Đề án Giải pháp phát triển ngành thép Việt Nam

Mục lục

Trang

Lời mở đầu 1

I. Thực trạng ngành công nghiệp thép Việt Nam. 2

1. Lịch sử hình thành và phát triển. 2

2. Cơ cấu ngành. 3

3. Tình hình sản xuất của ngành thép. 5

3.1 Trình độ công nghệ máy móc thiết bị. 5

3.2 Quy mô sản xuất. 8

3.3 Phân bố và tổ chức sản xuất. 10

3.4 Đầu tư sản xuất phôi và cán thép. 11

4.Cơ cấu cung cầu. 13

5. Lưu thông phân phối thép. 15

6. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thép Việt Nam. 18

7. Vấn đề đặt ra đối với ngành thép trong quá trình hội nhập 19

II- Giải pháp phát triển ngành thép Việt Nam 21

1. Quan điểm và mục tiêu phát triển. 21

2. Các giải pháp phát triển ngành thép. 22

2.1 Các giải pháp vĩ mô. 22

2.2 Các giải pháp vi mô. 23

Kết luận 26

 

 

doc30 trang | Chia sẻ: leddyking34 | Ngày: 03/07/2013 | Lượt xem: 920 | Lượt tải: 18download
Tóm tắt tài liệu Đề án Giải pháp phát triển ngành thép Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
doanh nghiệp trong nước hiện nay đang ưa chuộng loại nhà máy có công suất nhỏ này. Tính toán đơn giản, công suất 6 triệu tấn với 60 nhà máy sản xuất thép, công suất trung bình của Việt Nam chỉ là 0,1 triệu tấn/nhà máy. So với Trung Quốc có 264 nhà máy sản xuất thép, tổng công suất đạt 419 triệu tấn, như vậy bình quân một nhà máy có công suất 1,58 triệu tấn thì có thể thấy các nhà máy thép của nước ta có quy mô quá nhỏ. Quy mô nhà máy nhỏ sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc giảm giá thành nhờ quy mô. 3.2 Quy mô sản xuất. Trước năm 1990, Nhà nước độc quyền sản xuất và buôn bán thép, trong bối cảnh đó ngành thép phát triển rất chậm. Sau 1990, với chính sách đổi mới ở Việt Nam, ngành thép đã có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để phát triển. Đặc biệt từ sau năm 1995, ngành thép với nòng cốt là Tổng công ty thép Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, thành phần và chất lượng. Nhiều cơ sở sản xuất thép đã được cải tạo lại hoặc xây dựng mới dưới hình thức sở hữu khác nhau. Cả nước có hơn 280 công ty, nhà máy, các cơ sở sản xuất thủ công tham gia sản xuất thép (chủ yếu là cán thép). Tổng công suất thiết kế của tất cả các cơ sở này ước tính khoảng 4000 ngàn tấn thép cán/năm. Như vậy bình quân công suất thiết kế của một cơ sở sản xuất thép chỉ khoảng 15 ngàn tấn/năm. Nếu tính riêng cho 43 cơ sở lớn nhất hiện nay với tổng công suất 3666 ngàn tấn/năm thì bình quân công suất của một cơ sở sản xuất là 85 ngàn tấn/năm. Hầu hết các cơ sở sản xuất thuộc VSC đều được phat triển dựa trên cơ sở sản xuất đã có từ trước phân bổ từ Bắc đến Nam mà không dựa trên quy hoạch tổng thể theo yêu cầu của công nghệ sản xuất thép. Hệ thống sản xuất của VSC bao gồm những năng lực sản xuất cụ thể như sau: - 3 lò cao nhỏ 100 m3/lò (đã thanh lý 1 lò, phá dỡ 1 lò để cải tạo, đang vận hành 1 lò). - 12 lò điện hồ quang AC cỡ nhỏ từ 1,5 tấn/mẻ đến 30 tấn/mẻ, do Việt Nam tự chế tạo và nhập khẩu từ Trung Quốc. - 4 máy đúc liên tục phôi vuông, tổng cộng 10 dòng đúc, công suất 330.000 tấn/năm. - 5 máy cán bán liên tục sản xuất thép tròn và hình nhỏ, thiết bị của Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ, Italia, tổng công suất khoảng 260.000 tấn/năm; ngoài ra còn 5 máy cán mini tự trang bị, tổng công suất khoảng 250.000 tấn/năm. VSC hiện nay đang có 5 liên doanh cán thép xây dựng, trong đó có 2 máy cán liên tục và 3 máy cán bán liên tục. Tổng công suất cán thép của 5 liên doanh là 901.000 tấn/năm. Phần lớn các liên doanh cán thép được xây dựng ở các khu vực giao thông thuận lợi cho việc nhập khẩu nguyên liệu hoặc gần nguồn khí đốt và thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên nếu xét về lâu dài, khi có các nguyên liệu trong nước được khai thác thì những nhà máy này sẽ gặp những bất lợi nhất định về địa điểm. Hầu hết các cơ sở cán thép trong hệ thống các công ty TNHH9, công ty cổ phần và công ty 100% vốn nước ngoài được đầu tư xây dựng sau năm 2000. Hiện tại hệ thống này có 7 cơ sở sản xuất cán thép, tổng công suất ước khoảng 1680 ngàn tấn/năm. Trừ nhà máy cán thép Sông Đà có công suất 250.000 tấn/năm, các cơ sở sản xuất thép còn lại của hệ thống các cơ sở sản xuất thép quốc doanh khác và quốc phòng đều có quy mô nhỏ. Công suất của các cơ sở sản xuất trong hệ thống này biến động trong khoảng từ 10 ngàn đến 30 ngàn tấn/năm. Tổng công suất của hệ thống này ước tính khoảng 350 ngàn tấn thép cán/năm, song sản lượng sản xuất không ổn định, phụ thuộc vào sự biến động của thị trường. Có khoảng 250 cơ sở sản xuất nhỏ tư nhân đang sử dụng các lò luyện thép và cán thép rất nhỏ, kiểu mini, thủ công, có công suất bình quân trên dưới 1 ngàn tấn/năm/1 cơ sở. Các cơ sở này nằm rải rác ở nhiều tỉnh và thành phố từ Bắc đến Nam. Tổng năng lực sản xuất của khu vực này ước tính khoảng 250 đến 300 ngàn tấn/năm. Những số liệu được trình bày ở trên cho thấy, sản xuất phân tán, thiếu quy hoạch với quy mô nhỏ là đặc điểm đáng chú ý của ngành sản xuất thép ở Việt Nam. Nhiều chuyên gia về thép trong nước và quốc tế cho rằng, những đặc điểm này đã ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sản xuất thép ở Việt Nam trong thời gian qua. 3.3 Phân bố và tổ chức sản xuất. Sản xuất bởi 3 khối doanh nghiệp: Các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc VSC, các liên doanh với nước ngoài của VSC hoặc doanh nghiệp thành viên, các doanh nghiệp trong nước không nằm trong VSC. Sự phát triển của ngành đang bị coi là ngược quy luật, công nghiệp cán có trước công nghiệp luyện.Các doanh nghiệp chủ yếu mới chỉ sản xuất thép xây dựng, năng lực sản xuất phôi còn yếu, bỏ trống một khoảng lớn các sản phẩm “đặc chủng” khác. Do mất cân đối trong cơ cấu, nên ngành thép gặp nhiều khó khăn trong điều tiết thị trường. Việc phân bố và tổ chức sản xuất ở trong tình trạng manh mún, rời rạc. Hầu hết các cơ sở sản xuất đều dựa trên cơ sở vốn có từ trước mà không được nghiên cứu quy hoạch tổng thể theo yêu cầu của công nghệ ngành thép đó là các khâu phải được nối kết liên tục và thuận lợi về giao thông vận tải. Các cơ sở sản xuất của Tổng công ty thép Việt Nam trải dài từ Bắc vào Nam trên cơ sở của các cơ sở cũ. Các nhà máy cán thép liên doanh thì được phân bổ hợp lý trên cơ sở nguồn nguyên liệu và yếu tố đầu vào cho khâu cán và tiêu thụ thành phẩm. Chẳng hạn ba liên doanh cán thép lớn nhất của Việt Nam đều đặt địa điểm sản xuất tại Bà Rịa – Vũng Tàu và Hải Phòng đều gần nguồn nguyên liệu nhập khẩu và gần nguồn khí đốt nhưng nếu xét về lâu dài khi có nguồn nguyên liệu trong nước thì địa điểm này bộc lộ hạn chế. Đối với khu vực công nghiệp thép địa phương và ngoài quốc doanh thì phân bổ hết sức tuỳ tiện. Việc phân bổ hết sức tuỳ tiện các cơ sở sản xuất ngành thép đã vi phạm nguyên tắc kỹ thuật tổng thể của sản xuất thép. Để nâng cao hiệu quả của ngành sản xuất thép, các cơ sở sản xuất thuộc các khâu khác nhau cần bố trí trên cùng một địa điểm, các khâu sản xuất phải kế tục liên tiếp để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Sẽ là không hiệu quả và thiếu tính cạnh tranh nếu sản xuất thép tấm ở các cơ sở phía Bắc, làm nguội cà cứng lại, vận chuyển hàng nghìn km tới các cơ sở cán nóng ở phía Nam. Sau cuộc rà soát quy hoạch ngành thép, mới đây Bộ Công Thương đã xác định 32 dự án nằm ngoài quy hoạch và kiến nghị Chính phủ tạm dừng cấp giấy phép. Như vậy, từ năm 2007 đến nay, số lượng dự án ngoài danh mục quy hoạch lớn hơn cả số lượng dự án trong quy hoạch. Từ năm 2005 trở lại đây, giá thép trong nước và quốc tế ngày càng tăng làm cho các dự án sản xuất thép thỏi trở nên hấp dẫn hơn, nên các doanh nghiệp bắt đầu đầu tư rất nhiều, kể cả trong nước và nước ngoài… Đó là những lý do khiến chiến lược quy hoạch ngành thép bị vỡ. 3.4 Đầu tư sản xuất phôi và cán thép. Cơ cấu sản xuất mất cân đối giữa các công đoạn thượng nguồn và hạ nguồn. Quá trình sản xuất thép trải qua sáu công đoạn cơ bản từ thượng nguồn đến hạ nguồn là: thiêu kết, luyện cốc, luyện gang, luyện thép và cán thép. Nếu xét cơ cấu năng lực sản xuất thép thep các công đoạn này thì hoạt động sản xuất thép ở Việt Nam có thiên hướng tập trung nhiều hơn cho các công đoạn hạ nguồn. Năng lực cán thép đạt mức khoảng 4000 ngàn tấn/năm. Năng lực luyện thép chỉ khoảng 600 tấn phôi/năm. Phôi thép được sản xuất chủ yếu bằng nguồn sắt thép phế liệu nhập khẩu và phế liệu thu mua trong nước. Trong đó thép phế liệu thu mua trong nước chiếm tỷ trọng khoảng một nửa khối lượng sắt thép phế liệu được sử dụng. Một phần nhỏ phôi được sản xuất từ công đoạn luyện gang ở nhà máy gang thép Thái Nguyên. Tổng năng lực luyện gang và thiêu kết ở Việt Nam hiện nay chỉ đạt ở mức khoảng 40 ngàn tấn/năm, một con số rất nhỏ so với nhu cầu gang cần thiết để luyện thép. Do năng lực sản xuất mất cân đối giữa các công đoạn sản xuất, nên khả năng đáp ứng nhu cầu đầu vào của các công đoạn thượng nguồn và công đoạn hạ nguồn trực tiếp là rất thấp. Công đoạn luyện thép chỉ đáp ứng được khoảng 25% nhu cầu phôi vuông cỡ nhỏ cho công đoạn cán thép. Trong khi đó, nhu cầu phôi thép của các cơ sở cán thép ở tất cả các khu vực đều tăng trong những năm gần đây đã dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các công đoạn của qua trình sản xuất thép. Nguyên nhân chủ yếu của sự mất cân đối này là (1) Đầu tư vào khâu sản xuất phôi đòi hỏi vốn lớn (2) Thời gian đi vào sản xuất và thu hồi vốn chậm (3) Giá trị gia tăng và lợi nhuận của khâu sản xuất phôi thấp nên cácdoanh nghiệp sản xuất trong nước không đủ khả năng đầu tư còn các doanh nghiệp nước ngoài không muốn đầu tư. Hơn nữa sản xuất phôi thép không được nhà nước bảo hộ mạnh mẽ như cán thép vì vậy không hấp dẫn các nhà đầu tư, kể cả đầu tư trong nước. Mặt khác, đầu tư vào khâu cán thép không cần vốn lớn nên không chỉ các doanh nghiệp quốc doanh mà cả công ty tư nhân đều có thể đầu tư. Ở Việt Nam phần lớn sử dụng thép phế để sản xuất phôi và hoàn toàn là phôi vuông để làm thép xây dựng. Phôi vuông sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu cán thép, 50% còn lại là từ nguồn nhập khẩu. Mặc dù tự sản xuất khoảng 20% thép dẹt, nhưng chưa có doanh nghiệp nào ở Việt Nam sản xuất được phôi dẹt mà phải nhập khẩu từ bên ngoài. Nguồn nhập khẩu thép phôi thép các loại và thép phế của Việt Nam hiện giờ là từ Trung Quốc (là chủ yếu) và một số nước khác trên thế giới như Mỹ, Nhật, Nga… Như vậy có thể thấy ngành thép Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều từ biến động về phôi và thép trên thế giới. Giá thép trong nước có xu hướng biến động cùng chiều với giá phôi trên thế giới. Phôi thép là bộ phận chủ yếu trên thị trường nguyên liệu thépViệt Nam, các sản phẩm của các công đoạn trước như gang và quặng thiêu kết chiếm tỷ trọng không đáng kể do ngành sản xuất thép Việt Nam chủ yếu tập trung ở công đoạn cán thép. Trong khi đó do nhu cầu sử dụng thép ở Việt Nam trong những năm qua chỉ ở mức độ thấp, nên khối lượng thép phế thải có thể thu mua trong nước cũng tương đối khan hiếm. Giá thành phôi thép sản xuất trong nước cao và ưu thế vượt trội về mặt tỷ trọng của nguồn phôi nhập khẩu trong việc đáp ứng nhu cầu sản xuất thép đã làm cho giá phôi thép ở thị trường trong nước phụ thuộc rất lớn vào sự biến động giá phôi thép trên thị trường thế giới. Tốc độ điều chỉnh giá phôi thép trên thị trường nội địa thường chậm hơn so với những biến động của giá phôi trên thị trường thế giới và khác nhau trong hai trường hợp. Tốc độ điều chỉnh giá phôi thép ở thị trường trong nước là khá nhanh khi giá phôi trên thị trường thế giới có xu hướng tăng, nhưng tốc độ điều chỉnh giá phôi trên thị trường nội địa lại diễn ra khá chậm khi giá phôi thép trên thị trường thế giới có xu hướng giảm do thời gian đặt hàng thường kéo dài nhiều tháng. Kết quả là khi giá phôi thép trên thị trường thế giới trải qua những thời kỳ đột biến thì chi phí sản xuất thép ở Việt Nam cao hơn nhiều so với giá thép nhập khẩu. Đây là điểm bất lợi lớn của hoạt động cán thép Việt Nam do sự phụ thuộc vào nguồn phôi thép nhập khẩu. 4.Cơ cấu cung cầu. Cung cầu về thép dài tương đối cân bằng nhưng lại mất cân bằng trầm trọng ở thép dẹt. Trước 2006 nước ta phải nhập khẩu 100% thép dẹt, từ năm 2006 một số nhà sản xuất thép tấm đi vào hoạt động phần nào đáp ứng được nhu cầu thép dẹt trong nước. Tuy nhiên với tổng công suất khoảng 1,1 triệu tấn/năm như hiện nay, khả năng đáp ứng tối đa mới chỉ được 20% nhu cầu, 80% còn lại là nhập khẩu. Tình trạng nhập khẩu còn tiếp diễn từ nay đến năm 2012 – 2013, khi một số dự án liên doanh với nước ngoài đi vào hoạt động, tăng công suất cho sản phẩm thép dẹt lên mới đáp ứng được nhu cầu trong nước. Công suất 6 triệu tấn/năm nên nguồn cung thép dài trên thị trường đáp ứng tương đối tốt nhu cầu tiêu dùng thực tế, các năm gần đây lượng thép dài nhập khẩu từ nước ngoài không nhiều, chủ yếu là các loại thép xây dựng cỡ lớn mà Việt Nam hiện chưa sản xuất được. Hình 3: Cơ cấu sản xuất và tiêu thụ thép của các thành viên trong Hiệp hội thép giai đoạn 2004 – 2007 (Đơn vị:nghìn tấn) (Nguồn: Hiệp hội thép) Mục tiêu phát triển tổng thể của ngành thép Việt Nam là đáp ứng tối đa nhu cầu về các sản phẩm thép của nền kinh tế, tăng cường xuất khẩu. Bảng 1: Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu trong giai đoạn từ 2001 đến 2020 Thời kỳ Tăng trưỏng GDP (%) Tăng trưởng công nghiệp (%) Tăng trưởng SX thép (%) Tăng trưởng tiêu thụ thép(%) Tiêu thụ thép đầu người (kg/người) 2001-2005 7,5 14,08 14 10 - 11 78 2006-2010 7,5 10,38 10 10,6 123 2011-2015 7 8 - 9 9 – 9,5 9 – 9,5 170 2016-2020 6,5 7 - 8 8,5 - 9 8 – 8,9 240 Bảng 2: Dự báo nhu cầu thép của Việt Nam đến năm 2025 Đơn vị: nghìn tấn Năm Tổng nhu cầu thép (1.000 tấn) Thép dài Thép dẹt Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) 2005 6.480 3.564 55 2.916 45 2010 10.000 5.000 50 5.000 50 2015 15.000 6.250 45 8.750 55 2020 20.000 8.000 40 12.000 60 Bảng 3: Mục tiêu sản lượng của ngành thép giai đoạn 20010 – 2025 Đơn vị: nghìn tấn 2010 2015 2020 2025 Gang 1.500 – 1.900 5.000 – 5.800 8.000 – 9.000 10.000 – 12.000 Thép thô 3.500 – 4.500 6.000 – 8.000 9.000 – 11.000 12.000 – 15.000 Thép cán (Thép dẹt) 6.300 – 6.500 1.800 – 2.000 11.000 – 12.000 6.500 – 7.000 15.000 – 18.000 8.000 – 10.000 19.000 – 22.000 11.000 – 13.000 Xuất khẩu 500 - 700 700 - 800 900 – 1.000 1.200 – 1.500 5. Lưu thông phân phối thép. Thành phần tư nhân trong hoạt động phân phối thép có ưu thế vượt trội. Sản phẩm thép trên thị trường Việt Nam được phân phối thông qua 3 hệ thống phân phối chủ yếu, gồm: (1) Hệ thống phân phối thép được nhập khẩu và phân phối bởi các công ty thương mại nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam. Hệ thống này chủ yếu thực hiện chức năng nhập khẩu và bán sản phẩm thép cho các khách hàng cuối cùng thông qua các công ty bán buôn của Việt Nam, hoặc có thể bán hàng trực tiếp cho các khách hàng cuối có khối lượng mua lớn. (2) Hệ thống phân phối được thực hiện bởi các công ty thương mại thuộc VSC. Hệ thống này chủ yếu thực hiên chức năng phân phối các sản phẩm thép nhập khẩu để bán lại cho các nhà phân phối tư nhân hoặc nhập khẩu phôi thép để bán cho các nhà sản xuất thép hoặc thực hiện việc bán lẻ các sản phẩm đến những khách hàng cuối cùng thông qua các cửa hàng bán lẻ trực thuộc. (3) Hệ thống phân phối thép tư nhân và các doanh nghiệp khác không trực thuộc Tổng công ty thép Việt Nam. Hệ thống này hoạt động với tư cách là những trung gian giữa các nhà sản xuất trong nước hoặc các nhà cung cấp nước ngoài và các nhà bán lẻ hoặc khách hàng cuối cùng trên thị trường. Các hệ thống này có ưu nhược điểm khác nhau xuất phát từ thực lực và những điều kiện gắn liền với hoạt động kinh doanh của họ. Bảng 4: So sánh cạnh tranh các hệ thống phân phối thép Hệ thống phân phối Ưu điểm Nhược điểm Tư nhân Động lực làm việc tốt Năng suất lao động cao Tần suất quay vòng nhanh Quản lý nợ hiệu quả Dịch vụ khách hàng tốt Khống chế toàn bộ hoạt động bán lẻ Chi phí vốn cao Mặt bằng kho bãi hạn chế Khả năng huy động vốn hạn chế VSC Hệ thống phân phối rộng Quy mô lớn Khả năng tài chính mạnh Nhân viên thiếu động lực làm việc Năng suất lao động thấp Tốc độ quay vòng vốn chậm Quản lý nợ thiếu hiệu quả Công ty nước ngoài Chủ động về nguồn hàng Chính sách phân phối không linh hoạt Trên thị trường Việt Nam có khoảng 20 nhà phân phối tư nhân lớn hoạt động với tư cách là phân phối cấp 1 cho các nhà sản xuất. Quy mô vốn của các công ty này thường giao động từ 10 đến 15 tỷ đồng. Các công ty này kinh doanh thép từ 2 nguồn, nguồn nội địa và nguồn nhập khẩu. Sản phẩm nhập khẩu chủ yếu là các loại thép mà trong nước chưa sản xuất được như thép lá, thép tấm. Nguồn nhập khẩu chủ yếu từ Nga, Hàn Quốc… Khi thị trường nội địa có nhu cầu, họ tiến hành uỷ thác cho các công ty khác nhập khẩu sản phẩm thép từ các nhà cung cấp nước ngoài mà họ lựa chọn rồi phân phối lại trên thị trường nội địa. Theo đánh giá của những người quản lý của một số nhà phân phối tư nhân thì hiệu quả kinh doanh của hệ thống phân phối tư nhân nói chung là cao hơn các doanh nghiệp nhà nước. Lý do cơ bản là hoạt động kinh doanh của các công ty tư nhân gắn chặt với lợi ích của người quản lý hơn so với trường hợp doanh nghiệp nhà nước, nhân việc làm việc ở các công ty tư nhân thường tích cực hơn nhân viên làm việc trong công ty nhà nước, các quyết định kinh doanh ở các công ty tư nhân cũng được đưa ra và triển khai nhanh hơn. Những ưu thế này giúp các công ty tư nhân nâng cao được chất lượng dịch vụ, thu hút được nhiều khách hàng và hiệu quả kinh doanh cao hơn. Chủ các doanh nghiệp phân phối tư nhân còn cho rằng, các doanh nghiệp tư nhân đang là những người kiểm soát thị trường, khả năng kiểm soát thị trường thép của họ xuất phát từ việc họ đã thiết lập được một hệ thống bán lẻ rộng khắp và họ có thể kiểm soát được hệ thống này với mức độ rủi ro khá thấp. Tỷ trọng vốn bị ứ đọng trong khâu lưu thông lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình tài chính và kết quả kinh doanh. Các nhà sản xuất đầu tư vốn khá lớn vào khâu lưu thông hàng hoá dẫn đến tình trạng khó khăn tài chính và ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh. Quy mô của các nhà sản xuất là khá lớn so với các nhà phân phối. Doanh số bình quân của các nhà sản xuất là 893 tỷ đông/năm. Mức vốn bình quân của các nhà sản xuất là 360 tỷ đồng. Số lượng vốn các nhà sản xuất đầu tư vào khâu lưu thông là khá lớn so với mức vốn tự có, mà bộ phận đáng kể nhất là các khoản phải thu của khách hàng. Số bình quân các khoản phải thu từ khách hàng của các nhà sản xuất là 411 tỷ đồng, doanh nghiệp có số dư các khoản phải thu cao nhất lên tới 1200 tỷ đồng. Bình quân tỷ lệ các khoản phải thu so với vốn lên tới 37%, mức cao nhất là 82% và mức thấp nhất là 9%. Mức tồn kho thực tế của nhà sản xuất cũng khá lớn, phản ánh hoạt động bán hàng của các nhà phân phối chưa được tổ chức hiệu quả. Tỷ lệ lãi gộp bình quân dừng ở mức 2,25%. Chính sách phân phối còn bất cập, quan hệ giữa sản xuất và phân phối chưa vững chắc. Phần lớn các nhà sản xuất đều thực hiện chính sách bao phủ thị trường trong phạm vi cả nước. Chính vì vậy, mặc dù tại khu vực miền Bắc mức cung về cán thép khá lớn, nhu cầu thép cán nhỏ hơn so với khu vực miền Nam, nhưng các nhà sản xuất thép cán miền Nam vẫn cung ứng sản phẩm ra khu vực phía Bắc. Rõ ràng, một chính sách bao phủ thị trường như vậy là không hợp lý khi sản phẩm của các nhà máy thép ở Việt Nam tương đối đồng nhất, chi phí vận chuyển thép là khá cao so với giá trị của nó. Vì vậy, chính sách này đã làm cho tổng giá thành thép bị nâng lên, lợi nhuận của các nhà sản xuất bị thấp đi và các nhà sản xuất nội địa sẽ đánh mất lợi thế gần thị trường của mình so với đối thủ nước ngoài. Tất cả các nhà sản xuất đều thực hiện chính sách phân phối mạnh hoặc chọn lọc. Hơn một nửa các nhà sản xuất sử dụng chính sách phân phối mạnh. Việc các nhà sản xuất không lựa chọn chính sách phân phối độc quyền là do áp lực của các nhà phân phối. Theo các nhà phân phối thì việc lựa chọn kinh doanh một nhãn hiệu là không hiệu quả, do (1) chưa có một thương hiệu thép nào thực sự có chỗ đứng trên thị trường, hơn nữa (2) giá cả của các nhà sản xuất thường không đồng đều và có nhiều biến động, nếu kinh doanh nhiều loại sản phẩm thép thì có nhiều cơ hội bán sản phẩm hơn. Với chính sách phân phối này, các nhà sản xuất khó có thể tạo ra được sự ổn định về mặt thị trường. Quan hệ giữa các nhà sản xuất và các nhà phân phối còn thiếu sự bền vững. Điều này thể hiện rất rõ ràng ở chỗ các nhà phân phối bán thép của rất nhiều công ty khác nhau, họ bán sản phẩm của nhà sản xuất nào tuỳ thuộc vào nhu cầu của khách hàng, nhưng việc khách hàng lựa chọn loại sản phẩm nào lại tuỳ thuộc vào giá cả. Vì vậy, quan hệ giữa các nhà sản xuất và các nhà phân phối bán buôn phụ thuộc vào sự biến động của giá cả. Các nhà sản xuất chưa thực sự hiểu các nhà phân phối cần gì ở họ, và ngược lại các nhà phân phối cũng chưa tạo ra được các kênh phân phối hàng hoá ổn định cho các nhà sản xuất. Quan hệ giữa các nhà sản xuất và các nhà phân phối chủ yếu tồn tại dưới hình thức phân phối chon lọc. Quan hệ giữa họ ít có sự hợp tác chặt chẽ và bền vững mà chủ yếu dựa trên các điều khoản mua bán thông thường, như quy định khối lượng bán, kiểm soát tiến độ thanh toán, phân tích số liệu, bảo lãnh thanh toán, phân vùng thị trường, kiểm soát nguồn cung cấp, định giá đầu vào. 6. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thép Việt Nam. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thép Việt Nam rất yếu.Khoáng sản cho phát triển ngành thép nước ta có trữ lượng thấp so với một số nước ASEAN. Lao động của ngành thép đông về lượng và kém về chất. Đội ngũ chuyên gia lành nghề và công nhân có tay nghề cao ít. Đây là tình trạng chung của lao động Việt Nam. Lợi thế về giá lao động rẻ chỉ là lợi thế về chi phí sản xuất. Điều này chỉ có được đối với các sản phẩm có hàm lượng lao động và nguyên liệu cao. Các ngành khoa học kỹ thuật và yêu cầu công nghệ tiên tiến thì không cần lợi thế này. Điều kiện sản xuất vốn có về công nghệ của các nước ASEAN cao hơn Việt Nam, do đó khả năng cạnh tranh sẽ vượt Việt Nam. Hơn nữa các nước ASEAN và các nước Nam Á khac chiến lược hướng về xuất khẩu sớm hơn Việt Nam và họ đã đạt tới một cơ cấu xuất khẩu hợp lý theo hướng xuất tinh, xuất hàng chế biến sâu. Việt Nam xuất khẩu chủ yếu dưới dạng thô từ tài nguyên đến nông sản. Các ngành sử dụng sản phẩm của ngành thép của các nước ASEAN như Thái Lan, Singapo, Indonesia, Philipin… đã phát triển ở trình độ cao, có sản phẩm xuất khẩu vào nhiều nước phát triển. Ở Việt Nam các ngành cơ khí chế tạo cho ngành thép phát triển rất chậm và yếu kém. Những ngành cơ khí phát triển như công nghiệp ô tô, xe máy, cơ khí chính xác, đóng tàu… chủ yếu là liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài, thực chất là của nước ngoài. Sẽ còn rất lâu Việt Nam mới được chuyển giao công nghệ hoàn chỉnh của các ngành cơ khí mạnh từ phía nước ngoài. Do đó khả năng thị trường nội địa cho công nghiệp thep (với các sản phẩm thép chất lượng cao và đặc biệt) là khó khăn cho ngành thép. Nguy cơ rõ ràng là ngành thép Việt Nam có thể mất thị trường ngay ở đất nước mình. Về chi phí sản xuất và giá thành thép Việt Nam đều cao hơn các nước khác. Chi phí sản xuất cao làm giảm vị thế ngành thép ngay ở thị trường nội địa. Ngoài ra, phôi thép là nguyên liệu chính và chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành có giá cả không cao hơn giá nhập khẩu của một số doanh nghiệp sản xuất thép ở các nước trong khu vực nên giá thành cao chỉ là do hệ số tiêu hao nguyên liệu của các nhà máy sản xuất Việt Nam cao và năng suất cán thép quá thấp so với trình độ của các nhà máy sản xuất trong khu vực. 7. Vấn đề đặt ra đối với ngành thép trong quá trình hội nhập Thiếu chiến lược phát triển: Trong nhiều thập niên qua, ngành thép Việt Nam thiếu hẳn một chiến lược phát triển dài hạn, chỉ chú trọng thép xây dựng với mức sản xuất dư thừa mà giá thành vẫn cao. Như vậy, có độ chênh giữa công suất và nhu cầu tiêu thụ. Sức ép cạnh tranh: Sản phẩm luyện cán thép của Việt Nam là sản phẩm thép xây dựng cacbon thông thường, là sản phẩm phổ thông, không có những yêu cầu kỹ thuật đặc biệt. Vì vậy khi tham gia cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài, không thể dùng rào cản kỹ thuật để bảo hộ sản phẩm trong nước. Thời gian gần đây, ngành thép Việt Nam mới phát triển mạnh do công ty nhà nước và công ty tư nhân cùng tham gia đầu tư vào ngành này. Đến nay, là thời điểm các công ty phải trả nợ các khoản vay ngân hàng để đầu tư. Trong cơ cấu giá thành sản phẩm một tấn thép có 20 – 25 USD là tiền khấu hao để trả nợ. Đây là điểm bất lợi cho các công ty thép khi phải cạnh tranh với các nước đã sản xuất thép nhiều năm. Với nhuững thách thức nêu trên, muốn tồn tại và phát triển trong bước đường hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới, chắc chắn ngành thép Việt Nam phải nỗ lực vượt bậc trong sản xuất kinh doanh, đồng thời phải có định hướng phát triển chính xác và sự chỉ đạo chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước. Khó khăn trên bước đường hội nhập: Theo cam kết tại Hiệp định hàng hoá ASEAN – Trung Quốc, mặt hàng thép tấm nhập khẩu vào Việt Nam sẽ được miễn thuế; còn đối với mặt hàng thép xây dựng, Việt Nam được chấp nhận lộ trình cắt giảm thuế từ từ, hiện nay áp dụng thuế suất nhập khẩu 30% và giảm dần đến năm 2015 mới xuống mức 0%. Nhưng hiện nay, giá thép xây dựng Việt Nam vẫn cao hơn thép nhập khẩu từ Trung Quốc. Đây chính là một khó khăn lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Khi đầu tư, các doanh nghiệp tin tưởng sẽ được bảo hộ bằng hàng rào thuế quan nhập khẩu ít nhất 7 – 10%. Khi Việt Nam gia nhập WTO10 chỉ những doanh nghiệp thép hiện đại và quy mô sản xuất đủ lớn, có sức cạnh tranh về giá thành mới có thể tồn tại. Những doanh nghiệp nhỏ công suất dưới 10 ngàn tấn ở nhiều địa phương sẽ có nguy cơ bị loại khỏi “sân chơi” chung. Ngoài vấn đề công nghệ lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ, hệ thống quản lý kiểu kế hoạch hoá tập trung, một trong những yếu kém lớn của ngành thép Việt Nam là chỉ tự túc được 30% phôi thép nguyên liệu cho các nhà máy luyện cán thép, phần còn lại lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu nên không chủ động được giá cả. II- Giải pháp phát triển ngành thép Việt Nam Quan điểm và mục tiêu phát triển. Quan điểm phát triển: Phát triển ngành thép Việt Nam phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và ngành công nghiệp của cả nước, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các địa phương

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhân tích thực trạng và giải pháp phát triển ngành thép.DOC
Tài liệu liên quan