nhập khẩu và tất nhiên là có thể đối mặt với nguy cơ bị mất thị phần. VI. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh doanh luôn là mối quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh tế khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thể nói rằng hiệu quả kinh doanh vừa là phương châm hoạt động vừa là hướng đi của toàn bộ hệ thống kinh tế. Xét trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, hiệu quả kinh doanh là mục tiêu tổng quát, lâu dài quyết định sự sống còn của mọi chủ thể kinh tế. Bởi lẽ: Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện để quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần. Không những đối với Xí nghiệp Dược 120 mà đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, muốn tồn tại và phát triển thì phải vươn lên lấy thu nhập bù chi phí để đảm bảo nhu cầu tái sản xuất trong nền kinh tế hiện nay. Để làm được điều đó bắt buộc doanh nghiệp phải biết tận dụng nguồn lực sẵn có cũg như tận dụng những lợi thế của mình để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Điều này động nghĩa với việc doanh nghiiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy cạnh tranh và tiến bộ trong kinh doanh, chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận cạnh tranh. Nâng cao hiệu quả kinh doanh góp phần giải quyết mối quan hệ giữa ba lợi ích: tập thể, Nhà nước và người lao động. Bởi vì, khi nâng cao hiệu quả kinh doanh thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng lên góp phần cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên, kích thích họ làm việc tích cực hơn, đồng thời tăng thêm các khoản phải nộp cho Nhà nước. Nâng cao hiệu quả kinh doanh là một yêu cầu của nguyên tắc hạch toán kinh doanh. Trong thời gian này, với chủ trương cổ phẩn hoá các DNNN trong đó có ngành dược, Xí nghiệp Dược phẩm 120 sẽ tiến hành cổ phần hoá và hạch toán độc lập không còn phụ thuộc vào công ty nữa. Khi đó Xí nghiệp được quyền chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phải tự bù đắp chi phí và có lãi, tự bảo toàn và phát triển vốn trong kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là mục đích kinh doanh của doanh nghiệp, mà muốn kinh doanh có lãi thì doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA XÍ NGHIỆP DƯỢC PHẨM 120 I. Thực trạng sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp Dược phẩm 120 giai đoạn 2006 - 2008. X í nghiệp Dược 120 với nhiệm vụ chính trị trọng tâm và chủ yếu là sản xuất kinh doanh thuốc phục vụ bộ đội và nhân dân, kinh doanh các mặt hàng phục vụ chuyên ngành. Với sự nỗ lực cố gắng của cán bộ công nhân viên, trong 3 năm qua Xí nghiệp đã đạt được giá trị sản xuất như sau: Bảng 1: Giá trị sản xuất các mặt hàng thuốc của Xí nghiệp năm 2006-2008 Nhóm SP Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 triệu đồng % triệu đồng % triệu đồng % Sản phẩm QP 65,94 65,37 57,73 Thuốc viên 6.947,97 60,12 8.256,02 60,15 9.795,05 64,63 Thuốc tiêm 3.281,94 28,40 4.123,85 30,04 4.226,75 27,89 SP khác 1.327,65 11,48 1.346,08 9,81 1.134,55 7,48 Tổng 11.557,56 100 13.725,95 100 15.156,35 100 Sản phẩm KT 34,06 34,63 42,27 Thuốc viên 4.951,52 82,93 5.878,56 80,85 8.876,09 80 SP khác 1.019,05 17,07 1.392,49 19,15 2.219,03 20 Tổng 5.970,57 100 7.271,05 100 11.095,12 100 Tổng cộng 17.528,13 20.997,00 26.251,47 Nguồn: Phòng Kế hoạch - Tài chính Từ bảng số liệu ta thấy Xí nghiệp đã chú trọng đến hàng phục vụ cho Quốc phòng giá trị sản xuất chiếm 65,94% trong tổng giá trị sản xuất năm 2006, 65,37% năm 2007 và 57,73% năm 2008. Ngoài ra nhìn vào bảng số liệu ta có thể dễ dàng thấy được giá trị sản xuất của từng mặt hàng cũng có nhiều biến đổi. Mặt hàng thuốc chủ lực của Xí nghiệp là thuốc viên, khối lượng và giá trị sản xuất của thuốc viên luôn chiếm tỷ trọng cao trong các mặt hàng sản xuất. Bảng 2: Các chỉ tiêu đạt được năm 2006-2008 Chỉ tiêu Đvị Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 - Doanh thu Tr. đ 17.528,13 20.997,00 26.251,47 Trong đó: Từ sx QP Tr. đ 11.557,56 13.725,95 15.156,35 - Lợi nhuận Tr. đ 1.100 1.300 1.700 Trong đó: Từ sx QP Tr. đ 826 969 1.267 - Giá trị tăng thêm Tr. đ 5.134,5 5.653,7 6.183,8 Trong đó: + Thu nhập của LĐ Tr. đ 2.458,1 2.765 2.903,3 +Bảo hiểm đc tính vào giá Tr. đ 575,4 587,7 579,5 +Thuế (trừ VAT) Tr. đ 1,0 1,0 1,0 +Khấu hao TSCĐ Tr. đ 1.000 1.000 1.000 +LN và các khoản khác Tr. đ 1.100 1.300 1.700 - Nộp NSNN Tr. đ 2.086,2 2.259,48 2.401,10 -Tổng số LĐ Người 140 143 134 Trong đó:LĐ hợp đồng Người 40 45 25 Nguồn: Phòng Kế hoạch-Tài chính Xí nghiệp là doanh nghiệp quân đội, sản xuất phục vụ cho quân đội nên doanh thu chủ Xí nghiệp chủ yếu là doanh thu từ sản xuất quốc phòng. Năm 2006 doanh thu từ sản xuất quốc phòng chiếm 65,94% tổng doanh thu, năm 2007 là 65,37% và năm 2008 là 57,73%. Tuy nhiên, những năm gần đây sản xuất quốc phòng lại có xu hướng giảm, thay vào đó tỷ lệ sản xuất hàng kinh tế ngày càng tăng lên, chứng tỏ vai trò của sản phẩm kinh tế ngày càng tăng lên, khả năng tìm kiếm thị trường ngoài quân đội ngày càng phát triển, sự thay đổi cơ cấu này là tất yếu đối với doanh nghiệp trong xu thế hội nhập như hiện nay để có thể đứng vững trên thị trường. Lợi nhuận của Xí nghiệp tăng đều qua từng năm. Năm 2008 Xí nghiệp đạt mức lợi nhuận cao nhất là 26251,47 triệu đồng (gấp 1,5 lần so với năm 2006). Đây là tín hiệu tốt đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào, đặc biệt là Xí nghiệp thuộc doanh nghiệp Nhà nước lại trong nền kinh tế có nhiều biến động, với sự cạnh tranh khốc liệt, gay gắt cũng như sự đào thải luôn tồn tại trong nó. II. Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của Xí nghiệp 120 giai đoạn 2006 - 2008. Bảng 3: Bảng số liệu phân tích hiệu quả kinh doanh: Đơn vị: triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Chênh lệch 07/06 % 08/07 % 1.Doanh thu 17528,13 20997,00 26251,47 3468,87 19,8 5254,47 25,0 2.Giá vốn hàng bán 16235,12 19415,85 24215,10 3180,73 19,6 4799,25 24,7 4.Chi phí bán hàng 88,01 94,68 110,15 6,67 7,6 15,47 16,3 5.Chi phí quản lý DN 101,14 115,36 132,5 14,22 14,1 17,14 14,9 6.Lợi nhuận trc thuế 1100 1300 1700 200 18,2 400 30,8 7.Thuế 308 364 476 8.Lợi nhuận sau thuế 792 936 1224 144 18,2 288 30,8 ( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006-2008, Phòng Kế hoạch-Tài chính) Đánh giá chỉ tiêu kinh doanh tổng hợp. Từ bảng số liệu trên ta đưa ra được bảng chỉ tiêu về đánh giá hiệu quả tổng hợp như sau: Bảng 4: Bảng chỉ tiêu về đánh giá hiệu quả tổng hợp Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Hiệu quả tổng hợp 1,067 1,066 1,062 Doanh lợi doanh thu (ROS) 4,52% 4,46% 4,45% Doanh lợi tài sản (ROA) 7,54% 6% 6,8% Từ bảng số liệu ta thấy, chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp đều đạt giá trị lớn hơn 1, điều đó chứng tỏ là Xí nghiệp làm ăn có lãi. Tuy nhiên chỉ tiêu này lại giảm dần qua các năm từ năm 2006 đến năm 2008. Sở dĩ như vậy là do doanh thu và chi phí luôn biến động qua các năm. Doanh thu năm 2008 đạt giá trị cao nhất là 26251,47 triệu đồng song chi phí cũng tăng tỷ lệ thuận với doanh thu. Nguyên nhân chủ yếu là do tình hình lạm phát chung của cả nền kinh tế dẫn đến giá thành sản xuất ở mức cao. Mức doanh lợi doanh thu đã cao hơn mức trung bình là 2,9% song năm sau thấp hơn năm trước. Doanh thu năm sau có cao hơn năm trước nhưng chi phí mua hàng và các chi phí khác tăng với tốc độ lớn, tình hình đó dẫn đến chỉ tiêu doanh lợi doanh thu thấp qua các năm. Để cải thiện chỉ tiêu này Xí nghiệp cần quan tâm tới các biện pháp hạ thấp chi phí, đồng thời tăng doanh thu trong thời gian tới. Chỉ tiêu doanh lợi tài sản cũng giảm dần, từ 7,54% năm 2006 xuống còn 6% vào năm 2007 và năm 2008 là 6,8%. Chỉ tiêu này còn thấp so với trung bình của ngành là 8,8%. Sở dĩ như vậy là do tổng tài sản của Xí nghiệp là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và Bộ quốc phòng. Đó là thuận lợi của các doanh nghiệp Nhà nước khi không phải đầu tư nhiều vào tài sản cố định, song từ đó cũng thấy được sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nước trong việc sử dụng các tài sản thuộc sở hữu nhà nước, thậm chí còn gây lãng phí. Qua phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp ở trên đã phản ánh khái quát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp Dược phẩm 120 trong ba năm 2006-2008. Xét về mặt định lượng có thể thấy, mặc dù lợi nhuận tăng qua các năm do doanh thu tăng song chi phí cũng tăng dẫn tới hiệu quả kinh doanh là chưa cao. Điều này được thể hiện qua con số ở trên mà nguyên nhân là do tổng chi phí còn ở mức cao, tốc độ tăng chi phí gần bằng tốc độ tăng của doanh thu. Do vậy trong thời gian tới Xí nghiệp cần khắc phục tình trạng này để có thể nâng cao được hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Đánh giá chỉ tiêu sử dụng yếu tố sản xuất. Bảng 5: Bảng số liệu đánh giá nhóm chỉ tiêu sử dụng các yếu tố sản xuất: Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Chênh lệch 07/06 08/07 1.Doanh thu thuần 17528,13 20997,00 26251,47 3468,87 5254,47 2.Tổng chi phí 16428,13 19697 24551,47 3268,87 4854,47 -Giá vốn hàng bán 16235,12 19415,85 24215,10 3180,73 4799,25 - Chí phí bán hàng 88,01 94,68 110,15 6,67 15,47 -Chi phí quản lý 101,14 115,36 132,5 14,22 17,14 3.Vốn kinh doanh 10500 15600 25000 5100 9400 4.Lợi nhuận trước thuế 1100 1300 1700 200 400 5.Tổng số LĐ 140 143 134 3 -9 6.Tổng quỹ lương 2463,20 2765,00 2903,25 301,8 138,25 Nguồn: Phòng Kế hoạch-Tài chính Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động: Bảng 6: bảng chỉ tiêu đánh giá yếu tố sản xuất lao động Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Chênh lệch 07/06 08/07 NSLĐ bình quân 125,59 146,83 195,9 21,24 49,07 Lợi nhuận bq 1LĐ 7,86 9,09 12,69 1,23 3,6 Năng suất lao động: Đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất trong doanh nghiệp. Trong ba năm qua, năng suất lao động luôn tăng qua các năm. Cụ thể, năm 2006 năng suất lao động đạt 125,59 triệu đồng/người/năm, năm 2007 tăng lên là 146,83 triệu đồng/người/năm và tăng mạnh vào năm 2008 khi đạt 195,9 triệu đồng/người/năm. Điều đó thể hiện rằng Xí nghiệp đã sử dụng lao động một cách có hiệu quả. Sở dĩ như vậy là năm 2008, Xí nghiệp đã đầu tư, mua sắm các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc sản xuất thuốc theo dây chuyền đạt tiêu chuẩn GMP nên một lượng lao động cắt giảm được chuyển sang các xí nghiệp khác thuộc công ty, chính vì vậy năm 2008 số lao động của Xí nghiệp giảm song năng suất lao động không những không giảm mà còn tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó, với việc đầu tư các trang thiết bị máy móc hiện đại nên trình độ của người lao động được nâng lên thông qua các lần tập huấn do Xí nghiệp và công ty tổ chức. Cụ thể, năm 2008 Xí nghiệp có trên 30% cán bộ công nhân viên đạt trình độ đại học, trong đó có nhiều người là dược sĩ và kỹ sư cao cấp. Lợi nhuận bình quân 1 lao động: Chỉ tiêu này phản ánh số lợi nhuận mà 1 lao động tạo ra trong năm. Năm 2006 bình quân 1 lao động tạo ra 7,86 triệu đồng lợi nhuận cho Xí nghiệp, năm 2007 là 9,09 triệu/người và năm 2008 là 12,69 triệu/người. Như vậy, lợi nhuận mà một lao động tạo ra cho Xí nghiệp ngày càng tăng lên. Qua việc đánh giá hai chỉ tiêu trên thấy được rằng, trong ba năm qua, tình hình sử dụng lao động của Xí nghiệp có nhiều tích cực và cần được duy trì trong thời gian tới. Muốn vậy, Xí nghiệp cần phải có kế hoạch sử dụng và tuyển dụng lao động có hiệu quả, bố trí lao động vào các vị trí phù hợp với năng lực của từng người, tạo môi trường làm việc sao cho người lao động có thể phát huy tối đa khả năng của mình. Đồng thời có sự phân công và phối kết hợp giữa các cá nhân và các phòng ban trong Xí nghiệp một cách có hiệu quả nhất. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn: Nguồn vốn của Xí nghiệp được hình thành từ 3 nguồn chính đó là: Nguồn vốn do ngân sách Nhà nước cấp. Nguồn vốn do Bộ quốc phòng cấp. Nguồn vốn tự bổ sung lấy từ lợi nhuận để lại của Xí nghiệp. Trong những năm qua, nguồn vốn của Xí nghiệp ngày càng tăng lên tạo điều kiện để Xí nghiệp mở rộng sản xuất. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh: Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn bỏ vào sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Năm 2006, chỉ tiêu này là 0,1 tức là Xí nghiệp bỏ ra 1 đồng vốn thu lại được 0,1 đồng lợi nhuận. Năm 2007 là 0,08 và năm 2008 là 0,068. Điều đó cho thấy trong 3 năm qua Xí nghiệp chưa sử dụng có hiệu quả vốn đưa vào sản xuất kinh doanh. Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực chi phí: Bảng 8: bảng chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực chi phí. Chỉ tiêu 2006 2007 2008 LNTT/Tổng CPhí 6,70% 6,72% 6,9% LNTT/giá vốn hàng bán 6,67% 6,69% 7,02% LNTT/Cphí bán hàng 12,50 13,73 15,43 LNTT/Cphí quản lý DN 10,88 11,27 12,83 Từ bảng số liệu trên cho biết mức sinh lợi của một đơn vị chi phí qua các năm biến động không ổn định. Cụ thể, trong 100 đồng chi phí Xí nghiệp bỏ ra thì năm 2006 thu về được 6,7 đồng lợi nhuận, năm 2007 tăng lên 6,72 đồng lợi nhuận song năm 2008 lại giảm chỉ còn 6,9 đồng. Tuy tỷ lệ tăng giảm không nhiều nhưng điều đó thấy được rằng việc sử dụng nguồn lực chi phí nói chung vẫn còn nhiều bất cập, chưa hiệu quả. Chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí đó là giá vốn hàng bán (chiếm trên 95% tổng chi phí). Năm 2006, cứ 100 đồng giá vốn hàng bán thì Xí nghiệp thu được 6,67 đồng lợi nhuận, năm 2007 thu được 6,69 đồng và năm 2008 là 7,02 đồng. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh ngiệp tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng chi phí nhưng cũng đem lại lợi nhuận cho Xí nghiệp. Như vây, nhìn chung ba năm qua hiệu quả sử dụng nguồn lực chi phí của Xí nghiệp vẫn còn thấp, không ổn đinh, chủ yếu do chi phí sản xuất trực tiếp vẫn còn ở mức cao. Vì vậy trong thời gian tới Xí nghiệp cần có các biện pháp nhằm tối thiểu hoá chi phí để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội. Thu nhập bình quân người lao động: Trong ba năm qua, thu nhập bình quân người lao động luôn có xu hướng tăng lên cụ thể là năm 2006 thu nhập bình quân của người lao động đạt 1,750 triệu đồng, năm 2007 tăng lên đạt 1,920 triệu đồng và năm 2008 là 1,950 triệu đồng. Sở dĩ được như vậy là do trong 3 năm qua, quỹ lương của Xí nghiệp luôn tăng và duy trì số lao động hợp lý. Xí nghiệp luôn tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động, đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng được nâng cao. Nộp ngân sách bình quân: Mức nộp ngân sách của Xí ngiệp cũng luôn tăng qua các năm do lợi nhuận của Xí nghiệp năm sau luôn cao hơn năm trước. Cụ thể, năm 2006 nộp ngân sách đạt 2.086,2 triệu đồng, năm 2007 là 2.259,48 triệu đồng và năm 2008 là 2.401,10 triệu đồng. Như vậy, vượt lên mọi khó khăn trong giai đoạn nền kinh tế có nhiều biến động, Xí nghiệp vẫn từng bước khẳng định mình là một doanh nghiệp quân đội trong ngành dược phẩm nước nhà, tiếp tục phấn đấu tăng trưởng và phát triển. Vế mặt môi trường: Xí nghiệp luôn quan tâm đến việc đảm bảo môi trường sạch sẽ trong quá trình sản xuất. Hiện nay, Xí nghiệp đã có hệ thống cung cấp không khí sạch và việc xử lý nước thải. Hệ thống cung cấp không khí sạch được lắp đặt phía trên của nhà máy, tách biệt với phần sản xuất thuốc. Việc xử lý nước thải của Xí nghiệp cũng được thiết kế và xây dựng theo đúng quy định nghiêm ngặt của tổ chức Y tế Thế giới. Nước thải được xử lý qua nhiều công đoạn, lọc chất thải rắn, lọc nước thải thô, rồi lọc nước thải tinh. Về an ninh quốc phòng: Xí nghiệp thường xuyên chăm lo xây dựng mối quan hệ đoàn kết thống nhất nội bộ và đời sống người lao động, củng cố thường xuyên mối quan hệ gắn bó với nhân dân nơi đóng quân và với các đơn vị bạn. Phối kết hợp tốt với các địa phương đảm bảo an toàn địa bàn đóng quân, không để xảy ra vụ việc nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến con người, tài sản. Trao đổi, giúp đỡ với đảng uỷ chính quyền địa phương nơi đóng quân xây dựng chương trình hoạt động, tổ chức các buổi giao lưu văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao tạo được niềm tin trong nhân dân, góp phần tô thắm thêm nét đẹp truyền thống “Bộ đội cụ Hồ”. III. Đánh giá kết quả kinh doanh của Xí nghiệp Dược phẩm 120. Những kết quả đạt được. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất hàng quốc phòng đáp ứng đầu đủ, kịp thời yêu cầu phụ vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện công tác và các hoạt động đột xuất khác của quân đội. Hoàn thành vượt mức chỉ tiêu sản xuất hàng kinh tế, tăng thu ngân sách, không ngừng nâng cao đời sống người lao động. Thực hiện nghiêm chỉnh chỉ tiêu pháp lệnh của Tổng cục giao và yêu cầu ngày càng cao trong việc chăm sóc sức khoẻ, cứu chữa thương bệnh binh của Ngành Quân y. Công ty đã dành nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm mới. Các sản phẩm của Xí nghiệp như: dịch HDM4 để pha dung dịch chạy thận nhân tạo cung cấp cho bệnh viện Hữu nghị Việt Xô và bệnh viện Quân đội 108, thuốc về gan mật HEPAMARIN… luôn được các đơn vị và bệnh viên tín nhiệm cao. Đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, coi trọng phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật và tích cực đào tạo nguồn lực con người, đặc biệt quan tâm xây dựng mô hình Xí nghiệp theo hướng phát triển bền vững. Đây là điều kiện để phát huy sực mạnh nội lực góp phần vào sự phát triển của các doanh nghiệp hậu cần trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đầu năm 2009, tại Xí nghiệp đã diễn ra lế khánh thành Nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP-WHO với tổng mức đầu tư là gần 45 tỷ đồng và trở thành nhà máy sản xuất thuốc đầu tiên của quân đội được nhận chứng chỉ này. Công tác quản lý tài chính được tổ chức thực hiện tốt, kiểm soát và vảo toàn được vốn, chấp hành tốt các chế độ về quản lý tài chính như chế độ thanh quyết toán, kiểm kê quản lý hoá đơn chứn từ và quản lý vật tư tài sản. Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh là yếu tố then chốt và xyâ dựng đơn vị vững mạnh toàn diện là trọng tâm quyết định nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức sản xuất và kinh doanh. Công ty Dược và trang thiết bị y tế quân đội nói chung và Xí nghiệp Dược phẩm 120 nói riêng liên tục được công nhận đạt tiêu chuẩn “Đơn vị có môi trường văn hoá tốt”. Các tổ chức công đoàn, thanh niên, phụ nữ hoạt động có nề nếp mang lại hiệu quả thiết thực, hàng năm đều được Tổng cục Hậu cần khen thưởng. Thường xuyên chăm lo xây dựng mối quan hệ đoàn kết thống nhất nội bộ và đời sống người lao động, củng cố thường xuyên mối quan hệ gắn bó với nhân dân nơi đóng quân, với các đơn vị bạn. Những mặt còn hạn chế. Công tác lập kế hoạch còn nhiều hạn chế, các kế hoạch bổ sung thường thông báo chậm, thiếu chủ động trong cân đối giữa kế hoạch sản xuất QP và hàng kinh tế. Thực hiện kế hoạch mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh tuy đạt đựoc kết quả như đã đánh giá, nhưng nội dung biện pháp của từng cấp, vai trò của cơ quan chức năng còn hạn chế, quản lý tình hình sản xuất và tài chính chưa chắc chắn vẫn còn để tồn đọng vật tư, nguyên liệu, hàm lượng chất xám trong hàng hoá chế thử còn hạn chế, giá thành thực tế một số sản phẩm còn cao, sức cạnh tranh thấp. Vốn cố định vẫn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu nguồn vốn, vốn lưu động của Xí nghiệp còn thiếu so với nhu cầu sản xuất kinh doanh. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Nhân tố khách quan: Đây là những nhân tố bên ngoài tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không thể kiểm soát được các yếu tố này mà phải tìm cách hạn chế những tác động tiêu cực và phát huy những tác động tích cực của nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tiêu thụ dược vì người dân càng chăm lo sức khoẻ hơn khi kinh tế phát triển. Công nghiệp Dược Việt Nam đang phải đối đầu với “cơn bão” khủng hoảng kinh tế toàn cầu đồng thời với “cơn lũ” các tác động tiêu cực của quá trình mở cửa thị trường Dược phẩm theo các cam kết quốc tế và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu hơn sau khi gia nhập WTO. Cuối năm 2008, các dấu hiệu suy thoái trong lĩnh vực dược phẩm đã bắt đầu lộ diện. Tháng 11/2008, cục quản lý dược Việt Nam đã cảnh báo “ ngành dược nước ta đang đứng trước nguy cơ giảm phát do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu. Mặc dù giá nhập khẩu nguyên liệu giảm mạnh nhưng hàng nguyên liệu tồn kho giá cao còn nhiều nên thành phẩm sản xuất ra không bán được. Về xã hội: Bên cạnh sự suy giảm của nền kinh tế ảnh hưởng đến thị trường thuốc thì còn một yếu tố khác là số bệnh nhân đến cơ sở y tế giảm và chi tiêu cho y tế cũng dè sẻn hơn. Nhân tố tự nhiên: Việt Nam được coi là nước có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú (hơn 3800 cây thuốc) nhưng lại thiếu một vùng lớn để có thể trồng và nhiều cây thuốc chỉ có ở trên rừng nhưng lại không biết bảo vệ và không biết khai thác. Ngành dược của Việt Nam còn rất nhỏ bé và nguồn nguyên liệu của ngành dược chủ yếu là tự phát và nước ta cũng chưa có một chính sách, quy định nào về việc này. Viện dược liệu nghiên cứu cây thuốc thì cũng nghiên cứu chung chung chứ chưa có những viện nghiên cứu đề có thể trồng ở những vùng rất lớn và ngành nông nghiệp cũng chưa coi trọng cây thuốc cũng như coi đó là một loạ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc21434.doc
Tài liệu liên quan