Đề án Ngân sách nhà nước và thâm hụt ngân sách nhà nước

Hàng năm, ngân sách Nhà nước dành ra một khoản chi rất lớn để thực hiện phúc lợi xã hội như chi sự nghiệp giáo dục, chi sự nghiệp y tế, chi sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, chi sự nghiệp xã hội. Các khoản chi sự nghiệp giáo dục nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí của các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm góp phần thúc đầy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống cho nhân dân. Chi sự nghiệp y tế khoản chi phục vụ công tác phòng bệnh và chữa bệnh nhằm nâng cao mức sống cho mọi người dân trong xã hội. Việc nâng cao chất lượng hoạt động khám, chữa bệnh và tăng cường trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cho một nền y học hiện đại đòi hỏi cần thêm nhiều nguồn vốn nữa. Khoản chi cho các vấn đề xã hội nhằm bảo đảm đời sống của người lao động khi gặp khó khăn, tai nạn, già yếu, những người không có khả năng lao động đồng thời giải quyết những vấn đề xã hội nhất định, hỗ trợ cho đồng bào khi xảy ra bão lụt, thiên tai.

doc32 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 21/03/2014 | Lượt xem: 4001 | Lượt tải: 35download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề án Ngân sách nhà nước và thâm hụt ngân sách nhà nước, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
à còn là công cụ của Nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Do đó, tại thời điểm nộp thuế, người nộp thuế không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước. Thuế mang tính cưỡng chế và được thiết lập theo nguyên tắc luật định. Để phát huy tốt tác dụng điều tiết vĩ mô của các chính sách thuế, nội dung của chính sách thuế thường xuyên có sự thay đổi cho phù hợp với diễn biến thực tế của đời sống kinh tế xã hội và phù hợp với yêu cầu của quản lý kinh tế, tài chính. Các sắc thuế chủ yếu hiện nay đang được áp dụng ở nước ta gồm có: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu,… Các loại thuế ở nước ta được chia thành 2 nhóm lớn: thuế trực thu và thuế gián thu. Nhóm thuế trực thu là những loại thuế mà nhà nước thu trực tiếp vào các pháp nhân hay thể nhân khi có tài sản hoặc thu nhập được qui định nộp thuế. Đây là loại thuế mà người nộp thuế chính là người chịu thuế ví dụ như: thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất … Nhóm thuế gián thu: là những loại thuế đánh vào giá trị hàng hoá khi nó lưu chuyển trên thị trường, là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu thuế, nó được cấu thành trong giá cả hàng hoá dịch vụ và người tiêu dùng là người chịu thuế. Người nộp thuế không phải đối tượng chịu thuế ví dụ như: V.A.T, thuế tiêu thụ đặc biệt… Mỗi sắc thuế khác nhau, xét trên giác độ luật, đều được cấu tạo bởi các yếu tố sau: Đối tượng nộp thuế: Đối tượng nộp thuế xác định chủ thể nộp thuế là ai. Theo các sắc thuế hiện nay, đối tượng là các cá nhân hoặc các tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân. Đối tượng tính thuế: Đối tượng tính thuế xác định thuế được tính trên cái gì: tính trên giá trị tài sản, tính trên thu nhập hay trên phần giá trị gia tăng,… Thuế suất, thuế biểu: Trong các luật thuế hiện hành ở nước ta, các hình thức thuế suất được sử dụng phổ biến là thuế suất tỷ lệ và thuế suất lũy tiến. Thuế suất có vị trí quan trọng đặc biệt vì nó thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa người nộp thuế với Nhà nước. Biểu thuế thể hiện các mức thuế suất quy định khác nhau cho một đối tượng tính thuế Yếu tố miễn, giảm thuế: Việc quy định các yếu tố miễn giảm trong các sắc thuế nhằm thực hiện các vấn đề chính sách xã hội qua các luật thuế, đồng thời còn tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước sử dụng linh hoạt công cụ thuế để điều chỉnh các mặt hoạt động sản xuất theo chủ trương của Nhà nước. *Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước Trong nền kinh tế thị trường nhà nước tham gia các hoạt động kinh tế bằng việc đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh dưới hình thức góp vốn vào các doanh nghiệp, công ty liên doanh, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần. Số vốn đầu tư của nhà nước vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nói trên sẽ sinh lời và lợi tức thu được sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của nhà nước, hiệu quả sản xuất kinh doanh và cơ chế phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp. Các khoản thu này phản ảnh hoạt động kinh tế đa dạng của nhà nước, bao gồm: - Thu từ việc bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh. - Thu từ việc bán tài sản của nhà nước đã cho các chủ thể trong xã hội thuê trước đây. - Thu từ sử dụng vốn thuộc nguồn của ngân sách Nhà nước. - Thu từ việc bán lại các cơ sở kinh tế của nhà nước cho các thành phần kinh tế khác. - Thu từ cho thuê hoặc bán tài nguyên thiên nhiên. + Thu để bù đắp sự thiếu hụt của ngân sách Nhà nước: bao gồm các khoản vay trong nước và vay nước ngoài cho chi tiêu ngân sách. Chi của ngân sách Nhà nước: Chi của ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. Chi ngân sách Nhà nước chính là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của Nhà nước. Chi ngân sách Nhà nước luôn gắn chặt với những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Chính phủ phải đảm nhận trước mỗi quốc gia. Mức độ, phạm vi chi tiêu ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào tính chất nhiệm vụ của Chính phủ trong mỗi thời kỳ. Tính hiệu quả của các khoản chi ngân sách Nhà nước được thể hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu quả về mặt xã hội và chính trị, ngoại giao. Vì vậy, khi xem xét, đánh giá về các khoản chi ngân sách, cần sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng, đồng chi ở tầm vĩ mô. Xét về mặt tính chất, phần lớn các khoản chi ngân sách Nhà nước đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp và mang tính bao cấp. Vì vậy, các nhà quản lý phải có sự phân tích, tính toán cẩn thận trên nhiều khía cạnh trước khi đưa ra các quyết định chi tiêu để tránh được những lãng phí không cần thiết và nâng cao hiệu quả chi tiêu ngân sách Nhà nước. Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân chia các khoản chi ngân sách Nhà nước: theo chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và theo tính chất kinh tế của các khoản chi ngân sách Nhà nước, theo các ngành kinh tế, theo tính chất của quá trình tái sản xuất xã hội. Theo chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, nội dung chi ngân sách Nhà nước bao gồm: + Chi kiến thiết kinh tế + Chi văn hóa – xã hội + Chi quản lý hành chính + Chi an ninh, quốc phòng + Các khoản chi khác Hiện nay, cách phân chia theo chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ít được sử dụng, người ta thường phân chia nội dung chi ngân sách Nhà nước theo tính chất kinh tế của các khoản chi ngân sách Nhà nước. Theo tiêu chí này, chi ngân sách Nhà nước được chia thành các nội dung: + Chi thường xuyên: Là các khoản chi không có trong khu vực đầu tư và có tính chất thường xuyên để tài trợ cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước nhằm duy trì hoạt động. Về nguyên tắc, các khoản chi này phải được tài trợ bằng các khoản thu không mang tính hoàn trả (thu trong cân đối) của ngân sách Nhà nước. Chi thường xuyên gồm có: Chi về chủ quyền quốc gia: tức là các chi phí mà cơ quan Nhà nước cần phải thực hiện để bảo vệ chủ quyền quốc gia như quốc phòng, an ninh, ngoại giao, thông tin đại chúng,… Chi phí liên quan đến sự điều hành và duy trì hoạt động của các cơ quan Nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ được giao Chi phí do sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm cải thiện đời sống nhân dân như: trợ cấp cho Nhà nước để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ quỹ Bảo hiểm xã hội,… + Chi đầu tư phát triển: là tất cả các chi phí làm tăng thêm tài sản quốc gia, bao gồm: Chi mua sắm máy móc, thiết bị và dụng cụ Chi xây dựng mới và tu bổ công sở, đường xá, kiến thiết đô thị Chi cho việc thành lập các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn vào các công ty, góp vốn vào các đơn vị, tổ chức sản xuất kinh doanh Các chi phí chuyển nhượng, đầu tư Chi phí đầu tư liên quan đến tài trợ của Nhà nước như: cho vay ưu đãi, trợ cấp cho các pháp nhân kinh tế để thực hiện chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước. Thâm hụt ngân sách Nhà nước Những vấn đề cơ bản về thâm hụt ngân sách Nhà nước *Khái niệm: Thâm hụt ngân sách Nhà nước (hay còn gọi là thiếu hụt ngân sách Nhà nước) là tình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách Nhà nước vượt quá các khoản thu không mang tính hoàn trả (thu trong cân đối) của ngân sách Nhà nước. *Gọi B là hiệu số giữa thu và chi ngân sách, ta có: B = T – G Khi B > 0 ta có thặng dư ngân sách B = 0 ta có cân bằng ngân sách B < 0 ta có thâm hụt ngân sách *Phân loại: Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ. Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng, ... Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên. Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như sau: - Ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng tiền trong một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm). - Ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là bao nhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng. - Ngân sách chu kỳ: là chênh lệch giữa ngân sách thực có và ngân sách cơ cấu. Việc phân biệt hai loại thâm hụt thành thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế. Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách Nhà nước, người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng thu trong ngân sách Nhà nước. Nguyên nhân dẫn tới thâm hụt ngân sách Nhà nước Trong lịch sử phát triển tài chính, thâm hụt ngân sách đã trở thành một hiện tượng khá phổ biến trong các nước đang phát triển và những nước kinh tế chậm phát triển. Ở mỗi quốc gia, nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng này lại khác nhau. Nhìn chung, các nguyên nhân này có thể chia thành hai nhóm nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách Nhà nước: + Nhóm nguyên nhân khách quan do diễn biến của chu kỳ kinh doanh, do tác động của điều kiện tự nhiên, của các yếu tố bất khả kháng. Hàng năm, khi có thiên tai, lũ lụt, hạn hán,… xảy ra, Chính phủ phải chi ngân sách Nhà nước để cứu trợ cho người dân bị ảnh hưởng của thiên tai. Hay những diến biến bất thường của kinh tế như khủng hoảng kinh tế 2007 – 2008, Nhà nước cũng phải đưa ra gói kích cầu trị giá 1 tỷ đôla để hỗ trợ nền kinh tế vượt qua cơn khủng hoảng. + Nhóm nguyên nhân chủ quan do quá trình quản lý và điều hành ngân sách Nhà nước. Nhóm nguyên nhân này liên quan đến việc sử dụng ngân sách Nhà nước hiệu quả hay không. Đặc biệt cần xem xét hiệu quả của các dự án đầu tư cấp vốn từ ngân sách Nhà nước. Hiệu quả dự án không cao, tham nhũng, … là một trong những nguyên nhân dẫn đến thâm hụt ngân sách Nhà nước. Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách Nhà nước Ảnh hưởng đến nền kinh tế Nhiều nhà kinh tế theo trường phái hiện đại cho rằng ngân sách Nhà nước không nhất thiết phải cân bằng, ngân sách cân bằng chỉ là trường hợp ngoại lệ, mà ngân sách nhà nước thường xuyên thặng dư hay thâm hụt. Điều đó hoàn toàn hợp lý trong ngắn hạn, trong một hoặc vài niên độ. Tuy nhiên, về lâu dài, chính phủ các nước luôn mong muốn đạt được trạng thái cân bằng ngân sách nhà nước, tạo điều kiện cho nền kinh tế ổn định và phát triển vững chắc. Ở các nước trên thế giới và nước tà, khi nghiên cứu nội dung thu, chi và tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước, cho thấy một nguyên tắc cần tuân thủ là tổng số thu thường xuyên (bao gồm thu từ thuế và các khoản không mang tính chất vay nợ) phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao cho chi đầu tư phát triển. Như vậy, toàn bộ số thâm hụt ngân sách nhà nước được dùng cho chi đầu tư phát triển, việc tìm kiếm nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước cũng chính là việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư cho phát triển. Tuy nhiên, nếu thâm hụt ngân sách Nhà nước diễn ra trong thời gian dài sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế quốc dân. Khi nghiên cứu về những ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách Nhà nước, các nhà kinh tế đều cho rằng: ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách Nhà nước đối với nền kinh tế phụ thuộc vào việc nó tác động đến lãi suất thị trường, sự ổn định đồng tiền, đầu tư, cán cân thương mại như thế nào? Sau đây chúng ta sẽ phân tích tác động của thâm hụt ngân sách Nhà nước tới từng yếu tố cụ thể này. Thứ nhất, đối với lãi suất và sự ổn định của đồng tiền, tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước với tỷ lệ cao và triền miên sẽ làm tăng lãi suất thị trường và giảm sự ổn định của đồng tiền trong nước. Nhìn vào những nước đã từng trải qua lạm phát cao sẽ thấy rằng, lạm phát ở những nước này thường là hệ quả của việc in tiền nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân sách. Như vậy, thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn tới việc nhà nước buộc phải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và điều này đến lượt nó dẫn tới lạm phát. Lạm phát cao làm mất sự ổn định của đồng tiền và làm tăng lãi suất.  Thực tế trong những năm qua, lượng vay tiền từ bên ngoài vào nền kinh tế nước ta qua để bù đắp thâm hụt ngân sách chiếm khoảng 1/3 số thâm hụt, tức là khoảng 1,5- 1,7% GDP. Nếu cộng thêm cả phần vay về cho vay lại (phát hành trái phiếu chính phủ quốc tế) thì lượng tiền từ bên ngoài vào nền kinh tế nước ta qua bồi đắp thâm hụt ngân sách nhà nước khoảng 2,3 – 3% GDP. Đây chính là nguyên nhân gây ra lạm phát cao trong năm 2007 và các tháng đầu năm 2008. Còn phần bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước từ nguồn vay trong nước về cơ bản chỉ thu tiền từ trong lưu thông vào ngân sách nhà nước và sau đó lại chuyển ra lưu thông nên không làm tăng lượng tiền cơ bản trên thị trường mà chỉ làm cho vòng quay tiền tệ có thể tăng nhanh hơn, tạo hệ số nở tiền cao hơn mức cần thiết. Điều này cũng có tác động một phần gây ra lạm phát nhưng không lớn bằng trực tiếp phát hành tiền ra và vay vốn từ bên ngoài để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước. Thứ hai, đối với đầu tư, thâm hụt ngân sách Nhà nước sẽ làm suy giảm đầu tư trong tương lai. Khi có thâm hụt ngân sách, Nhà nước phải tìm cách để bù đắp thâm hụt ngân sách. Hiện nay các biện pháp được sử dụng chủ yếu là vay nợ trong nước cũng như nước ngoài. Thâm hụt ngân sách nhà nước kéo dài trong nhiều năm làm gánh nặng nợ ngày càng nặng nề, việc trả nợ cho bù đắp thâm hụt sẽ làm giảm nguồn tiền dành cho đầu tư. Mặt khác, để cải thiện bội chi kéo dài, Nhà nước cũng phải tìm cách giảm chi tiêu chính phủ, việc này ảnh hưởng lớn đến đầu tư chính phủ cho nền kinh tế quốc dân. Đầu tư giảm sút là tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng của nền kinh tế. Thứ ba, đối với cán cân thương mại, thâm hụt ngân sách nhà nước có thể gây ra mất cân bằng cán cân thương mại, gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai. Một trong những nguy cơ gây ra khủng hoảng kinh tế là vấn đề thâm hụt kép: vừa thâm hụt tài khoản vãng lai lớn, lại vừa thâm hụt ngân sách chính phủ lớn. Để thấy đước mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai, ta xem xét đẳng thức : CA = Sp + Sg – I = (Y – T – C) + (T – G) – I Trong đó CA (current account) là mức thâm hụt/thặng dư của tài khoản vãng lai, Sp là tiết kiệm của khu vực tư nhân, Sg là chênh lệnh giữa thu ngân sách và chi tiêu của chính phủ. Con số chênh lệch giữa thu và chi ngân sách chính là thâm hụt ngân sách. Từ đẳng thức trên, ta thấy việc tăng đầu tư hay tăng thâm hụt ngân sách sẽ dẫn tới tăng thâm hụt tài khoản vãng lai. Ảnh hưởng đến thực hiện phúc lợi xã hội: Hàng năm, ngân sách Nhà nước dành ra một khoản chi rất lớn để thực hiện phúc lợi xã hội như chi sự nghiệp giáo dục, chi sự nghiệp y tế, chi sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, chi sự nghiệp xã hội. Các khoản chi sự nghiệp giáo dục nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí của các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm góp phần thúc đầy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống cho nhân dân. Chi sự nghiệp y tế khoản chi phục vụ công tác phòng bệnh và chữa bệnh nhằm nâng cao mức sống cho mọi người dân trong xã hội. Việc nâng cao chất lượng hoạt động khám, chữa bệnh và tăng cường trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cho một nền y học hiện đại đòi hỏi cần thêm nhiều nguồn vốn nữa. Khoản chi cho các vấn đề xã hội nhằm bảo đảm đời sống của người lao động khi gặp khó khăn, tai nạn, già yếu, những người không có khả năng lao động đồng thời giải quyết những vấn đề xã hội nhất định, hỗ trợ cho đồng bào khi xảy ra bão lụt, thiên tai. Khoản chi này đặc biệt cần thiết ở Việt Nam khi nước ta thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lụt, mất mùa ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân. Để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước trong thời gian dài, Nhà nước phải cắt giảm các khoản chi tiêu của Chính phủ làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện phúc lợi xã hội nhằm hỗ trợ và cải thiện đời sống cho người dân. 1.2.4. Các biện pháp khắc phục thâm hụt ngân sách Nhà nước: Khi xảy ra thâm hụt ngân sách nhà nước, Nhà nước phải tìm các nguồn thu để bù đắp bội chi. Có nhiều giải pháp bù đắp thâm hụt ngân sách như: phát hành tiền để bù đắp bội chi, sử dụng dự trữ ngoại tệ, vay trong nước và nước ngoài. Ngoài ra, trong năm tài khóa tiếp theo, Chính phủ có thể sử dụng các biện pháp như tăng thuế, giảm chi tiêu công để hạn chế bội chi ngân sách quá lớn. 1.2.4.1. Các biện pháp bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước: a. Vay trong nước và vay nước ngoài: Trong nỗ lực bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước, giải pháp thường được sử dụng là vay thêm tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, bao gồm vay trong nước và vay nước ngoài. Nó được phản ánh bằng việc phát hành tín dụng nhà nước. Tín dụng nhà nước là một họat động thuộc lĩnh vực tài chính tiền tê, gắn liền với hoạt động ngân sách Nhà nước, nó phản ánh mọi quan hệ tín dụng, giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế xã hội, với dân cư và nước ngoài, bao gồm cả tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. *Vay nợ trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái. Công trái phiếu là chứng chỉ nhận nợ của nhà nước, là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội và ngân hàng. Ở Việt Nam chính phủ thường ủy nhiệm cho Kho Bạc nhà nước phát hành trái phiếu chính phủ dưới các hình thức: - Tín phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, có thời hạn dưới một năm, được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối tạm thời của ngân sách nhà nước trong năm tài chính. - Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngân sách nhà nước xuất phát từ yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế. - Trái phiếu công trình: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm và được phát hành để huy động vốn cho các công trình xác định đã được ghi trong kế hoạch đầu tư của nhà nước. Đối với Việt Nam, công trái là hình thức huy động vốn có hiệu quả, qua các đợt phát hành với chính sách lãi suất và thời hạn hoàn trả hợp lý đã huy động được nguồn vốn to lớn vào ngân sách nhà nước đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của nhà nước góp phần chống lạm phát và ổn định nền kinh tế xã hội. *Viện trợ và vay nợ nước ngoài: - Viện trợ nước ngoài: bao gồm viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại với lãi suất thấp và thời hạn trả nợ dài hơn so với các khoản vay trên thị trường quốc tế. Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức quốc tế cấp cho chính phủ một nước nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA). Nguồn viện trợ này được các tổ chức quốc tế chủ động phân bổ theo những tiêu chuẩn do Liên Hợp Quốc qui định đối với các loại quỹ chung hoặc do các tổ chức quốc tế chuyên ngành cấp đối với các loại quỹ ủy thác trên cơ sở các dự án xây dựng trước của nước nhận viện trợ. Nhìn chung, viện trợ quốc tế là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn đang thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vấn đề quan trọng ở đây là các nước nhận viện trợ cần có phương án sử dụng vốn viện trợ có hiệu quả. -Vay nợ nước ngoài: là những khoản cho vay của nước ngoài theo điều kiện thương mại và lãi suất thị trường. Vay nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng xuất khẩu (khi nhà nước mua hàng của nước ngoài nhưng được hoãn trả nợ trong một thời gian nhưng phải chịu lãi suất trên khoản nợ đó) và vay từ các ngân hàng thương mại nước ngoài. Cũng giống như nguồn vốn viện trợ, vay nợ nước ngoài là nguồn vốn quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Điểm khác nhau là do vay theo điều kiện thương mại phải chịu lãi suất tương đối cao, vì vậy việc tính toán sử dụng nguồn vốn này cho có hiệu quả là hết sức cần thiết, khoản vay nợ này sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách. b. Phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách: Chính phủ khi bị thâm hụt ngân sách sẽ đi vay Ngân hàng Trung ương để bù đắp. Để đáp ứng nhu cầu này, tất nhiên, Ngân hàng trung ương sẽ tăng việc in tiền. Điều này sẽ tạo ra thêm cơ sở tiền tệ. Chính vì vậy, nó được gọi là tiền tệ hoá thâm hụt. Ưu điểm của biện pháp này là nhu cầu bù tiền để bù đắp ngân sách nhà nước được đáp ứng một cách nhanh chóng, không phải trả lãi, không phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần. Nhưng, nhược điểm của biện pháp này lại lớn hơn rất nhiều lần. Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền. Nó đẩy cho việc lạm phát trở nên không thể kiểm soát nổi. Trong những năm 80 của thế kỷ 20, nước ta đã bù đắp bội chi ngân sách nhà nước bằng cách in thêm tiền đưa vào lưu thông. Việc này đã đẩy tỷ lệ lạm phát đỉnh điểm lên tới hơn 600%, nền kinh tế bị trì trệ... Chính vì những hậu quả đó, biện pháp này rất ít khi được sử dụng. Và từ năm 1992, nước ta đã chấm dứt hoàn toàn việc in tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước. c. Sử dụng dự trữ ngoại tệ: Quỹ dự trữ ngọai tệ là lượng ngoại tệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quan hữu trách tiền tệ của một quốc gia hoặc một lãnh thổ nắm giữ dưới dạng ngoại tệ nhằm thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ đồng tiền quốc gia. Chính phủ có thể sử dụng việc giảm dự trữ ngoại tệ để tài trợ thâm hụt ngân sách. Ưu điểm của việc này là dự trữ hợp lý có thể giúp quốc gia tránh được khủng hoảng. Tuy nhiên, việc sử dụng quỹ dự trữ ngoại tệ để tài trợ thâm hụt ngân sách lại tiềm ẩn nhiều rủi ro và phải hết sức hạn chế sử dụng. Vì nếu khu vực tư nhân cho rằng nguồn dự trữ ngoại tệ của quốc gia hết sức mỏng mảnh, thì sự mất niềm tin vào khả năng mà chính phủ có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối có thể dãn đến một dòng vốn ồ ạt chảy ra thế giới bên ngoài, làm cho đồng nội tệ giảm mạnh giá và làm tăng sức ép lạm phát. Kết hợp với việc vay nợ nước ngoài ở trên, việc giảm quỹ dự trữ ngoại tệ cũng sẽ khiến cho tỷ giá hối đoái tăng, làm suy yếu sức cạnh tranh quốc tế của hàng hoá trong nước. 1.2.4.2. Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách Nhà nước: Bên cạch các biện pháp bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước, Nhà nước còn xem xét các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách cho năm sau. Các biện pháp đó là tăng thu và giảm chi. Tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước là một bài toán khó đối với các quốc gia. Nguồn thu trong cân đối của ngân sách chủ yếu là nguồn thu từ thuế. Vì vậy, tăng thuế sẽ làm cho thu của ngân sách Nhà nước tăng nhanh chóng. Tuy nhiên, việc tăng thuế sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất cũng như người tiêu dùng. Tăng thuế trực tiếp sẽ làm cho chi phí sản xuất đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất tăng lên, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn hơn trong sản xuất và tiêu thụ, không khuyến khích sản xuất phát triển. Mặt khác, chi phí sản xuất tăng nên doanh nghiệp buộc phải tăng giá bán, điều này lại tác động đến người tiêu dùng và dễ dẫn đến lạm phát khi xảy ra hiệu ứng tăng giá làm cho giá cả của các mặt hàng tăng cao. Do vậy, khi xem xét đến giải pháp tăng thuế để tăng thu cho ngân sách Nhà nước, cần phải xem xét các hiệu ứng xảy ra khi tăng thuế để đưa ra các chính sách thuế hợp lý. Giảm chi ngân sách Nhà nước là giảm chi tiêu của Chính phủ. Cắt giảm chi tiêu của Chính phủ chủ yếu tập trung vào hai khoản mục chính là cắt giảm đầu tư công và cắt giảm chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách Nhà nước. Cắt giảm đầu tư công làm giảm đầu tư cho nền kinh tế, mục tiêu tăng trưởng kinh tế khó đạt được. Do vậy, khi cắt giảm đầu tư công cần xem xét đến hiệu quả của các dự án, chọn lựa dự án đầu tư trên cơ sở hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội của dự án, dừng cấp vốn cho các dự án đang thực hiện nhưng chưa cấp thiết. Chương 2: Thực trạng ngân sách Nhà nước và tình hình thâm hụt ngân sách tại Việt Nam giai đoạn 2005 – 2009 2.1. Thực trạng ngân sách Nhà nước và tình hình thâm hụt ngân sách tại Việt Nam 2.1.1. Thực trạng ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2005 – 2009 *Thành tựu: Trong những năm gần đây, với các chính sách của Nhà nước, thực trạng thu chi ngân sách đã đạt được những thành tựu nhất định. Thứ nhất, thu ngân sách Nhà nước đã có sự tăng trưởng nhanh làm cho tiềm lực tài chính ngân sách được củng cố và ngày càng vững mạnh. Cơ cấu thu ngân sách Nhà nước chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tài chính ngân sách Nhà nước có được thế tự chủ. Mặc dù năm 2007 – 2008 kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng thu ngân sách vẫn giữ được ở mức hợp lý và đề

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc110925.doc
Tài liệu liên quan