Đề án Thu hút và sử dụng có hiệu quả đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 2

1. Các khái niệm đầu tư 2

1.1. Đầu tư 2

1.2. Đầu tư nước ngoài 2

1.2.1. Khái niệm 2

1.2.2 Bản chất và hình thức đầu tư nước ngoài. 2

2. Tính tất yếu khách quan của hoạt động đầu tư nước ngoài.3. Vai trò của đầu tư nước ngoài 3

3. Vai trò của đầu tư nước ngoài 5

3.1. Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với các nước nhận đầu tư. 5

3.2. Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với các nước đi đầu tư. 5

4. Phương pháp thu hút đầu tư nước ngoài. 6

4.1. Giữ vững sự ổn định từ xã hội, 6

4.2. Giữ vững sự ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân, kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, giá cả. 6

4.3. Hoàn thiện môi trường pháp lý 6

4.4. Xây dựng chiến lược hợp tác 6

4.5. Phát triển kinh tế thị trường 6

4.6. Cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài. 7

4.7. Củng cố quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 8

4.8. Cải tạo nâng cấp và xây dựng mới kết cấu hạ tầng. 8

4.9. Dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế 8

4.10. Mở cả về thông tin trong và ngoài nước 8

5. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc thu hút quản lý và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài. 8

5.1. Các nước ASEAN 9

5.2. Trung Quốc 9

5.2.1. Các chính sách biện pháp chủ yếu 10

5.2.2. Về cơ cấu đầu tư. 11

5.2.3. Tình hình sử dụng vốn đầu tư nước ngoài trong một số ngành công nghiệp .11

PHẦN II: THỰC TRẠNG THU HÚT SỬ DỤNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 13

1 Những thành tựu đạt được trong quá trình thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài. 13

2. Những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài. 15

2.1. Về chính sách pháp luật 15

2.2. Về nguồn thu hút vốn 16

2.3. Về cơ cấu đầu tư: 17

2.4. Về hình thức đầu tư 17

2.5. Về chuyển giao công nghệ 18

2.6. Về hiệu quả đầu tư 18

2.7. Hoạt động kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 18

2.8. Những tồn tại khác 19

PHẦN III: GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 20

1. Quan điểm của Việt Nam về hoạt động đầu tư nước ngoài. 20

2. Các giải pháp thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài 21

2.1. Các giải pháp trước mắt 21

2.2. Các giải pháp lâu dài 22

2.2.1. Phát triển nguồn nhân lực. 23

2.2.2. Cải thiện môi trường pháp lý về đầu tư 25

2.2.3. Xúc tiến và lựa chọn đối tác đầu tư. 26

2.2.4. Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng .27

2.2.5 Giữ vững ổn định chính trị - xã hội .28

2.2.6 Xây dựng bộ máy nhà nước các cấp quản lí đầu tư nước ngoài mạnh về 28

KẾT LUẬN 30

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

doc35 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 30/08/2013 | Lượt xem: 844 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề án Thu hút và sử dụng có hiệu quả đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đạt 469.33 tỷ USD. Trong đó có 177,22 tỷ USD đã được đưa vào sử dụng. Tỷ l.ệ vốn đã được đưa vào sử dụng là37,76%. Vào thời điểm cuối năm 1996, ở Trung Quốc đã có khoảng 140000 xí nghiệp dùng vốn nước ngoài đang hoạt động. Khoảng 200 trong số 500 tập đàn kinh doanh lớn nhất thế giới đã đầu tư vào Trung Quốc. Từ năm 1993 đến nay, Trung Quốc chỉ đứng thứ hai sau Hoa Kỳ xét về khối lượng thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Để đạt được kết quả đó là nhờ vào các chính sách, cơ cấu đầu tư hợp lý của Nhà nước, cụ thể là: 5.2.1. Các chính sách biện pháp chủ yếu Một là: Mở rộng địa bàn thu hút vốn và môi trường kinh doanh thuận lợi. Đối với các khu vực ven biển có nhiều thuận lợi hơn về giao thông, cơ sở hạ tầng… được chọn mở cửa trước. Ở các nơi như tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến gần với Hồng Công, Đài Loan là quê hương của những hoa kiều giàu có được chọn là nơi để thành lập các đặc khu kinh tế. Đồng thời với quá trình mở rộng địa bàn thu hút vốn, Trung quốc thực hiện những chính sách tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi. Đó là dùng vốn vay kết hợp với huy động các nguồn lực trong nước để xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng, phát triển các tuyến đường bộ, đường sắt, sân bay… Đến nay Trung Quốc đã ban hành hơn 500 văn bản pháp lý, từ các bộ luật đến những quy định liên quan đến các quan hệ đối ngoại của đầu tư nước ngoài. Hai là: Các chính sách ưu đãi. Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đặc biệt là về thuế. Bên cạnh ưu đãi về thuế, Trung Quốc còn ưu nhiều đãi khác áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm khuyến khích các hoạt động: tái đầu tư, kéo dài kỳ hạn kinh doanh hay những ưu đãi về khu vực đầu tư. Ba là: Đa dạng hóa các hình thức đầu tư và chủ đầu tư. - Về hình thức đầu tư: Cho đến nay, ở Trung Quốc vẫn chỉ có ba hình thức chính đó là xí nghiệp chung vốn kinh doanh, xí nghiệp hợp tác kinh doanh, và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài. - Về chủ đầu tư: Trung Quốc quan tâm khuyến khích đầu tư đối với các hoa kiều ở Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao mặt khác, các chủ đầu tư còn là các công ty Mỹ, Đức, Nhật Bản, Anh, Pháp… được khuyến khích vào Trung Quốc. Trong những năm cuối thế kỷ này, Trung Quốc liên tục ban hành nhiều chính sách, biện pháp quan trọng để cải thiện môi trường đầu tư cho phù hợp với những đòi hỏi của nền kinh tế. + Trọng tâm của các yếu tố về đầu tư nước ngoài được chuyển từ số lượng sang chất lượng. + Từng bước xóa bỏ các chính sách ưu tiên đối với đầu tư nước ngoài thông qua tái điều chỉnh biểu thuế quan cho phù hợp với các xu hướng mới của quốc tế. + Thúc đẩy cải cách tài chính và cải cách hệ thống ngoại thương giảm tối thiểu việc hạn chế những hoạt động của các xí nghiệp dùng vốn nước ngoài. + Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các khu vực miền trung và miền tây. + Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường bảo vệ quyền lợi của các nhà kinh doanh nước ngoài qua tăng cường các quy định pháp luật. 5.2.2. Về cơ cấu đầu tư. Tính đến năm 1995, 57,1% tổng số vốn FDI vào Trung Quốc được đưa vào các ngành CN: 36,2% vào các ngành dịch vụ: 5% vào các ngành nông nghiệp, nghề rừng, chăn nuôi, gia súc, nghề cá, bảo vệ nguồn nước. Trong hai năm 1996 - 1997, vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành dịch vụ bao gồm bất động sản, tài chính, bảo hiểm, tư vấn… đều gia tăng. Hiện nay, 123 ngân hàng và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động kinh doanh tại Trung Quốc đã thu hút được tổng số 2,94 tỷ USD tiền gửi. Tính đến cuối năm 1994 tổng số vốn mà các ngân hàng này cho vay đã lên tới 26, 1 tỷ USD, trong đó 94% là cho vay trong nước. 5.2.3. Tình hình sử dụng vốn đầu tư nước ngoài trong một số ngành công nghiệp. Trong lĩnh vực, sản phẩm của các doanh nghiệp dùng vốn đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ phần áp đảo. Chẳng hạn các sản phẩm của Motorola, chiếm 70% trong thị trường các thiết bị thông tin - truyền tin ở Trung Quốc. Trong ngành sản xuất xe đạp có tới 25% số xe đạp TQ do các liên doanh chế tạo. Trong ngành sản xuất ô tô - xe máy, tính đến 1995 TQ đã thành lập được 350 cơ sở liên doanh, thu hút tổng số 1,5 tỷ USD FDI. Trong ngành công nghiệp hóa học, đầu tư nước ngoài tập trung vào hai lĩnh vực thu lợi cao là sản xuất các loại lốp xe và cacbonatnatri. tốc độ thu hút đầu tư nước ngoài trong ngành dược phẩm dường như cao hơn. Trong thời gian 1994 ở TQ có 1313 liên doanh. Năm1995, con số lên tới 1500. Trong ngành công nghiệp điện tử vào cuối năm 1992, TQ đã thành lập được 4820 cơ sở liên doanh với nước ngoài. Trong năm 1993, các xí nghiệp dùng vốn nước ngoài đã tạo ra 1/3 giá trị sản lượng của ngành. Trong 15 năm qua, ngành đã sử dụng 2 tỷ USD FDI tương đương 1/3 giá trị tài sản cố định đầu tư vào toàn ngành. Thực tế cho thấy, không chỉ giúp TQ có thêm nguồn vốn, kỹ thuật tiên tiến cần thiết cho phát triển kinh tế và công nghiệp hóa mà còn đem đến cho TQ các kinh nghiệm quản lý có hiệu quả, đồng thời tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm TQ trên thị trường quốc tế. Tóm lại, kinh nghiệm thu hút và sử dụng vốn nước ngoài của một số nước khu vực Châu Á xuất phát từ đặc thù từng nước, nhóm nước. Mỗi một hình thức sử dụng vốn bên ngoài có tác dụng hiệu quả đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phù hợp với cách lựa chọn của mỗi nước. Không thể có sự sao chép và áp dụng máy móc phương pháp của một nước này cho nước khác. PHẦN II: THỰC TRẠNG THU HÚT SỬ DỤNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1 Những thành tựu đạt được trong quá trình thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài. Thời gian qua hoạt động đầu tư nước ngoài đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của kinh tế xã hội của Việt Nam. Trước hết, nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã bổ sung một phần quan trọng vào nguồn vốn cho phát triển kinh tế của đất nước ta, khắc phục tình trạng thiếu vốn của đất nước ta thời kỳ đổi mới. Vào thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tỷ lệ tiết kiệm thấp, thậm chí còn âm. Tuy nhiên, từ sau đổi mới tỷ lệ tiết kiệm nước ta đã tăng lên đáng kể nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế trong nước. Hơn nữa, nước ta hàng năm phải trả nhiều nợ cho nước ngoài trong khi ngân sách Nhà nước luôn trong tình trạng thâm hụt. Chính vì vậy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài trở thành một nguồn quan trọng cung cấp vốn cho sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Tổng vốn đầu tư và FDI giai đoạn 1990 - 1995 (Theo tạp chí nghiên cứu kinh tế số 1/1998) Đơn vị tính: tỷ đồng Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995 Tổng Tổng vốn đầu tư 14917 16707 21248 34176 43100 57000 187148 Tổng vốn FDI 2226 2860 2885 12210 19492 22005 61673 Tỷ trọng FDI 14,9 17,1 13,5 35,7 45,2 38,5 32,29 * Trong giai đoạn 1990 - 1995 Vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp khoảng 30% tổng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế của nước ta. Từ đó đến nay giao động quanh mức 30%. Thứ hai, nguồn vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu là ngoại tệ mạnh và máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại nên đã tạo ra cơ sở vật chất mới bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế quốc dân nhất là công nghiệp. Chúng ta đã tiếp nhận một số kỹ thuật công nghệ tiên tiến trong nhiều ngành kinh tế như: công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, thăm dò dầu khí, công nghệ điện tử, sản xuất lắp ráp ôtô, xe máy, hóa chất… Phần lớn công nghệ kỹ thuật du nhập vào nước ta thuộc loại trung bình của thế giới nhưng vẫn tiên tiến hơn những công nghệ hiện có. Ngoài ra, chúng ta còn tiếp thu học hỏi được nhiều kinh nghiệm quan lý tiên tiến của nước ngoài nên đã góp phần nâng cao chất lượng, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm do Việt Nam sản xuất ra. Ba là hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra một khối lượng hang hóa và sản phẩm lớn cho xuất khẩu từ đó góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu cho nước ta. Doanh thu và xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (1995 - 1996) Đơn vị tính: tr.USD Năm 1995- 1991 1992 1993 1994 1995 1996 Tổng số doanh thu 192 230 358 850 1277 1500 4404 xuất khẩu 52 112 115 350 400 780 1809 (Theo tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 2/1997). Tính chung từ năm 1995 - 1996 tổng giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 1809 tr.USD bằng 41% tổng doanh thu của khu vực này và trong các năm tỷ lệ này không ngừng tăng lên. Cùng với định hướng xuất khẩu, các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã hướng vào các ngành thay thế nhập khẩu như: xi măng, thép xây dựng… Bốn là, hoạt động của các doanh nghiệp thuộc khu vực đầu tư nước ngoài đã tạo ra một khoản thu cho ngân sách thông qua tỷ lệ phí và thuế, mức độ tăng lên qua các năm. Nộp ngân sách của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (1993 - 1996) Năm 1993 1994 1995 1996 Tổng số Nộp thuế 120 128 195 300 743 Hơn nữa, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần quan trọng tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam trong thời gian dài, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Năm là, hoạt động đầu tư nước ngoài còn gó phần hình thành các khu vực công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế trọng điểm, ngành công nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế nước ta. Đến cuối tháng 7/1998, Việt Nam đã có 54 khu công nghiệp khu chế xuất trong đó có 48 khu đi vào hoạt động trải dài từ Bắc vào Nam. Sáu là, về mặt xã hội, hoạt động đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhiều chỗ làm góp phần giải quyết khó khăn về việc làm trong nền kinh tế nước ta, tiết kiệm ngoại tệ cho nước ta do chủ trương thay thế hàng nhập khẩu, nâng cao mức sống của người lao động nói chung, người dân địa phương nơi doanh nghiệp đang hoạt động nói riêng. Đến hết tháng 3/2000 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm trực tiếp cho 299720 lao động và hàng chục vạn lao động gián tiếp. Nhiều cán bộ lịch sử của chúng ta khi vào làm việc trong các doanh nghiệp này đã có điều kiện để phát huy năng lực của mình vươn lên đảm nhận những công việc quan trọng, có uy tín với các đối tác nước ngoài, tăng thêm lòng tin của họ vào nước ta. Cuối cùng, hoạt động đầu tư nước ngoài đã góp phần đưa những tiềm năng về đất đai, rừng biển… của nước ta trở thành hiện thực thông qua các dự án thăm dò và khai thác dầu khí, dự án sản xuất linh kiện điện tử, dệt may… Đánh giá tổng quát, hoạt động đầu tư nước ngoài đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đặc biệt trong giai đoạn nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay. 2. Những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài. Bên cạnh những thành tựu trên, hoạt động đầu tư nước ngoài còn bộc lộ nhiều hạn chế không nhỏ. 2.1. Về chính sách pháp luật Vấn đề chuyển lỗ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài, chỉ có các doanh nghiệp liên doanh mới được chuyển lỗ của bất kỳ năm tính thuế nào sang năm có lãi tiếp theo thời gian chuyển lỗ không quá 5 năm. Nhưng cũng theo luật này, chỉ có doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đều là pháp nhân Việt Nam việc quy định chuyển lỗ như trên đã gây sự phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư nước ngoài. Về thuế doanh thu có hiện tượng thuế chồng lên thuế, luật thuế thu nhập công ty thuế suất chủ yếu là 32% có hiệu lực từ ngày 1/1/1999 trong khi theo luật đầu tư nước ngoài doanh nghiệp có vốn nước ngoài trừ dầu khí và khai thác vàng bạc đã quí được hưởng thuế suất 100%, 20%, 25% trong một thời gian nhất định hoặc suốt thời gian thực hiện dự án. Như vậy tất cả doanh nghiệp cố vốn nước ngoài được cấp giấy phép sẽ chịu thuế suất thu nhập công ty 32% thay cho thuế suất từ 10 - 20% và khi đó cần bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài với thuế suất từ 5 - 10% để đảm bảo sự công bằng nhất định cho các nhà đầu tư. Thuế suất áp dụng theo pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là quá cao so với các nước lân cận vì vậy các doanh nghiệp có vốn nước ngoài đứng trước nguy cơ khó mà duy trì đủ lượng nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý có trình độ chuyên môn cần thiết để tham gia và điều hành hoạt động của doanh nghiệp và càng không thu hút được những người giỏi vào làm việc ở Việt Nam. Nhiều đối tác nước ngoài đã lợi dụng quan hệ hợp tác đầu tư hay sự sơ hở trong chính sách và pháp luật của Việt Nam để buôn lậu và trốn thuế gây thiệt hại không như cho nước ta. Điển hình là vụ nhà máy thuốc là Latabva và nhà máy thuốc lá Khánh Hòa hợp tác sản xuất thuốc lá Mabbro giả để xuất khẩu sang Hà Lan năm 1995. Thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài còn quá rườm rà nhiều khê. Các nhà đầu tư nước ngoài kêu ca phàn nàn nhiều về việc xin giấy phép đầu tư, thủ tục thuê đất, xin giấy phép xây dựng cũng như các thủ tục triển khai thực hiện quá trình XDCB. Còn nhiều điều phải xét lại trong thủ tục kiểm tra hang hóa xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài trong nhiều trường hợp vào kiểm tra gian lận thương mại các cơ quan hải quan đã giữ hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu quá lâu gây ách tách cho hoạt động của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài. 2.2. Về nguồn thu hút vốn: Nguồn vốn thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam còn hẹp, chủ yếu là các nước trong khu vực Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản… theo tạp chí phát triển kinh tế số 7/1998 mười nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam là. Tên nước Số dự án vốn đăng ký (triệu USD) Singapore 180 5516 Đài Loan 298 4127 Hàn Quốc 191 3149 Nhật Bản 202 3098 Anh 67 2705 Hồng Kông 175 2382 Malaysia 62 1337 Pháp 85 1150 Thái Loan 75 1043 Mĩ 58 982 Nguồn thu hút vốn hẹp sẽ dẫn đến sự sụt giảm về nguồn vốn đầu tư khi những đối tác chủ yếu giảm sự đầu tư ra nước ngoài. Hiện nay, các nhà đầu tư Nhật Bản đang có xu hướng chuyển vốn về trong nước. 2.3. Về cơ cấu đầu tư: Xét về mặt địa lý, qua thực tế cho thấy vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu tập trung ở những vùng có điều kiện thuận lợi như: Hà nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành Phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa Hải Phòng, trong đó chủ yếu là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1997 số vốn vào hai địa phương này chiếm 43,28% tổng số vốn đăng ký của cả nước. Xét về mặt cơ cấu, phần lớn vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ - giai đoạn 1996 - 1999, vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 49,66% tổng vốn đầu tư nước ngoài, khu vực dịch vụ chiếm 48,2% còn khu vực nông nghiệp chí chiếm 2,14%. 2.4. Về hình thức đầu tư Vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung vào các hình thức: doanh nghiệp liên doanh (65%) doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (18%), hợp đồng hợp tác kinh doanh (7%) về loại hình BOT, nước ta mới chỉ có một vài dự án. Đa số các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều tập trung trong các khu công nghiệp, khu chế xuất vì nơi đây đảm bảo các điều kiện về cơ sở hạ tầng, tránh được nhiều thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp. Hiện nay, đang có xu hướng chuyển từ loại hình doanh nghiệp liên doanh sang doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Giải thích cho hiện tượng trên, chúng ta thấy nổi lên một số nguyên nhân chủ yếu sau: - Sau một thời gian hoạt động, các nhà đầu tư nước ngoài đã quen với cách làm việc, quen với thủ tục hành chính cũng như thị trường và tập quán sống của dân cư bản địa. - Các nhà đầu tư nước ngoài muốn được độc lập tự chủ tự mình quản lý doanh nghiệp. - Bên Việt Nam thiếu vốn, yếu về trình độ quản lý và đôi khi còn tỏ ra không hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài. 2.5. Về chuyển giao công nghệ Nhiều công nghệ lạc hậu, thiếu đồng bộ, củ kỹ sản xuất từ những năm 1950 vẫn trở thành vốn góp của bên nước ngoài và còn được định giá cao từ 15% - 20% so với giá thị trường và chuyển giao vào nước ta. Điều đó đã gây cho nước thiệt hại hơn. Ngoài thiệt hại về vật chất có thể tính toán được, việc chuyển giao đó đang có nguy cơ biến nước thành "bãi rác công nghệ" gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động. 2.6. Về hiệu quả đầu tư Hiện nay, hiệu quả đầu tư nước ngoài chưa cao và không đồng đều. Một số dự án mặc dù đã đi vào hoạt động được 3 đến 4 năm nhưng vẫn bị thua lỗ. Nguyên nhân có nhiều song chủ yếu là do chi phí vật chất và khấu hao. Tuy nhiên cũng không loại trừ trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài cố ý tạo ra tình trạng kinh doanh thua lỗ để trốn thuế thông qua hiện tượng chuyển giá. 2.7. Hoạt động kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong lĩnh vực này phải nói rằng kiểm tra thì nhiều nhưng chất lượng không đạt yêu cầu. Nguyên nhân có thể do cán bộ được cử đi kiểm tra chưa đủ trình độ phát triển những phạm vi của đơn vị (đặc biệt về lĩnh vực tài chính) cũng có trường hợp cán bộ đi kiểm tra cố tính làm sai. Sự buông lỏng quản lý trong đó bao gồm công tác kiểm tra của các đơn vị chủ quản bên Việt Nam trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã dẫn đến tình trạng không phát hiện được những yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ đến khi doanh nghiệp bị lỗ, đứng trước nguy cơ phá sản, cơ quan quản lý mới biết. 2.8. Những tồn tại khác Đầu tư nước ngoài đã và đang tạo ra sự cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp nội địa về lao động, kỹ thuật thị trường. Bên cạnh các tác động tích cực như: khuyến khích các doanh nghiệp nội địa đổi mới công nghệ nhằm tăng năng suất hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh, nâng cao tính năng động, linh hoạt trong việc nắm bắt nhu cầu thị trường, thì sự cạnh tranh đó cũng làm xuất hiện nhiều yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp trong nước, nhất là trong lĩnh vực sản xuất bia, bột giặt, dệt, da, lắp ráp điện tử… (ví dụ: công nghiệp điện tử liên doanh tăng 35% thì khu vực trong nước giảm đi 5%). Mục đích của nhà đầu tư nước ngoài là lợi nhuận cao do đó họ luôn tìm cách khai thác lợi thế so sánh của nước ta là giá thuế lao động rẻ. Ở một số xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư đã tìm cách tăng cường độ lao động xén tiền công, điều kiện bảo hiểm, thậm chí xúc phạm nhân phẩn của người lao động, phản ứng tiêu cực với cán bộ công đoàn. Nên đã dẫn đến tranh chấp về lao động xảy ra trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong thời gian tới để hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có hiệu quả hơn thì chúng ta cần có biện pháp khắc phục những hạn chế trên. Đây là cách để tạo ra môi trường đầu tư lành mạnh nhằm thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước trong thời gian tới. PHẦN III: GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Quan điểm của Việt Nam về hoạt động đầu tư nước ngoài. Ngày nay, xu hướng quốc tế hoàn toàn cầu hóa đang diễn ra 1 cách mạnh mẽ trên thế giới. Các nền kinh tế tác động, bổ sung và phụ thuộc lẫn nhau. Các quốc gia bị cuốn vào vòng xoáy của quá trình hội nhập kinh tế, chuyên môn hóa, hợp tác nhằm tận dụng vốn, công nghệ và trình độ quản lý của nhau. Xuất phát điểm của nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu. Hơn 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, năng suất lao động thấp, trình độ kỹ thuật thấp, tích lũy nội bộ thấp, sử dụng viện trợ nước ngoài không có hiệu quả. Ngoài ra, nước ta vừa ra khỏi cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc nên những tàn dư mà ta chưa khắc phục được còn nhiều. Cơ sở hạ tầng tháp kém, đời sống nhân dân còn khó khăn, chính sách chưa đồng bộ… Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách của chúng ta hiện nay là phải phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của nhân dân, xây dựng cơ sở hạ tầng. Để thực hiện điều đó tại đại hội VI (12/1986), Đảng và Nhà nước đã chủ trương mở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại nhằm tận dụng"những khả năng to lớn của nền kinh tế thế giới về di chuyển vốn, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm để bổ sung và phát triển có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực trong nước". Đảng chủ trương "đa dạng hóa - đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại với quan điểm Việt Nam làm bạn với tất cả các nước trên thế giới. Tại đại hội VIII. Đảng chủ trương "vốn trong nước là chính, vốn nước ngoài cũng quan trọng". Tất cả những tư tưởng đổi mới của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng. Như vậy, quá trình thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là một xu thế tất yếu phù hợp với xu thế của thế giới yêu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam . 2. Các giải pháp thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài Trên cơ sỏ thực trạng về triển vọng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, để thu hút và sử dụng ngày càng có hiệu quả nguồn vốn, em xin kiến nghị 2 nhóm giải pháp sau: 2.1. Các giải pháp trước mắt Trong bối cảnh thế giới có nhiêu biến động hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài sau những khó khăn to lớn thì bây giờ đang dần khôi phục. Nước ta chịu ảnh hưởng ít hơn các nước trong khu vực nên trong thời gian tới, để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài, chúng ta cần tiến hành theo các hướng sau: Trước hết, cần tiếp thu cao độ công tác quản lý, điều hành tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các dự án đang hoạt động. Cách làm này có tính thuyết phục cao vừa khuyến khích các dự án đang hoạt động vừa có tác dụng thu hút, lôi cuốn các nhà đầu tư mới, các dự án mới. Đối với các dự án đang trong quá trình làm thủ tục hành chính hoặc xây dựng cơ bản cần bãi bỏ các thủ tục giấy tờ không cần thiết, công bố rõ quy trình, trách nhiệm và thời gian xử lý các thủ tục quy định. Cố gắng tập trung đầu mối tránh phân quyền cho quá nhiều cơ quan làm phức tạp quá trình xử lý và gây khó khăn phiền hà. Chỉ đạo thực hiện nhanh chóng việc đền bù giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đã được cấp giấy phép, nghiên cứu khả năng đền bù vào giá tiền thuê đất đảm bảo tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực về giá cho thuê đất. Hoãn hoặc miễn tiền thuê đất đối với những dự án xin dừng, hoãn tiến độ triển khai hoặc những dự án khó khăn về tài chính tiếp tục thực hiện việc giảm chi phí đầu đầu, bổ sung các chính sách ưu đãi thiết thực, khuyến khích đầu tư các dự án sản xuất và chế biến nông lâm thủy sản. Nhà nước cần xem xét và đưa ra một số ưu đãi cho các dự án như: thời gian, mức giảm thuế lợi tức, giá thuế đất mới, thuế đầu tư… Đối với những dự án thực sự đang kinh doanh thua lỗ. Hỗ trợ bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp đang thực sự khó khăn. Cho phép tăng tỷ lệ nội tiêu đối với với dự án đầu tư nước ngoài đang sản xuất sản phẩm để xuất khẩu. Giảm thuế thu nhập các nhân đối với các dự án quá khó khăn về tài chính trong một vài năm. Áp dụng nguyên tắc không hối tố đối với các dự án đã được cấp giấy phép đầu tư mà luật mới của ta có những quy định gây khó khăn và làm đảo lộn lớn trong phương án kinh doanh của các dự án này. Nghiên cứu và xem xét kỹ, lựa chọn và chuyển một số doanh nghiệp liên doanh đang thua lỗ mà phía Việt Nam không có ảnh hưởng gánh chịu thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Hạn chế việc cấp giấy phép xây dựng mới và dãn tiến độ xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất để tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động và vận động đầu tư lấp đầy các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện có. Tác giả thuê đất với giá thuê cơ sở hạ tầng, ưu đãi cao nhất đối với các dự án phát triển hạ tầng xã hội đồng bộ với khu công nghiệp, khu chế xuất, đảm bảo hạ tầng ngoài khu vực đó. Rà soát lại các chính sách hiện có, loại bỏ các văn bản pháp lý chồng chéo hoặc loại trừ lẩn nhau. Thực hiện việc giảm giá điện, cước phí điện thoại, các loại phí khác có thể có với các dự án đầu tư nước ngoài. Theo đánh giá hiện nay thì các chi phí đầu vào này ở Việt Nam rất cao như giá điện thoại gấp 2 - 3 lần các nước trong khu vực. Đối với các dự án trong một số lĩnh vực cụ thể như: bưu điện, xây dựng cơ sở hạ tầng thì có thể xem xét và xử lý linh hoạt về hình thức đầu tư, tỷ lệ vốn góp và các đối tác nước ngoài cho một số dự án có tính khả thi, lành mạnh mà không ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của nước ta. Cuối cùng, chúng ta cần cải cách thủ tục hành chính phiền hà, phức tạp hiện nay theo hướng đơn giản gọn nhẹ. Gấp rút nâng cao năng lực điều hành của các cơ quan quản lý Nhà nước Tất cả các giai cấp trên đây, trong tương lai gần sẽ tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi cho các dự án đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là trong điều kiện quốc tế phức tạp hiện nay. 2.2. Các giải pháp lâu dài Trên đây là các giải pháp tình thế có tác dụng trong ngắn hạn; tuy nhiên trong tương lai thì chúng ta cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ có tác dụng lâu dài trong quá trình thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài. Xét một cách chi tiết thì các giải pháp đưa ra là nhằm cải thiện tính hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ta nhằm tạo ra những cơ hội đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư. Môi trường đầu tư thì chịu sự tác động của rất nhiều các nhân tố, do vậy để cải thiện độ hấp dẫn của môi trường đầu tư chúng ta cần giải quyết tốt sự ảnh hưởng của các nhân tố đến môi trường đầu tư theo hướng có lợi. Trong phạm vi đề tài này, em xin kiến nghị một số giải pháp lâu dài để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. 2.2.1. Phát triển nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia nói

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThu hút và sử dụng có hiệu quả đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.DOC
Tài liệu liên quan