Đề tài Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng trường THPT Hà Lang, Chiêm Hoá, Tuyên Quang

Với phương châm có nhận thức đúng mới có hành động đúng, vì vậy phải nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vai trò của GDHN, coi đây là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Do đó các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp, ngành giáo dục, nhà trường, mọi gia đình, giáo viên và từng học sinh phải ý thức được muốn phát triển KT- XH thì yếu tố con người là quan trọng nhất vì con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển bền vững. Mục tiêu đào tạo nhân lực là mục tiêu hàng đầu trong hệ thống mục tiêu của nền giáo dục quốc dân. Muốn đạt được mục tiêu này thì GDHN có vai trò quan trọng vì GDHN gắn với phân luồng học sinh, gắn với yêu cầu phát triển KT- XH của từng địa phương, GDHN giúp cho mọi người hiểu rằng học Đại học, Cao đẳng không phải là con đường duy nhất để vào đời mà có thể tham gia học tập tại các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề hoặc trực tiếp tham gia lao động sản xuất tại địa phương sao cho phù hợp với năng lực, điệu kiện của bản thân và thích ứng với xu hướng thay đổi, phát triển của xã hội.

 

doc29 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 12/09/2013 | Lượt xem: 1847 | Lượt tải: 32download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng trường THPT Hà Lang, Chiêm Hoá, Tuyên Quang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng. 4 Tìm hiểu hệ thống đào tạo Đại học và Cao đẳng 5 Thảo luận: thanh niên lập thân, lập nghiệp 6 Tư vấn nghề. 7 Hướng dẫn học sinh chọn nghề cụ thể để làm hồ sơ tuyển sinh. 8 Tham quan hoặc tổ chức hoạt động văn hoá theo chủ đề hướng nghiệp 1.2. Cơ sở pháp lý. Để thực hiện tốt công tác GDHN, ngày 13/9/1981, Hội đồng chính phủ đã đề ra Quyết định số 126/CP “về công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý học sinh các cấp THCS và THPT tốt nghiệp ra trường”. Trong đó khẳng định thực hiện phân ban ở cấp THPT trên cơ sở đảm bảo chuẩn bị kiến thức phổ thông cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh. Trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “...coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp của bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc...” Tại điều 3 của Chỉ thị 33-2003/CT-BGD&ĐT, ngày 23/7/2003 cũng đã chỉ rõ: “Nghiêm túc triển khai thực hiện sinh hoạt hướng nghiệp ở các trường THCS, THPT và trung tâm KTTH , theo tài liệu hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, giúp học sinh, đặc biệt là học sinh cuối cấp hiểu về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động và đánh giá năng lực bản thân, hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề hoặc lựa chọn trường học, ngành phù hợp với năng lực cá nhân và yêu cầu của xây dựng đất nước”. Điều 33, Luật giáo dục năm 2005 cũng khẳng định: Mục tiêu giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Trong Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 20/6/2007 của BCH Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (khoá XIV) về phát triển và nâng cao chất lượng Giáo dục - đào tạo tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010 cũng đã khẳng định: “thực hiện tốt việc phân luồng học sinh tốt nghiệp THCS, THPT ... nâng cao chất lượng dạy nghề, thực hiện đào tạo gắn với nhu cầu của thị trường lao động trong nước và ngoài nước, phục vụ thiết thực nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh”. Nghị quyết của Chi bộ Đảng nhà trường nhiệm kỳ 2006-2010 xác định: “...Cùng với việc mở rộng, phát triển quy mô, nâng cao chất lượng dạy và học, quan tâm chú ý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong cả khoá học” 1.3. Cơ sở thực tiễn: Trường THPT Hà Lang, Tuyên Quang là một trường đóng trên địa bàn đặc biệt khó khăn; hoạt động GDHN đã được tiến hành theo chương trình kế hoạch quy định. Tuy nhiên hiệu quả đạt được còn hạn chế, quá trình chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện còn bộc lộ những tồn tại nhất định. Biểu hiện rõ nhất của thực tế đó là: Học sinh lúng túng trong việc lựa chon nghề nghiệp sau tốt nghiệp THPT dẫn đến phần đa học sinh có học lực trung bình khá trở lên đăng ký thi vào các trường đại học, cao đẳng, tuy nhiên kết quả đỗ lại đạt thấp. Mặt khác một bộ phận học sinh có lực học trung bình lại tự ti, không tham gia học tập các trường dạy nghề, THCN (trung học chuyên nghiệp), cao đẳng. Như vậy hai khuynh hướng trên đều dẫn tới hệ quả tỉ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp THPT chủ yếu trực tiếp đi vào cuộc sống lao động, trong khi đó khả năng của các em có thể tham gia học tập tại các trường nghề, THCN hoặc cao đẳng nghề để đáp ứng nhu cầu lao động tại địa phương, trong cả nước hoặc có thể xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Cơ sở lí luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn đã nêu là tiền đề cho việc tìm hiểu thực trạng và tìm ra các biện pháp quản lý GDHN của hiệu trưởng mà chúng tôi sẽ trình bày tại phần hai. Chương 2 Thực trạng quản lý GDHN của hiệu trưởng trường thpt hà lang, chiêm hoá, tuyên quang 2.1. Đặc điểm tình hình: Trường THPT Hà Lang thành lập theo quyết định 76/QĐ - UB của UBND tỉnh Tuyên Quang, ngày 17 tháng 8 năm 1999. Trường đóng trên địa bàn phía tây bắc của huyện Chiêm Hoá, Tuyên Quang là một trong những huyện được phong danh hiệu anh hùng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Nơi đây là địa danh mang nhiều dấu ấn lich sử dân tộc, trong đó sự kiện nổi bật là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Đảng – tháng 2/1951. Trường THPT Hà Lang là một trong sáu trường THPT của huyện Chiêm Hoá. Về quy mô, số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên, nhân viên và học sinh đang từng bước hình thành và phát triển. Về số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên, học sinh trường THPT Hà Lang- Chiêm Hoá - Tuyên Quang được thể hiện qua bảng số liệu: Bảng 2.1. Bảng thống kê về số lượng, chất lượng giáo viên Năm học Số lượng Chất lượng Ghi chú Tổng số Nam Nữ Chưa đạt chuẩn Đạt chuẩn Trên chuẩn 2005-2006 49 28 21 07 42 0 2006-2007 51 32 19 05 46 01 2007-2008 54 34 20 01 53 01 Bảng 2.2. Bảng thống kê số lượng lớp, học sinh Số lớp học sinh Năm học Tổng số Khối 10 Khối 11 Khối 12 Lớp Học sinh Lớp Học sinh Lớp Học sinh Lớp Học sinh 2005-2006 25 1.131 9 406 8 359 8 360 2006-2007 26 1.165 10 454 8 365 8 346 2007-2008 27 1206 11 492 9 407 7 307 Về đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng, yếu về chất lương, cơ cấu chưa hợp lý (môn thừa giáo viên, môn thiếu giáo viên) trong đó thiếu giáo viên có chuyên môn về giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề, nên hiệu quả GDHN đạt thấp. 2.2. Một số kết quả về công tác GDHN: Trong những năm gần đây công tác giáo dục hướng nghiệp bước đầu được quan tâm và đạt được một số kết quả nhất định, góp phần vào quá trình hình thành và phát triển của nhà trường. Năm học 2004-2005, nhà trường đã triển khai đồng bộ công tác GDHN thông qua đội ngũ giáo viên bộ môn, GVCN, kết hợp với Đoàn thanh niên tổ chức các hoạt động ngoại khoá... kết quả số học sinh đăng ký dự thi vào các trường ĐH chiếm tỉ lệ 43,4% (giảm so với năm 2003-2004) số học sinh đăng ký dự tuyển vào các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng chiếm 20-25% (tăng 10% so với năm học 2003-2004). Năm học 2005-2006. trên cơ sở kết quả triển khai của năm học 2004-2005, nhà trường đã tổ chức liên kết với trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp của tỉnh tiến hành tổ chức dạy nghề cho học sinh khối 12. Năm học 2005-2006, là năm đầu tiên (kể từ năm thành lập trường 1999) nhà trường tổ chức dạy nghề cho học sinh. Năm học 2006-2007, công tác giáo dục hướng nghiệp được thực hiện theo chương trình phân ban từ lớp 10. Hoạt động định hướng nghề, tư vấn nghề được tiến hành hiệu quả, tỉ lệ học sinh tham gia dự tuyển vào các trường THCN chiếm 35-40% (tăng 15-20% so với năm 2004-2005) theo đó số học sinh sau tốt nghiệp THPT trực tiếp tham gia lao động sản xuất tại địa phương đã giảm (giảm từ 60 - 70%, năm 2004-2005 xuống còn 45 - 50% năm 2006-2007) Đạt được kết quả như vậy xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Nhận thức của cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên có sự thay đổi tích cực; công tác xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức và kiểm tra của Ban giám hiệu được thực hiện đồng bộ; kinh tế – xã hội của địa phương có bước phát triển, đã tác động đến nhận thức của học sinh, cha mẹ học sinh trong việc lựa chọn nghề nghiệp. Hơn nữa cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục từng bước được đầu tư, trang cấp đáp ứng một phần hoạt động dạy học cũng như hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Trên cơ sở kết quả công tác GDHN trong những năm gần đây, đã giúp cho học sinh tự tin hơn trong quá trình lựa chọn đăng ký dự tuyển vào các trường THCN, cao đẳng, đại học, theo đó, kết qủa trúng tuyển cũng chiếm tỉ lệ khá cao. Hơn thế, số học sinh trực tiếp lao động sản xuất tại địa phương cũng đã chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động kinh tế góp phần hình thành các mô hình sản xuất đạt hiệu quả, tạo ra sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. 2.3. Một số tồn tại của công tác quản lý GDHN ở trường THPT Hà Lang, Chiêm Hoá, Tuyên Quang: Mặc dù công tác quản lý GDHN đạt được một số kết quả bước đầu song vẫn bộc lộ những tồn tại dẫn đến công tác GDHN của nhà trường chưa phát huy hết hiệu quả theo các mục tiêu đã đề ra. Trước hết từ nhận thức của cán bộ quản lý từ khâu lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá công tác quản lý GDHN chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi như mục tiêu giáo dục đặt ra; Chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực của sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và đất nước. Đội ngũ giáo viên thực hiện công tác GDHN trong quá trình cung cấp lượng kiến thức, thông tin về nghề nghiệp cho học sinh còn hạn chế; lượng thông tin về các trường đại học, cao đẳng được truyền tải tương đối đầy đủ, bằng nhiều hình thức song khả năng điều kiện của học sinh có thể tham dự và trúng tuyển là rất thấp. Trái lại thông tin về các trường THCN, trường nghề và đặc biệt là thông tin về nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương và đất nước lại không đầy đủ. Thực trạng trên dẫn đến đa số học sinh kết hợp giữa sự lựa chọn cảm tính của bản thân, sự lôi kéo của bạn bè, áp lực của gia đình, quyết định lựa chọn nghề nghiệp không phù hợp, không đạt được mục tiêu đặt ra, mà kết quả cuối cùng là lúng túng, bức xúc và lãng phí thời gian, tiền của khi buộc phải tham gia lao động sản xuất tại địa phương. Hơn nữa, cơ sở vật chất của nhà trường cũng chưa thực sự đáp ứng đầy đủ công tác GDHN; công tác xã hội hoá GDHN cũng chưa được quan tâm đúng mức: Tại huyện Chiêm Hoá, Tuyên Quang có 06 trường THPT nhưng chưa có trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp (TTGDKTTH-HN); công tác thông tin, tuyên truyền và GDHN của các tổ chức đoàn thể huyện, các xã chưa được chú ý. Sở dĩ có thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, song tập trung vào một số nguyên nhân: Nhận thức của cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp, lãnh đạo nhà trường, đội ngũ cán bộ giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh về công tác GDHN chưa đầy đủ; quá trình tổ chức GDHN hướng nghiệp trong nhà trường còn lúng túng, chưa gắn với thực tế; cơ sở vật chất phục vụ cho GDHN còn thiếu; công tác xã hội hoá GDHN chưa thực sự được quan tâm, năng lực của giáo viên về hoạt động GDHN còn hạn chế. 2.4. Một số vấn đề cấp thiết đặt ra cần giải quyết trong công tác quản lý GDHN trường THPT Hà Lang, Chiêm Hoá, Tuyên Quang: Xuất phát từ những kết quả đã đạt được và những tồn tại nêu trên, chúng tôi nhân thấy có bảy vấn đề cấp thiết đặt ra cần giải quyết: - Quản lý việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về GDHN. - Quản lý bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thực hiện công tác GDHN trong nhà trường - Quản lý Giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy các môn học trong nhà trường. - Quản lý GDHN thông qua các hoạt động ngoại khoá: - Quản lý việc tăng cường cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục cho công tác GDHN - Quản lý tốt việc phối kết hợp giữa các lực lượng tham gia thực hiện GDHN. - Quản lý GDHN thông qua kết hợp với chính quyền địa phương, gia đình để định hướng đào tạo nghề phục vụ nguồn nhân lực xuất khẩu lao động. Chương 3 biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng trường THPT hà lang, chiêm hoá, tuyên quang. Xuất phát từ thực trạng trong công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT Hà Lang, Chiêm Hoá, Tuyên Quang, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp quản lý GDHN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý GDHN trong trường THPT Hà Lang trong năm học 2007-2008 và những năm tiếp theo như sau: 3.1 Quản lý việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về GDHN: Với phương châm có nhận thức đúng mới có hành động đúng, vì vậy phải nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vai trò của GDHN, coi đây là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Do đó các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp, ngành giáo dục, nhà trường, mọi gia đình, giáo viên và từng học sinh phải ý thức được muốn phát triển KT- XH thì yếu tố con người là quan trọng nhất vì con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển bền vững. Mục tiêu đào tạo nhân lực là mục tiêu hàng đầu trong hệ thống mục tiêu của nền giáo dục quốc dân. Muốn đạt được mục tiêu này thì GDHN có vai trò quan trọng vì GDHN gắn với phân luồng học sinh, gắn với yêu cầu phát triển KT- XH của từng địa phương, GDHN giúp cho mọi người hiểu rằng học Đại học, Cao đẳng không phải là con đường duy nhất để vào đời mà có thể tham gia học tập tại các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề hoặc trực tiếp tham gia lao động sản xuất tại địa phương sao cho phù hợp với năng lực, điệu kiện của bản thân và thích ứng với xu hướng thay đổi, phát triển của xã hội. Nội dung tuyên truyền cần bám sát các chính sách, các quy định, các chỉ thị, nhiệm vụ năm học, về chương trình phân ban, về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông nhằm giúp cho giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và toàn xã hội hiểu được: - GDHN là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó nhà trường làm tốt công tác GDHN thì sẽ đạt được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước tiến hành CNH- HĐH trong xu thế hội nhập mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai. - Sau khi tốt nghiệp THPT không chỉ thi vào đại học, cao đẳng là duy nhất mà có thể đi học trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc chủ động tự tạo cho mình việc làm phù hợp với cách trả lời các câu hỏi “Tôi thích nghề gì?”; “Tôi làm được nghề gì?”; “Mọi người cần làm nghề gì?”. Ba câu hỏi này phù hợp với 3 miền lựa chọn “Sở thích”; “Năng lực” và “Nhu cầu xã hội”. Điều này được mô tả như sau: Sở thích Nhu cầu XH Năng lực bản thân Miền nghề phù hợp 3.1. Cách tìm miền phù hợp - Các chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, đất nước cũng như của của thị trường lao động trong khu vực và trên thế giới. Cụ thể đối với học sinh tại trường THPT Hà Lang cần cung cấp cho các em biết và hiểu nét nổi bật cơ bản của sự phát triển kinh tế của huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang đặc biệt là các giai đoạn phát triển, các đề án của khu công nghiệp Long Bình An tại khu vực huyện Yên Sơn - Tuyên Quang, cụm công nghiệp An Thịnh của huyện Chiêm Hoá -Tuyên Quang. Muốn làm tốt công việc này, người hiệu trưởng cần thực tốt việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra công tác tuyên truyền. - Trước hết đối với nhà trường: Hiệu trưởng phải thành lập Ban chỉ đạo GDHN, coi hoạt động GDHN là một công việc thường xuyên, liên tục, mang tính hệ thống và quan trọng như các môn khoa học cơ bản khác. Ban GDHN được thể hiện theo cấu trúc sau: Hiệu trưởng Ban Giáo dục hướng nghiệp Giáo viên chủ nhiệm Giáo viên bộ môn Tổ chức đoàn thanh niên Ban đại diện phụ huynh Tổ chức xã hội Thư viện nhà trương Y tế nhà trường Trung tâm KTTH-HN Cơ sở sản xuất 3.2. Sơ đồ Ban GDHN Việc xây dựng hệ thống và cấu trúc của Ban GDHN trong trường THPT thể hiện những mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa các bộ phận trong trường và ngoài xã hội. - Đối với cán bộ giáo viên: Kết hợp hội nghị triển khai nhiệm vụ năm học tổ chức tuyên truyền đến giáo viên các chủ trương, định hướng cơ bản về công tác giáo dục hướng nghiệp; giới thiệu sách báo có liên quan đến các kiến thức về hướng nghiệp; bồi dưỡng về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy môn GDHN cho giáo viên phụ trách; tổ chức các buổi toạ đàm, hội thảo, trao đổi về GDHN cho giáo viên; cung cấp cho giáo viên những hiểu biết về nhu cầu sử dụng nhân lực địa phương và khả năng tiếp nhận học sinh tốt nghiệp ra trường trong mỗi năm học. - Đối với học sinh: Tư vấn, định hướng học sinh chọn ban khi vào học lớp 10; Chỉ đạo tốt việc GDHN cho học sinh; đa dạng hoá các hình thức tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp; phát phiếu thăm dò về nhu cầu, nguyện vọng nghề nghiệp của học sinh; kết hợp ngoại khoá để tổ chức chiếu phim giới thiệu về các ngành nghề đào tạo mà xã hội đang cần; hàng năm phối hợp với hội khuyến học tổ chức cho học sinh đi thăm quan các trường Đại học, Cao đẳng, TCTN, trường nghề hoặc các mô hình điển hình kinh tế; làm rõ ý nghĩa của việc học nghề phổ thông,... - Đối với cha mẹ học sinh và xã hội: Chủ động đề xuất, phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể các cấp, các ngành tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, trên các phương tiện thông tin đại chúng, kết hợp Hội nghị cha mẹ học sinh về công tác GDHN, về xu hướng phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. 3.2 Quản lý bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thực hiện công tác GDHN trong nhà trường: Theo tinh thần của Nghị quyết TW2 khoá VIII “giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục” nên cần bồi dưỡng để mọi giáo viên quán triệt các quan điểm về GDHN, các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác của giáo viên, có thể đáp ứng được yêu cầu của sự đổi mới chương trình sách giáo khoa cũng như nhiệm vụ của GDHN trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ căn cứ trên, nhà trường xây dựng kế hoạch tuyển chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí sử dụng đội ngũ giáo viên thực hiện công tác GDHN. Mục đích nhằm xác định nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu đáp ứng với mục tiêu, nhiệm vụ về công tác GDHN của nhà trường. Trên cơ sở Ban GDHN của nhà trường, hiệu trưởng quy định rõ trách nhiệm của từng thành viên. Để công tác quản lý GDHN đạt được hiệu quả, hiệu trưởng phải lựa chọn giáo viên cốt cán tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn – nghiệp vụ về GDHN; Thường xuyên cung cấp thông tin về chủ trương, định hướng phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đất nước và trên thế giới để tư vấn và định hướng nghề nghiệp cho học sinh; chú trọng công tác thi đua khen thưởng, khuyến khích bằng vật chất cho cán bộ giáo viên làm công tác GDHN. Quan tâm bồi dưỡng về kiến thức cho đội ngũ giáo viên thực hiện nhiệm vụ GDHN trong đó tập trung bồi dưỡng các nội dung kiến thức sau: + Thông tin về “thế giới nghề nghiệp” theo phân loại nghề. Người ta đã khái quát thành 5 nhóm nghề theo đối tượng lao động để dễ chọn như sau: Các nhóm nghề Người- Kỹ thuật Người- Tự nhiên Người- Người Người- Hệ thống tín hiệu Người- Các biểu tượng nghệ thuật Người- Tự nhiên Sơ đồ 3.3. Phân loại nghề theo đối tượng lao động Ngoài ra còn phải biết thông tin về các đặc điểm yêu cầu của một nghề cụ thể, trong đó phải lưu ý đến các yêu cầu tâm, sinh lý của nghề; kiến thức về tâm lý học: (Tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học lao động, tâm lý học xã hội, tâm lý học giao tiếp, tâm lý học ứng xử, tâm lý học quản lý); kiến thức về phương pháp GDHN (phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp thảo luận nhóm,...); Kiến thức về tư vấn hướng nghiệp: (Tư vấn sơ bộ và tư vấn chuyên sâu). Để làm tốt nhiệm vụ GDHN giáo viên không chỉ cần nội dung kiến thức mà còn cần được rèn luyện các kỹ năng về: Phương pháp giảng dạy bộ môn; Kỹ năng giao tiếp với học sinh, với CMHS; Kỹ năng tổ chức các buổi toạ đàm, hội thảo về GDHN; Kỹ năng phối hợp với các lực lượng tham gia GDHN; 3.3. Quản lý Giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy các môn học trong nhà trường: Với mục đích thông qua các môn học để giáo viên bộ môn phát hiện những thiên hướng, sở trường của học sinh nhằm phối hợp với các thành viên trong ban chỉ đạo hoạt động giáo dục hướng nghiệp tổ chức bồi dưỡng, tư vấn định hướng cho các em trong cả khoá học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra. Môn học nào cũng có khả năng hướng nghiệp cho học sinh, mỗi môn học có vị trí, tầm quan trọng khác nhau do đó tuỳ thuộc vào từng môn mà người hiệu trưởng căn cứ nội dung chương trình yêu cầu giới thiệu những ngành nghề có liên quan đến môn học đó. Đây là việc là khó khăn nhưng để có kết quả trước hết phải dạy tốt kiến thức cơ bản và tuỳ đặc trưng của từng bộ môn chỉ rõ cho học sinh những kỹ năng, tri thức của bộ môn nói chung từng bài nói riêng và có thể vận dụng như thế nào vào đối tượng lao động, mục đích, công cụ điều kiện lao động của những nghề xác định qua đó giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, tác phong nghề nghiệp cho học sinh. Trong các môn học đặc biệt chú ý quan tâm đến môn Công nghệ bởi lẽ với tư cách là môn khoa học ứng dụng bộ môn này trở thành chiếc cầu nối giữa kiến thức khoa học với sản xuất, là điều kiện để phát triển cá nhân, phát triển năng lực cần thiết để học sinh làm tốt một nghề. Khi giảng dạy môn công nghệ phải gắn nội dung kiến thức với những hoạt động nghề của các ngành sản xuất, tạo điều kiện cho học sinh làm quen, tiếp xúc với nghề liên quan. Hướng nghiệp qua dạy học môn công nghệ đòi hỏi nhất thiết phải thực hành kỹ thuật, thực tập sản xuất, gắn với lao động sản xuất và dạy nghề phổ thông. 3.4. Quản lý GDHN thông qua các hoạt động ngoại khoá: Để đạt được mục tiêu trong quản lý GDHN nhà trường cần kết hợp thực hiện thông qua các hoạt động ngoại khoá, qua đó giúp các em hiểu rõ về chính bản thân mình kể cả khả năng và sở thích cũng như nắm bắt được xu thế phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và đất nước, hiểu rõ hơn về các ngành nghề để có sự suy nghĩ và quyết định lựa chọn đúng đắn nghề nghiệp trong tương lai. Hình thức tiến hành có thể thực hiện một cách đa dạng: Tổ chức cho học sinh xem phim, xem kịch; tổ chức tham quan các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp, trường dạy nghề, các cơ sở sản xuất, xí nghiệp có trong địa phương; có thể tổ chức cho học sinh tham gia các trò chơi hướng nghiệp giúp các em làm quen dần với hoạt động nghêg nghiệp của xã hội; động viên học sinh tham gia hoạt động hướng nghiệp của các đoàn thể, của cơ sở sản xuất, các mô hình kinh tế tại địa phương; kết hợp với Ban lao động nhà trường, Đoàn thanh niên thực hiện các công trình thanh niên thông qua việc xây dựng, tôn tạo khuôn viên cảnh quan nhà trường góp phần xây dựng môi trường Xanh – Sạch - Đẹp;... Tổ chức các buổi nói chuyện, trao đổi, mạn đàm với học sinh để tìm hiểu nguyện vọng khuynh hướng, hứng thú nghề nghiệp của học sinh; Mời các cựu học sinh thành đạt đến nói chuyện về con đường lập nghiệp. Tóm lại, các hoạt động ngoại khoá cũng góp phần hết sức thiết thực trong công tác quản lý GDHN trong nhà trường phổ thông, tuy nhiên quá trình tiến hành triển khai thực hiện cần có sự chuẩn bị tốt từ kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo đến kiểm tra kết quả. 3.5. Quản lý việc tăng cường cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục cho công tác GDHN Nhằm thực hiện tốt các hoạt động quản lý GDHN cần phải có cơ sở vật chất tương ứng. Do vậy, tăng cường CSVC cho GDHN là điều kiện cần thiết trong công việc quản lý của người hiệu trưởng. Các điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục tối thiểu là: Sân bãi, phòng lớp, bàn ghế; trang thiết bị đồ dùng giảng dạy; sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo; tủ sách hướng nghiệp gồm (Các tư liệu giới thiệu về các cơ sở đào tạo nghề, giới thiệu về các nghề có trong địa phương và ngoài xã hội, danh mục các nghề mà xã hội và địa phương đang cần. Thông tin về các trường Đại học, Cao đẳng nghề, trung cấp nghề...Nhu cầu tuyển dụng của các trường, các ngành, các cơ quan trong thời gian sắp tới nhất là ở địa phương); thông tin về điểm sàn thi Đại học và các chi tiêu, điểm chuẩn của một số trường Đại học, Cao đẳng... qua từng năm. Máy vi tính, máy chiếu, các thiết bị âm thanh, ánh sáng... và các dụng cụ phục vụ cho việc dạy một số nghề như nghề trồng rừng, làm vườn, nghề nuôi cá, nghề cắt may, thêu tay, nghề tin học văn phòng... Muốn quản lý tăng cường CSVC cho GDHN thì không những cần phải quản lý một phần ngân sách trong ngân sách nhà nước cấp để mua sắm vật dụng, trang bị cho hoạt động GDHN, mà còn phải huy động sự ủng hộ từ các nguồn ngoài xã hội. Để quản lý tốt CSVC cần thành lập Ban quản lý CSVC gồm có các thành viên Ban giám hiệu, Chủ tịch Công đoàn, Đoàn thanh niên, cán bộ Thư viện, Bảo vệ … 3.6. Quản lý tốt việc phối kết hợp giữa các lực lượng tham gia thực hiện GDHN: Hướng nghiệp cho học sinh là việc làm thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi và của mọi người. Nó đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Sự kết hợp phải có tính tổ chức, có kế hoạch, và tạo nên một thể thống nhất từ trong nhà trường đến gia đình và xã hội. Sự chỉ đạo của Hiệu trưởng nhà trường là cầu nối liên kết giữa các lực lượng tham gia GDHN để hoàn thành được một trong ba nhiệm vụ: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước để tiến đến CNH-HĐH. Hiệu trưởng nhà trường là người xây dựng kế hoạch chung, điều khiển mọi quá trình và chịu trách nhiệm với cấp trên về kết quả của công tác GDHN. Tạo điều kiện và giúp đỡ mọi người và nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ, nội dung, ý nghĩa, tính chất của GDHN. Phó hiệu trưởng chỉ đạo trực tiếp công tác hướng nghiệp trong nhà trường, có nhiệm vụ thúc đẩy mọi người tham gia GDHN, kiểm tra đôn đốc, đánh giá kết quả đạt được trong từng giai đoạn, từng nội dung. Đoàn Thanh niên tham gia tổ chức các hoạt động GDHN. Giáo viên chủ nhiệm là người tạo điều kiện và động viên các em tham gia các hoạt động ngoại khoá như tham quan hướng nghiệp, tư vấn hướng nghiệp...Giáo viên chủ nhiệm cùng với giáo viên bộ môn đánh giá quá trình học tập và rèn luyện của học sinh. Giáo viên bộ môn là người trực tiếp truyền tải kiến thức của môn học, kiến thức khoa học kỹ thuật và những ứng dụng trong của môn học vào cuộc sống để giúp các em hiểu biết về nghề nghiệp, đồng thời phát hiện, bồi dưỡng năng lực, hứng thú của học sinh. Giáo viên bộ môn cũng cần kết hợp với giáo v

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBiện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng trường THPT Hà Lang, Chiêm Hoá, Tuyên Quang.DOC
Tài liệu liên quan