Chuyên đề Phát triển hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty chứng khoán ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

 

môc lôc

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 3

1.1. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 3

1.1.1. Khái niệm công ty chứng khoán: 3

1.1.2. Phân loại công ty chứng khoán 4

1.1.2.1. Dựa vào loại hình tổ chức. 4

1.1.2.2. Phân loại theo hình thức kinh doanh: 5

1.1.3. Vai trò công ty chứng khoán 6

1.1.3.1. Đối với các tổ chức phát hành: 7

1.1.3.2. Đối với nhà đầu tư: 7

1.1.3.3. Đối với thị trường chứng khoán: 7

1.1.3.4. Đối với các cơ quan quản lý thị trường: 8

1.1.4. Khái quát những nghiệp vụ chính của một công ty chứng khoán 9

1.2. NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 13

1.2.1. Khái niệm: 13

1.2.3. Đặc điểm của nghiệp vụ môi giới chứng khoán: 20

1.2.4. Quy trình của nghiệp vụ môi giới chứng khoán: 21

1.3. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN .23

1.3.1. Quan điểm về hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ môi giới chưng khoán, người ta thường căn cứ vào kết quả mà nó đem lại.

1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tơi khả năng hoạt động của nghiệp vụ môi giới chứng khoán: 24

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NHN0 & PTNT VIỆT NAM. 29

2.1. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NHN0 & PTNT VIỆT NAM ( AGRISECO ). 29

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển: 29

2.1.2. Ngành ghề kinh doanh 30

2.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty: 31

2.1.4 Bối cảnh kinh doanh: 32

2.1.5. Những thuận lợi và khó khăn. 35

2.2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NHNN0 & PTNT VN. 39

2.2.1. Số lượng tài khoản khách hàng mở tại công ty. 40

2.2.2. Giá trị doanh số giao dịch và thị phần: 44

2.2.3. Doanh thu môi giới. 46

2.3. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NHNo&PTNTVN. 50

2.3.1. Những kết quả đạt được: 50

2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân. 53

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM. 56

3.1. CƠ SỞ CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CTCK NHNo&PTNTVN. 56

3.1.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam: 56

3.1.2. Định hướng phát triển của Công ty chứng khoán

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 58

3.2.2. Kế hoạch hóa hoạt động marketing, tiếp thị. 61

3.2.3. Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. 62

3.2.4. Tận dụng mối quan hệ với ngân hàng mẹ. 62

3.2.5. Đào tạo nguồn nhân lực. 63

3.2.6. Từng bước nâng cấp cơ sở vật chất – kỹ thuật. 66

3.2.7. Mở rộng phạm vi hoạt động 67

3.2.8. Các giải pháp khác. 68

3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 68

3.3.1. Kiến nghị với Uỷ ban chứng khoán nhà nước. 68

3.3.2. Kiến nghị đối với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 71

kÕt luËn 75

 

 

 

doc79 trang | Chia sẻ: leddyking34 | Ngày: 15/06/2013 | Lượt xem: 1864 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Phát triển hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty chứng khoán ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
phòng giao dịch và đại lý nhận lệnh…Tại các tỉnh thành phố lớn trong cả nước. Bảng 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy Agriseco: CHỦ TỊCH CÔNG TY GIÁM ĐỐC CÔNG TY PHÓ GIÁM ĐỐC Kiểm tra, kiểm soát nội bộ P. Phân tích và tư vấn đầu tư chứng khoán Phòng kinh doanh P. Kế toán và lưu ký chứng khoán P. Hành chính tổng hợp Phòng kinh doanh P. Kế toán và lưu ký chứng khoán P. Hành chính tổng hợp Chi nhánh Tp. HCM Phòng giao dịch Ngọc Khánh 2.1.4 Bối cảnh kinh doanh Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động trong điều kiện nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng khá cao ( trung bình 7.9/năm ). Sau năm năm di vào hoạt động thị trường đã có những biến đổi và ngày cang phát triển. Trong năm 2005, cung với việc chính phủ tiếp tục đẩy mạnh chính sách cổ phần hoá các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp lớn ( Vinamilk, Bảo Minh GMC, Vietcombank, Ngân hàng nhà Đồng bằng sông Cửu Long, Vinaconex… ) đã hình thành nên nguồn hàng lớn cung ứng cho thị truờng chứng khoán cùng với việc Uỷ ban chứng khoán sáp nhập vào Bộ Tài chính đã đẩy nhanh tiến độ tạo ra các văn bản pháp quy. Cùng với việc hàng loạt các văn bản quan trọng như Nghị định 144, 187 đã nhanh tróng đi vào thực tế và có hiệu quả cao. Về tình hình cạnh tranh hiện nay có 13 công ty chứng khoán tham gia hoạt động trên thị trường dưới hai mô hình tổ chức là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty cổ phần. Các công ty chứng khoán bao gồm có: Bảng 2.2. Các công ty chứng khoán trên thị trường Việt Nam hiện nay: STT Tên công ty chứng khoán Trụ sở chính Vốn điều lệ (tỷ đồng) Các loại hình kinh doanh được phép 1 Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) Hà Nội 43 Môi giới, Tự doanh, Quản lý danh mục đầu tư, Bảo lãnh phát hành chứng khoán. 2 Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam (BSC) Hà Nội 100 Môi giới, Tự doanh, Quản lý danh mục đầu tư, Bảo lãnh phát hành, Tư vấn đầu tư chứng khoán. 3 Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) Tp.HCM 20 Môi giới, tự doanh, Tư vấn đầu tư chứng khoán. 4 Công ty cổ phần Chứng khoán Đệ Nhất (FSC) Bình Dương 43 Môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, Bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán. 5 Công ty TNHH Chứng khoán Thăng Long (TSC) Hà Nội 43 Môi giới, Tự doanh, Quản lý danh mục đầu tư, Bảo lãnh phát hành, Tư vấn đầu tư chứng khoán. 6 Công ty TNHH Chứng khoán Á Châu (ACBS) Tp.HCM 43 Môi giới, Tự doanh, Quản lý danh mục đầu tư, Bảo lãnh phát hành, Tư vấn đầu tư chứng khoán. 7 Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (IBS) Hà Nội 55 Môi giới, Tự doanh, Quản lý danh mục đầu tư, Bảo lãnh phát hành, Tư vấn đầu tư chứng khoán. 8 Công ty TNHH Chứng khoán NHNO&PTNT Việt Nam (ARSC) Hà Nội 100 Môi giới, Tự doanh, Quản lý danh mục đầu tư, Bảo lãnh phát hành, Tư vấn đầu tư chứng khoán. 9 Công ty Chứng khoán Mê Kông (MSC) Hà Nội 6 Môi giới, Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán. 10 Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (VCBS) Hà Nội 60 Môi giới, Tự doanh, Quản lý danh mục đầu tư, Bảo lãnh phát hành, Tư vấn đầu tư chứng khoán. 11 Công ty cổ phần Chứng khoán Hải Phòng (HASECO) Hải Phòng 21,75 Môi giới, tự doanh, Tư vấn đầu tư chứng khoán. 12 Công ty cổ phần Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HSC) Tp.HCM 50 Môi giới, Tự doanh, Quản lý danh mục đầu tư, Bảo lãnh phát hành, Tư vấn đầu tư chứng khoán. 13 Công ty chứng khoán Ngân hàng Đông Á Tp. HCM 21 Môi giới, tự doanh, Tư vấn đầu tư chứng khoán. (Nguồn: Ủy ban chứng khoán Nhà nước) Do phạm vi hoạt động khác nhau và mỗi công ty chứng khoán lại học tập cách thức tổ chức từ các nước khác nhau trên thế giới nên gần như không có điểm chung nào trong cách thức tổ chức của mỗi công ty chứng khoán. Tuy nhiên tất cả các công ty chứng khoán đều thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán vì nghiệp vụ này có mức rủi ro thấp và yêu cầu về số vốn pháp định không cao, đây là yếu tố thuận lợi cho các công ty chứng khoán trong thời gian đầu gia nhập thị trường. Mặt khác, thực tế các nước có thị trường chứng khoán phát triển thì nghiệp vụ này được coi là nghiệp vụ mang lại thu nhập cao và có thể nói là cao nhất trong tất cả các hoạt động kinh doanh chứng khoán thậm trí ngay cả khi thị trường đang ở trong tình trạng bị khủng hoảng. Vì vậy, sự cạnh tranh trong lĩnh vực môi giới trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay đang ngày càng sôi động. 2.1.5. Những thuận lợi và khó khăn. 2.1.5.1. Những thuận lợi Cũng giống như các công ty chứng khoán khác, Agriserco ra đời nhằm mục đích kinh doanh chứng khoán nhằm thu lại lợi nhuận và góp phần phát triển thị trường chứng khoán đang còn mới mẻ như ở Việt Nam hiện nay. Được thành lập sau một số công ty chứng khoán khác do đó quá trình phát triển hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty có được một số thuận lợi quan trọng: - Nhìn chung, trong 5 năm qua tình hình kinh tế xã hội trong nước là thuận lợi tạo điều kiện cho sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế được duy trì ổn định, năm sau cao hơn so với năm trước. Điều này tạo nên sự hấp dẫn cho các cá nhân, tổ chức cả trong và ngoài nước. Hơn nữa, triển vọng tăng trưởng GDP trong những năm tới là chắc chắn do Việt Nam là nước nằm trong khu vực ổn định chính trị và có triển vọng đầu tư cao. - Quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đang diễn ra mạnh mẽ trong các năm vừa qua. Tính đến nay đã có khoảng trên 2000 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá trên cả nước. Hầu hết các doanh nghiệp sau khi tiến hành cổ phần hoá đều có tình hình sản xuất kinh doanh tương đối khả quan, thu nhập của người lao động tăng lên, việc làm được đảm bảo, lợi nhuận tăng dần. Tiến trình cổ phần hoá vẫn đang tiếp tục được quan tâm và thúc đẩy từ trung ương xuống các địa phương và ở tất cả các bộ nghành. Việc các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá có hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng trong việc cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên việc khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp này tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán là vấn đề mà các công ty chứng khoán hiện nay đang hết sức quan tâm. - Thị trường chứng khoán non trẻ tạo ra những bước tập dượt ban đầu cho các công ty chứng khoán. Nhận thức của công chúng đầu tư đối với thị trường chứng khoán đang dần có sự thay đổi. Những cải thiện quan trọng trong khung pháp lý và trong quan hệ đối ngoại đã tạo điều kiện cho môi trường kinh doanh có thêm xung lực mới đặc biệt là khu vực tư nhân. - Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời khi thị trường chứng khoán trên thế giới đã phát triển mạnh, đặc biệt là thị trường chứng khoán của các nước như: Mỹ, Nhật, Anh, Thái Lan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapo…Với những bước đi trước của các nước vể sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán đã tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán nước ta. Từ những nước đó chúng ta có thể học hỏi những kinh nghiệm, ứng dụng được những tiến bộ koa học kỹ thuật trong lĩnh vực chứng khoán, phù hợp với điều kiện kinh tế đất nước. - Agriseco là công ty chứng khoán hình thành từ công ty mẹ - NHN0 & PTNT VN – là một ngân hàng lớn nhất ở nước ta cả về vốn và uy tín. Đây là một thuận lợi lớn, bởi tuy là công ty con hoạt động độc lập với công ty mẹ nhưng nhận được tài trợ về vốn, uy tín,công nghệ và mạng lưới hoạt động rộng khắp và mối quan hệ mật thiết với NHN0 & PTNT VN. Về vốn, với số vốn điều lệ hiện nay lên đến hơn 100 tỷ đồng, Agriserco là một trong những công ty có số vốn điều lệ lớn nhất trên thị trường Việt Nam. Với số vốn điều lệ đó, Agriserco có đủ điều kiện để thực hiện tất cả các loại hình kinh doanh được quy định tại nghị định 144/2003/ NĐ – CP của chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Đây là nguồn lực rất lớn tạo điều kiện cho công ty có thể đa dạng hoá hoạt động của mình, hơn nữa Agriserco được thừa hưởng từ ngân hàng mẹ một mạng lưới chi nhánh rộng khắp trên toàn quốc. Cơ sở dữ liệu khách hàng của NHN0 & PTNT VN tạo cho cả công ty một hệ thống mạng lưới khách hàng và các hồ sơ khách hàng đầy đủ. Điều này tạo thuận lợi cho việc tư vấn và giới thiệu cho khách hàng về các cơ hội kinh doanh và các đối tác, bạn hàng tiềm năng. Mạng lưới chi nhánh chi nhánh của NHN0 & PTNT VN rộng khắp cả nước, tạo nên sự liên kết giữa NHN0 & PTNT và Agriserco trong chiến lược phát triển của Agriseco - Ngoài ra thế mạnh của Agriseco là nhân tố con người. Ngay từ giai đoạn đầu, công ty đã tập trung phát triển và bồi dưỡng đội ngũ nhân sự của mình. Tất cả các cán bộ kinh doanh đều được qua khoá đào tạo của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và được cấp giấy phép hành nghề. Công ty tiến hành đào tạo và tự đào tạo liên tục để cán bộ, nhân viên liên tục được trau dồi và tự hoàn thiện kiến thức cho mình; công ty tạo điều kiện và khuyến khích các cán bộ, nhân viên học sau đại học kể cả trong nước lẫn nước ngoài và sau khi trở vể tiếp tục làm việc cho Công ty. Đội ngũ nhân viên là những người có thâm niên hoạt động trong ngành tài chính ngân hàng, nên dù mới đi vào hoạt động được vài năm nhưng nhìn chung mọi việc của công ty đều được điều hành trôi chảy. 2.1.5.2. Những khó khăn Những khó khăn mà Agriserco đang phải đối mặt và cũng là những bất lợi chung đối với các công ty chứng khoán ở Việt Nam hiện nay đó là: - Môi trường tài chính còn rất thô sơ: Điều này được thể hiện qua các kênh huy động vốn đang còn ở giai đoạn mới hình thành, thiếu đồng bộ và về căn bản đang chịu sự can thiệp hành chính nhà nước thay cho sự tự vận động của thị trường. Đặc biệt là thị trường vốn ngắn hạn do hệ thống ngân hàng đảm nhiệm - một kênh dẫn vốn có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán đang hoạt động kém hiệu quả. Tình trạng này dẫn đến một nghịch lý là: nền kinh tế thì thiếu vốn nghiêm trọng trong khi vốn trong nước thị lại đang bị đóng băng trong các ngân hàng với một số lượng không nhỏ, không có lối thoát cho đầu tư. Tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong những năm vừa qua đã tạo ra thu nhập gia tăng đáng kể trong nền kinh tế nói chung và trong dân cư nói riêng. Nhiều người có vốn nhà dỗi dường như ngày càng không thoả mãn với những công cụ tài chính trên thị trường. Thị trường chứng khoán đem lại cho họ cơ hội đầu tư mới hấp dẫn song do thị trường còn quá mới mẻ, hàng hoá còn ít ỏi nên sự lựa chọn của nhà đầu tư còn dè dặt. Trong tình hình thị trường hiện nay, việc thu hút thêm khách hàng và tạo thêm niềm tin cho khách hàng về triển vọng của thị trường chứng khoán Việt Nam là rất khó khăn, điều này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của công ty. - Môi trường pháp lý còn thiếu hoàn chỉnh và chưa đồng bộ. Nhà nước chưa có những hoạch định cụ thể để phát triển một cách đồng bộ và hiệu quả cho thị trường chứng khoán còn non trẻ. Hệ thống pháp lý điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán không ổn định, luôn có sự thay đổi và điều chỉnh. Nhiều văn bản pháp lý đưa ra không phù hợp với tình hình thực tế và còn nhiều bất cập. Bản thân các văn bản pháp lý hiện hành cũng đang trong quá trình điều chỉnh. Cho đến nay văn bản cao nhất hiện nay mới chỉ là nghị định. Trong đó khi đó các văn bản mới về chứng khoán cũng chưa bao quát hết mọi vấn đề, chưa có sự thống nhất cao giữa các văn bản về thị trường chứng khoán. Do đó gây nhiều khó khăn, vướng mắc và chưa bảo vệ được quyền lợi cho nhà đầu tư. - Cơ sở vật chất còn thiếu thốn: cơ sở vật chất lỹ thuật có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Nó không chỉ tạo dựng nên hình ảnh của công ty trong lòng công chúng mà còn hỗ trợ cho việc thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của công ty một cách nhanh tróng, chính xác và hiệu quả. Trong suốt quá trình hoạt động, Agriseco luôn tiến hành nâng cao cơ sở vật chất, kỹ thuật, áp dụng tiến bộ về công nghệ thông tin. Tuy nhiên, với nguồn kinh phí còn hạn hẹp, trong khi đó công nghệ thông tin lại phát triển nhanh chóng cũng gây áp lực lớn cho công ty. Hơn nữa công ty chưa có cán bộ chuyên trách về tin học và còn thiếu cán bộ có năng lực ứng dụng tin học. Vì vậy mà hoạt động cung cấp thông tin của công ty còn kém hiệu quả. Đây là điểm bất lợi đáng lo ngại của công ty trước những yêu cầu về tình hình nhiệmvụ sắp tới. - Thiếu nguồn nhân lực có kỹ năng: Có thể nói, con người là yếu tố quan trọng nhất và có vai trò quyết định đến sự thành công của công ty. Các công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ với những sản phẩm dịch vụ cao cấp của thị trường đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân viên dầy dạn kinh nghiệm và tinh thông nghiệp vụ. Trong điều kiện thị trường còn ở giai đoạn đầu, các công ty chứng khoán ở Việt Nam cong thiếu một đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ có trình độ chuyên môn và có kinh nghiệm kinh doanh thương trường, Agriserco cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Một số nghiệp vụ của công ty còn thiếu cán bộ chủ chốt như: nghiệp vụ tư vấn, phân tích, môi giới, quản lý danh mục đầu tư. Vì vậy, trong thời gian tới vấn đề đào tạo kinh nghiệm chuyên môn cũng như kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ là một việc làm tất yếu vừa là một thách thức lớn lao đối với công ty trong những năm tới. 2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NHN0 & PTNT VN. Tại các công ty chứng khoán động môi giới là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu của các công ty chứng khoán. Đây là hoạt động chủ đạo và là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chính trong hoạt động kinh doanh chứng khoán. Cũng như hầu hết các công ty chứng khoán ở Việt Nam hiện nay, Công ty chứng khoán NHN0 & PTNT VN đã thực hiện nghiệp vụ môi giới ngay từ buổi đầu thành lập, xác định hướng đi và kế hoạch cụ thể nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ cho nhà đầu, chào hàng sản phẩm mới và hấp dẫn nhằm thu hút khách hàng. trải qua hơn 5 năm hoạt động được sự quan tâm chỉ đạo của NHN0 & PTNT VN cùng với sự hỗ trợ giúp đỡ của các ban nghành và sự nỗ lực của ban lãnh đạo, cán bộ của công ty, Agriserco đã từng bước vượt qua khó khăn ban đầu, hoạt động kinh doanh của công ty đang dần đi vào ổn định. Tuy mơi đi vào hoạt động được hơn 5 năm nhưng nghiệp vụ môi giới luôn tỏ ra là một nghiệp vụ hấp dẫn và mang lại hiệu quả cao cho công ty. Thực trạng hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty có thể được đánh giá qua nhiều tiêu thức khác nhau, tuy nhiên có thể nhìn nhận qua ba tiêu thức chính: số lượng tài khoản giao dịch khách hàng mở tại công ty, thị phần hay doanh số giao dịch môi giới, doanh thu môi giới. 2.2.1. Số lượng tài khoản khách hàng mở tại công ty. Qua 5 năm hoạt động, số lượng tài khoản của khách hàng đến mở giao dịch tại công ty không ngừng tăng lên, năm sau cao hơn năm trước. Công ty không chỉ giữ chân được khách hàng mà còn ngày càng thu hút thêm được khách hàng mới, tạo niềm tin đối với nhà đầu tư và nâng cao uy tín, vị thế của công ty trên thị trường. Có thể xem xét các vấn đề này qua bảng số liệu sau: Bảng 2.2. Số lượng tài khoản mở tại Agriseco qua các năm. Năm 2001 Năm2002 Năm 2003 Năm 2004 Sl (tk) Sl(tk) % tăng/giảm Sl(tk) % tăng/giảm Sl(tk) % tăng/giảm 88 255 189,9 360 41,17 510 41,67 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2003, 2004) Nhìn vào bảng 2.1 cho thấy, trong 3 năm trở lại đây, số tài khoản của khách hàng mở tại công ty không ngừng tăng thêm. Năm đầu tiên đi vào hoạt động (2001) số lượng tài khoản mở tại công ty mới chỉ là 88 tài khoản, trong 3 năm tiếp theo con số này không ngừng tăng: năm 2002 là 255 tài khoản, tăng 189,9%; năm 2003 là 360 tài khoản, tăng 41,17%; tính đến cuối năm 2004 số tài khoản của toàn công ty đã lên tới 510 tài khoản; tăng 41,67% so với năm trước. Cơ cấu của tài khoản cuối năm 2004 được thể hiện trong bảng sau: Bảng 2.3. Cơ cấu tài khoản mở tại Agriseco năm 2004 (Đơn vị: tài khoản) Địa điểm Tổng số tài khoản giao dịch chứng khoán Cá nhân Tổ chức Trụ sở chính 249 7 Chi nhánh Tp. HCM 242 12 Tổng 491 19 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động 2004) Bảng trên cho ta thấy tài khoản mở tại Agriseco chủ yếu là tài khoản giao dịch cá nhân (491 tài khoản - chiếm 96,27%). Số tài khoản của tổ chức mở tại chỉ là 19 tài khoản (chiếm 3,73%). Tuy nhiên , giá trị tiền gửi của các nhà đầu tư có tổ chức là rất lớn: tổng tiền gửi giao dịch chứng khoán tại công ty năm 2004 là 6.000 tỷ đồng trong đó của nhà đầu tư cá nhân là 3235 tỉ đồng chiếm 53,92%, của nhà đầu tư có tổ chức là 2.765 tỷ đồng (chiếm 46,08%). Qua đó có thể khẳng định vai trò to lớn của các nhà đầu tư có tổ chức đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán. Số lượng tài khoản mở tại trụ sở chính Agriseco và mở tại chi nhánh Tp. HCM là tương đương nhau (256 tài khoản so với 254 tài khoản). Như vậy, mặc dù chi nhánh được thành lập chậm 1 năm (tháng 11/2001) sau khi công ty đi vào hoạt động nhưng đã mở được số tài khoản tương đương với trụ sở chính ở Hà Nội. Trong năm 2004, số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán mở tại Agriseco là 150 tài khoản trong đó quý 1 tăng 68 tài khoản, quý 2 tăng 27 tài khoản, quý 3 tăng 18 tài khoản và quý 4 tăng 31 tài khoản. Trong 3 tháng đầu năm, số tài khoản tăng mạnh là do trong thời gian này thị trường có những dấu hiệu khả quan sau một năm khá ảm đạm của thị trường chứng khoán Việt Nam: VN-Index tăng trong 3 tháng đầu năm sau đó liên tục giảm đến điểm thấp nhất 209,41 điểm vào ngày 10/8/2004. Tâm lý nhà đầu tư có dấu hiệu e dè và chờ đợi động thái tiếp theo của thị trường. Từ sự giảm sút chung của toàn thị trường dẫn đến sự giảm sút trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán, vì vậy mà số lượng tài khoản giao dịch mở thêm tại công ty cũng giảm theo: số lượng tài khoản mở tại Agriseco chỉ tăng 27 tài khoản vào quý 2 và 18 tài khoản vào quý 3. Cuối năm 2004, tuy VN-Index có tăng trở lại nhưng với mức độ không đáng kể, làm cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty nói chung, nghiệp vụ môi giới chứng khoán nói riêng gặp nhiều khó khăn. Trước tình này, Agriseco đã dùng nhiều biện pháp để kích thích nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch tại công ty trong đó có việc liên kết với ngân hàng mẹ là NHNo&PTNTVN để cung cấp thêm dịch vụ cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán với mức phí ứng trước 0,035%/ngày/số tiền ứng trước đã thực sự tạo được hình ảnh trong công chúng đầu tư. Sau khi cung cấp dịch vụ này, cùng với việc nhích lên trở lại của VN-Index thì các nhà đầu tư đã tìm đến với Agriseco bằng chứng là số tài khoản giao dịch mở thêm tại công ty trong quý 4 đã tăng lên 38 tài khoản, và chỉ riêng trong tháng 3/2005 công ty đã mở thêm được 21 tài khoản cho 20 cá nhân và 1 tổ chức. Với số tài khoản tăng thêm trong năm 2004 là 150 tài khoản, tính đến 31/12/2004 số tài khoản giao dịch mở tại Agriseco đã lên tới 510 tài khoản với tốc độ tăng là 41,67% so với cùng kỳ năm trước và đạt xấp xỉ 5% thị phần tài khoản của toàn thị trường. Tuy nhiên con số này còn hạn chế vì so với một số các công ty chứng khoán khác như CTCK Sài Gòn (SSI) chiếm 24%, CTCK Bảo Việt 27%...Ta có thể có cái nhìn tổng quát về thị trường với bảng số liệu về một số CTCK lớn sau: Bảng 2.4. Số lượng tài khoản mở tại một số CTCK: (Đơn vị: tài khoản) Năm BSC Agriseco VCBS BVSC SSI 2003 1994 255 443 2915 2480 2004 2016 360 1207 3415 2831 2005 2318 510 1384 3664 3217 Qua bảng trên cho thấy, thị phần của Agriseco (5%) là tương đối nhỏ so với thị phần của các công ty khác trên toàn thị trường, và chưa tương xứng với quy mô của một công ty có số vốn điều lệ lớn nhất thị trường. Tuy nhiên, hoạt động môi giới của công ty vẫn được đánh giá là có hiệu quả vì công ty đã đạt được chỉ tiêu thực tế cao hơn rất nhiều so với dự kiến. Trong điều kiện mức độ tăng trưởng số lượng tài khoản của toàn thị trường là 19,06%/năm thì với tốc độ tăng trưởng số lượng tài khoản 41,67%, Agriseco là công ty có tốc độ tăng trưởng cao nhất thị trường. Đây là kết quả rất đáng khích lệ. Có được kết quả trên là nhờ công ty đã có hướng đầu tư đúng đắn vào nghiệp vụ môi giới: ký kết được một số hợp đồng dịch vụ lưu ký, tư vấn và môi giới cho một số nhà đầu tư lớn, tiếp tục cung cấp các dịch vụ mới hỗ trợ cho nhà đầu tư chứng khoán như dịch vụ chuyển nhượng quyền nhận cổ tức, dịch vụ xác nhận số dư chứng khoán trên tài khoản khách hàng miễn phí và triển khai dịch vụ nhận lệnh từ xa qua fax và điện thoại. Qua đó, tạo điều kiện cho nhà đầu tư đặt lệnh nhanh chóng, thuận tiện, chính xác và tiết kiệm. Vì vậy, trong điều kiện thị trường còn nhiều khó khăn, một số công ty chứng khoán không tránh khỏi những tổn thất nhất định thì hoạt động môi giới chứng khoán của công ty vẫn được đánh giá là đạt hiệu quả. Nhìn chung, qua các số liệu trên cho thấy khách hàng đến với Agriseco ngày càng nhiều. Với việc đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của thị trường chứng khoán cũng như các nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp, hình ảnh của công ty đã được nhiều nhà đầu tư biết đến. Bên cạnh đó, dịch vụ tư vấn đầu tư cũng thực sự có hiệu quả đã góp phần thu hút được nhiều khách hàng đến với công ty. Điều quan trọng hơn cả là tất cả các nghiệp vụ mà công ty thực hiện đều liên quan trực tiếp đến khách hàng và đã được khách hàng tin tưởng, hài lòng; uy tín của công ty nhanh chóng được nâng cao. Nhờ đó mà công ty vừa giữ chân được khách hàng cũ, vừa thu hút thêm được khách hàng mới, nâng cao vị thế của công ty trên thị trường. 2.2.2. Giá trị doanh số giao dịch và thị phần: Trong 2 năm 2003, 2004 với số lượng khách hàng đến mở tài khoản tại công ty không ngừng tăng lên cũng góp phần làm tăng giá trị doanh số giao dịch tại công tyCó thể đánh giá tổng quát về tình hình doanh số chứng khoán môi giới của Agriseco qua bảng sau: Bảng 2.5. Doanh số giao dịch của Agriseco qua các năm: (Đơn vị: tỷ đồng) Giao dịch 2002 2003 2004 Giá trị %tăng/giảm Giá trị %tăng/giảm Giá trị %tăng/giảm Bán 710,283 140,20 1.791,638 152,21 2.508,727 40,02 Mua 712,891 158,47 1.852,594 159,87 3.075,903 66,04 Tổng 1.423,174 149,34 3.644,232 156,01 5.584,630 53,25 (Nguồn: Báo cáo tổng kết 2004, 2005) Bảng 2.5 Cho thấy doanh số chứng khoán giao dịch qua Agriseco không ngừng tăng qua các năm: trong đó, năm 2003, doanh số môi giới chứng khoán đạt 3.644,232 tỷ đồng, tăng 156,01% so với năm 2002, năm 2004 là 5.585,630 tỷ đồng, tăng 53,25% so với năm 2003. Có được kết quả này là do công ty đã sử dụng hàng loạt các biện pháp thu hút khách hàng cùng với hiệu quả thực tế hoạt động đã dần tạo lập được uy tín của công ty, củng cố niềm tin trong lòng công chúng đầu tư nên đã có thêm nhiều khách hàng tới mở tài khoản và giao dịch tại công ty, đưa doanh số môi giới của công ty lên hơn 5000 tỷ đồng trong năm 2004. Đóng góp vào kết quả này cũng là nhờ sự gia tăng về số lượng tài khoản giao dịch của các tổ chức mở tại công ty: năm 2003 có 10 tổ chức mở tài khoản tại Agriseco (chiếm 2,8%), năm 2005 con số này đã tăng gần gấp đôi (19 tài khoản - chiếm 3,7%). Sự tham gia giao dịch của các nhà đầu tư có tổ chức với doanh số giao dịch lớn đã làm cho giá trị giao dịch qua Agriseco cũng tăng lên đáng kể. Thị phần môi giới của Agriseco cũng không ngừng được cải thiện: năm 2003, công ty mới chỉ chiếm 4% thị phần, năm 2004 thị phần của Agriseco đã tăng lên 12,09% (tăng 20,9% so với kế hoạch đề ra) và đến cuối năm 2005 công ty đã giành được 13,28% thị phần môi giới. Đây là kết quả của việc đầu tư đúng hướng vào nghiệp vụ môi giới của công ty. Trong năm 2004, Agriseco nâng mức vốn điều lệ từ 63 tỉ đồng lên 100 tỉ đồng và điều này đã phát huy hiệu quả, thể hiện ở thị phần môi giới không ngừng tăng lên, uy tín và hình ảnh của công ty đã được nâng cao đối với công chúng đầu tư. Bảng 2.6. Doanh số giao dịch môi giới chứng khoán của Agriseco năm 2005. (Đơn vị: tỉ đồng) Loại Nhà đầu tư trong nước Nhà đầu tư nước ngoài Cổ phiếu Ch.chỉ quỹ Trái phiếu Cổ phiếu Ch.chỉ quỹ Trái phiếu Mua 40,570 0,951 2.921,827 0,445 0 112,110 Bán 34,831 0.904 2.421,490 0 0 51,502 Tổng 75,401 1,855 5.343,317 0,445 0 163,612 %(*) 1,35 0,03 95,67 0,01 0 2,93 (Nguồn: Công văn gửi Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước) ((*)tỉ trọng trên tổng doanh số giao dịch của công ty năm 2005) Từ bảng số liệu trên ta thấy doanh số giao dịch của Agriseco chủ yếu là môi giới mua bán trái phiếu cho các tổ chức và cá nhân: doanh số giao dịch trái phiếu trong năm đạt 5.506,929 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 98,61% tổng doanh số giao dịch của toàn công ty, doanh số giao dịch cổ phiếu chỉ khiêm tốn với con số 520,42 tỉ đồng (1,36%) và chủ yếu là tập trung vào các nhà đầu tư trong nước; doanh số giao dịch chứng chỉ quỹ vẫn còn rất thấp: cả năm chỉ đạt 1,885 tỷ đồng, chiếm 0,03% tổng doanh số. Hiện nay trên thị trưòng có 101 loại trái phiếu tham gia giao dịch, trong đó có 99 loại của Chính phủ với tổng giá trị niêm yết gần 14.000 tỷ đồng. Giao dịch trái phiếu tăng mạnh là do có sự tham gia rất tich cực của các nhà đầu tư có tổ chức và các nhà đầu tư nước ngoài với doanh số giao dịch rất lớn. Chính điều này đã làm sôi động thị trường trái phiếu và tạo điều kiện cho hoạt động môi giới của các công ty chứng khoán. 2.2.3. Doanh thu môi giới. Tuy không phải là nguồn thu lớn nhất của công ty nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của ban lãnh đạo công ty nên hoạt động môi giới đã có nhiều c

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhát triển hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp Và Phát triển nông thôn Việt Nam.doc
Tài liệu liên quan