Đề tài Các giải pháp đảm bảo mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta

Thực tế trước đổi mới, nhất là của hơn 10 năm tiến hành xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước ( 1975 - 1986), chứng tỏ rằng trong nền kinh tế mang đậm bản sắc nông dân - nông nghiệp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, mô hình phát triển gắn với cơ chế kế hoạch hoá tập trung có những khiếm khuyết lớn trong việc giải quyết các nhiệm vụ phát triển, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Sau nhiều năm vận động trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tuy đất nước có đạt được những thành tựu to lớn, song nhiều vấn đề mấu chốt và thiết yếu nhất của cuộc sống nhân dân (ăn, mặc, ở) vẫn chưa được giải quyết đầy đủ; đất nước chưa có những thay đổi sâu sắc và triệt để trong phương thức phát triển; tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng; nhiệt tình lao động và năng lực sáng tạo của nhân dân, tài nguyên và các nguồn lực chưa được khai thác, phát huy đầy đủ, thậm chí bị xói mòn. Nhìn tổng quát, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế Việt Nam vận động thiếu năng động và kém hiệu quả. Những mất cân đối và nguy cơ bất ổn định tiềm tàng trong đời sống kinh tế - xã hội bị tích nén lại. Tình trạng thiếu hụt kinh niên làm gia tăng các căng thẳng trong đời sống xã hội. Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước giảm sút.

doc19 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 1989 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Các giải pháp đảm bảo mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g thể tiến hành được nếu không có tư liệu sản xuất, nhưng nếu không có lao động của con người thì tư liệu sản xuất cũng không thể phát huy được tác dụng. Bởi vậy lao động sản xuất của con người giữ vai trò quyết định và mang tính sáng tạo. Toàn bộ sức lao động và tư liệu sản xuất được gọi là lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của một xã hội nhất định ở một thời kỳ nhất định. Lực lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con người và tự nhiên, biểu hiện trình độ sản xuất của con người, năng lực họat động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chát. Lực lượng sản xuất là một hệ thống mà cấu trúc của nó bao gồm toàn bộ tư liệu sản xuất, kỹ năng lao động và thói quen của họ. Ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trở thành một bộ phận quan trọng hàng đầu của lực lượng sản xuất. Nhờ hoạt động sáng tạo của con người mà khoa học - công nghệ phát triển, đồng thời khoa học - công nghệ lại giúp cho hoạt động sản xuất đạt hiệu quả và năng suất lao động ngày càng cao. Các yếu tố trong cấu trúc lực lượng sản xuất có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó con người là chủ thể. Lực lượng sản xuất phát triển từ thấp đến cao, từ thô sơ đến hiện đại. Trong thời đại ngày nay, dưới tác dụng của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là từ những năm 70 trở lại đây, người ta nói đến chiến lược phát triển đồng bộ tư liệu sản xuất tương ứng với người lao động hiện đại trong cấu trúc của lực lượng sản xuất. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ năng suất lao động xã hội trong từng thời kỳ, đây là tiêu chí quan trọng nhất và là tiêu chí chung nhất của tiến bộ xã hội. Quan hệ sản xuất: Nếu như lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa người với tự nhiên, phản ánh mặt kỹ thuật của sản xuất, thì quan hệ sản xuất biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất, phản ánh mặt xã hội của sản xuất. Trong quá trình sản xuất, con người không chỉ có quan hệ với tự nhiên , tác động vào giới tự nhiên, mà còn có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Hơn nữa, chỉ có trong quan hệ tác động lẫn nhau thì con người mới có sự tác động vào tự nhiên. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệ giữa người với người trên ba mặt chủ yếu sau đây: - Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: là quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. vd: trong xã hội phong kiến địa chủ là người có sự sở hữu lớn nhất về tư liệu sản xuất (đất đai, phân bón, trâu bò…) - Quan hệ tổ chức, quản lý: là quan hệ giữa người với người trong phân phối trao đổi sản phẩm xã hội. vd: hình thức quản lý trong xã hội tư bản là sự hình thành những tập đoàn độc quyền lớn mạnh nhằm chi phối thị trường thế giới. - Quan hệ phân phối, trao đổi: là quan hệ giữa người với người trong phân phối, trao đổi sản phẩm xã hội. vd: sự phân phối trong xã hội phong kiến và tư bản là không công bằng (người làm nhiều hưởng ít và ngược lại) nên đã tạo ra những mâu thuẫn xã hội gay gắt. Với tư cách là một hệ thống, các mặt nói trên của quan hệ sản xuất, có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau, trong đó quan hệ sở hữu giữa vai trò quyết định, chi phối quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối, trao đổi, đồng thời quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối, trao đổi cũng tác động trở lại quan hệ sở hữu. Quan hệ sản xuất trong thực tế không phải là quan hệ pháp lý, mà là quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế được biểu hiện thành các phạm trù và quy luật kinh tế. Con người không thể tự ý lựa chọn quan hệ sản xuất nói chung và quan hệ sở hữu nói riêng một cách chủ quan duy ý chí, mà phải tùy thuộc vào tính chất, trình độ phát triển của lực lượng của sản xuất xã hội… “Bất cứ một sự cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cùng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những lực lượng sản xuất mới” [2, trang 467]. Quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: Sự kết hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hình thành phương thức sản xuất của xã hội. Lịch sử loài người đã trải qua các phương thức sản xuất: công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và đang quá độ lên phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hộ. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất của phương thức sản xuất có quan hệ mật thiết với nhau và tác động lẫn nhau. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, khi trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất biến đổi thì sớm hay muộn, quan hệ sản xuất cũng biến đổi theo cho phù hợp. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất không hoàn toàn thụ động, mà có tác động trở lại với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Trái lại, nó trở thành xiềng xích trói buộc, kìm hãm lực lượng sản xuất khi nó đã lỗi thời, không phù hợp với lực lượng sản xuất. Trong xã hội có giai cấp mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện ở mâu thũan giai cấp đối kháng. Giai cấp thống trị muốn duy trì quan hệ sản xuất vì lợi ích của nó, còn giai cấp tiến bộ tiêu biểu cho lực lượng sản xuất mới thì muốn xóa bỏ quan hệ sản xuất lỗi thời, thiết lập quan hệ sản xuất mới để giải phóng lực lượng sản xuất. Mâu thuẫn đó tất yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp nổ ra cách mạng xã hội đẻ thay thế quan hệ sản xuất cũ lạc hậu bằng quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn, dẫn đến sự ra đời của phương thức sản xuất cao hơn trong lịch sử. Vì vậy, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cũng thể hiện trong mâu thuẫn xã hội - chính trị. PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT QUAN HỆ SẢN XUẤT QUAN HỆ SỞ HỮU QUAN HỆ QUẢN LÝ QUAN HỆ PHÂN PHỐI LAO ĐỘNG TƯ LIỆU SẢN XUẤT ĐỐI TƯỢNG LAO ĐỘNG TƯ LIỆU LAO ĐỘNG Ta có thể tóm tắt bằng sơ đồ như sau: CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT Giai đoạn từ 1975 - 1980: Lực lượng sản xuất thấp kém, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, đã có rất nhiều bài tham luận đề cập đến giai đoạn đầy khó khăn này, dưới đây là một vài trích dẫn tiêu biểu: Từ 1975-1986: Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp. Sau khi miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng (năm 1975) và đất nước thống nhất (năm 1976), bắt đầu ngay việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980). Kế hoạch này có nhiều điểm duy ý chí nên phần lớn chỉ tiêu đều không đạt. Sản xuất đình trệ, tăng trưởng chỉ đạt 0,4 %/ năm (kế hoạch là 13-14 %) trong khi tỷ lệ tăng dân số hàng năm trên 2,3 %. Tình trạng thiếu lương thực diễn ra gay gắt, năm 1980 phải nhập 1,576 triệu tấn lương thực. Ngân sách thiếu hụt lớn, giá cả tăng hàng năm 20 %, nhập khẩu nhiều gấp 4-5 lần xuất khẩu. Nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhiều công trình phải bỏ dở, hàng tiêu dùng thiết yếu thiếu trầm trọng. Đại hội IV ĐCS VN đã quyết định cải tạo XHCN trong cả nước với mục tiêu lớn: xây dựng chế độ làm chủ tập thể và sản xuất lớn. Do các mục tiêu đề ra quá lớn nên trong kế hoạch 5 năm lần thứ III (1981-1985) nền kinh tế thiếu cân đối và lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Sản xuất đình trệ thể hiện trên tất cả các lĩnh vực. Nạn lạm phát tăng nhanh, đầu những năm 80 tăng khoảng 30-50 % hàng năm, cuối năm 1985 lên đến 587,2 % và siêu lạm phát đạt đến đỉnh cao vào năm 1986, với 774,7 %. Đời sống nhân dân hết sức khó khăn. Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco (www.vietnamconsulate-ca.org) Đây cũng là giai đoạn có sự thay đổi lớn về dân số, một ví dụ điển hình là theo thống kê của Bộ xây dựng (www.moc.gov.vn) thì dân số TP.HCM lúc đó đã giảm sút ghê gớm (gần 700.000 người) do những biến cố sau: - Rất nhiều gia đình bỏ ra nước ngoài trong những ngày trước và trong tháng 4 -1975 - Việc đưa các gia đình tư sản đi định cư ở các vùng xa Thành phố Hồ Chí Minh - Hàng trăm ngàn người hồi hương sau chiến tranh - Việc đưa một số lượng lớn người đi kinh tế mới ở Bình Dương, Bình Phước - Vụ nạn kiều diễn ra vào năm 1979 khiến hơn 30.000 người Hoa trở về Trung Quốc - Hàng trăm nghìn người vượt biên vào những năm 1976-1986 Thực tế trước đổi mới, nhất là của hơn 10 năm tiến hành xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước ( 1975 - 1986), chứng tỏ rằng trong nền kinh tế mang đậm bản sắc nông dân - nông nghiệp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, mô hình phát triển gắn với cơ chế kế hoạch hoá tập trung có những khiếm khuyết lớn trong việc giải quyết các nhiệm vụ phát triển, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Sau nhiều năm vận động trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tuy đất nước có đạt được những thành tựu to lớn, song nhiều vấn đề mấu chốt và thiết yếu nhất của cuộc sống nhân dân (ăn, mặc, ở) vẫn chưa được giải quyết đầy đủ; đất nước chưa có những thay đổi sâu sắc và triệt để trong phương thức phát triển; tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng; nhiệt tình lao động và năng lực sáng tạo của nhân dân, tài nguyên và các nguồn lực chưa được khai thác, phát huy đầy đủ, thậm chí bị xói mòn. Nhìn tổng quát, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế Việt Nam vận động thiếu năng động và kém hiệu quả. Những mất cân đối và nguy cơ bất ổn định tiềm tàng trong đời sống kinh tế - xã hội bị tích nén lại. Tình trạng thiếu hụt kinh niên làm gia tăng các căng thẳng trong đời sống xã hội. Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước giảm sút. Trên thực tế, đến cuối những năm 70, đất nước đã thực sự lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam lúc này là tìm kiếm cách thức phát triển mới có khả năng đáp ứng các mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó quan trọng nhất là phải tháo gỡ các ràng buộc về cơ chế và thể chế để giải phóng các nguồn lực phát triển của đất nước. Cần phải nói rằng ngay khi đất nước mới lâm vào khủng hoảng, trong nền kinh tế Việt Nam, dưới áp lực của thực tiễn, đã diễn ra hai cuộc thử nghiệm quan trọng: i) áp dụng chế độ khoán sản phẩm đến hộ gia đình nông dân trong HTX nông nghiệp và ii) triển khai chế độ "kế hoạch 3 phần " ở các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh. Về nguyên tắc, cả hai cuộc thử nghiệm này đều diễn ra theo một xu hướng chung: nới lỏng các ràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, mở rộng hơn phạm vi hoạt động của các quan hệ thị trường, trao nhiều quyền chủ động kinh doanh hơn cho các chủ thể kinh tế và người lao động. Phong trào lan rộng ra khắp nền kinh tế và đã nhanh chóng đưa lại những thành tựu nổi bật, trước hết là trên mặt trận nông nghiệp. Tuy nhiên, kết quả của xu hướng cải cách này còn bị hạn chế do việc thực hiện những cải cách theo hướng thị trường mới mang tính cục bộ và chỉ dừng lại ở cấp vi mô, trong khuôn khổ cố gắng bảo tồn cơ chế kế hoạch hoá tập trung ở tầm vĩ mô. Vì vậy, những cuộc thử nghiệm này tuy đưa đến những thành tựu nổi bật trong nông nghiệp nhưng vẫn không ngăn cản được cuộc khủng hoảng ngày càng trở nên trầm trọng. Tình hình đó đã khiến cho đổi mới trở thành một nhu cầu hết sức bức bách, là đỏi hỏi bức thiết của cuộc sống. Bộ Ngoại giao Việt Nam (www.mofa.gov.vn) Nhìn chung trong giai đoạn này Quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu thuần nhất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất à Lực lượng sản xuất bị kìm hãm, sản xuất kém phát triển, khủng hoảng kinh tế xã hội. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, tuy có đất đai nhưng người nông dân lại không muốn lao động hoặc không làm việc hết mình, đây là sự lãng phí rất lớn về nguồn lực con người. Giai đoạn từ 1986 đến nay: Từ sau khi Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã có sự thay đổi to lớn, chúng ta đã đa dạng hóa quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế, thực hiện nhiều nguyên tắc và hình thức phân phối, đặc biệt là việc chuyển đổi từ cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp thành cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. “Trong cơ chế cũ, bàn tay vô hình được nhận thức chưa đúng, còn bàn tay hữu hình lại thể hiện chưa hợp lý. Trong cơ chế kinh tế mới, hai bàn tay được kết hợp một cách nhịp nhàng.” [3, trang 185] Trong một bài viết đăng trên trang web Tạp chí cộng sản (www.tapchicongsan.org.vn), tác giả Hà Đăng đã có những nhận xét sâu sắc về cơ chế thị trường theo định hướng XHCN: Bước I: Thừa nhận cơ chế thị trường nhưng không coi nền kinh tế của ta là kinh tế thị trường. Nói cơ chế thị trường là chỉ nói về mặt cơ chế quản lý chứ không phải nói về toàn bộ đặc điểm, tính chất và nội dung của nền kinh tế. Do đó, trong khi phê phán nghiêm khắc cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp và đề ra chủ trương đổi mới quản lý kinh tế (một bộ phận của đường lối đổi mới toàn diện), Đại hội VI khẳng định: “thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ”. Phát triển thêm một bước, Đại hội VII (qua Cương lĩnh) đã xác định nền kinh tế của ta là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước”. Bước II: Coi kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản, không đối lập với chủ nghĩa xã hội. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994) nhận định: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phầ đang hình thành. Và cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang trở thành cơ chế vận hành của nền kinh tế. Có nghĩa là nền kinh tế của ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, còn có chế vận hành của nền kinh tế đó là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Gần cuối nhiệm kỳ Đại hội VII, tại một nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác lý luận đã nhận định: “Thị trường và kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của văn minh nhân loại”. Theo nhận định này, thị trường, kinh tế thị trường đã từng tồn tại và phát triển qua những phương thức sản xuất khác nhau. Nó có trước chủ nghĩa tư bản, trong chủ nghĩa tư bản và cả sau chủ nghĩa tư bản. Nếu trước chủ nghĩa tư bản nó vận động và phát triển ở mức khởi phát, manh nha, còn ở trình độ thấp thì trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nó đạt tới đỉnh cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó, làm cho người ta nghĩa rằng nó chính là chủ nghĩa tư bản. Như vậy, trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu. Vấn đề ở đây là liệu kinh tế thị trường có đối lập với chủ nghĩa xã hội không, và liệu việc xây dựng chủ nghĩa xã hội có đi đến phủ định kinh tế thị trường để rồi tạo nên một nền kinh tế hoàn toàn khác về chất là kinh tế xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế vận động theo các quy luậtd dặc thù của chủ nghĩa xã hội hay không? Câu trả lời là không. Quan điểm này cũng chính là quan điểm của Đại hội VIII (1996) khi Đại hội chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng, xã hội chủ nghĩa”. Bước III: Coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ. Đại hội IX của Đảng (2001) ghi rõ: Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối. Kinh tế thị trường định hướng xã hội có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Theo Nghị quyết của Đại hội IX, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các thành phần đó bao gồm cả kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Bước IV: Gắn kinh tế thị trường của nước ta với nền kinh tế thị trương toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và đầy đủ hơn. Đại hội X của Đảng chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Bốn nội dung quan trọng nhất là: nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế nước ta, nâng cao vai trò và hoàn thiện quản lý của Nhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển mạnh các thành phần kinh tế và các loại hình sản xuất, kinh doanh. Đây là một số biều đồ và số liệu thống kê về tình hình kinh tế nước ta trong những năm gần đây: Trên đây là biểu đồ cơ cấu về lao động lấy số liệu từ trang web Tổng cục thống kê (www.gso.gov.vn), từ biểu đồ ta có thể thấy được tuy chỉ trải qua một khoảng thời gian rất ngắn nhưng cơ cấu trên đã có sự thay đổi đáng kể và đầy tích cực: tỷ trọng lao động trong nông nghiệp đã giảm xuống và chuyển sang những ngành khác. Nguồn: số liệu trích từ [4, trang 68] CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO MỐI QUAN HỆ GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT Ở NƯỚC TA Về lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất phát triển là điều kiện tiên quyết để xây dựng quan hệ sản xuất mới. Trong lĩnh vực nông nghiệp, những yếu tố lực lượng sản xuất có ý nghĩa quan trọng là khoa học – công nghệ, nguồn lực con người và cơ sở hạ tầng - giao thông. Khoa học – công nghệ: - Cơ giới hóa: Các hoạt động sản xuất ở nông thôn chủ yếu dựa vào lao động thủ công, kỹ thuật lạc hậu, do đó năng suất lao động và chất lượng sản phẩm rất thấp. Cơ giới hóa, trước hết là cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp vừa giảm nhẹ lao động của con người; vừa nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả. Tuy nhiên, cơ giới hóa phải đặc biệt chú ý những đặc điểm riêng của sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Cơ giới hóa nông nghiệp phải tập trung vào những khâu lao động nặng nhọc (chẳng hạn như làm đất) và những khâu trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh (chế biến). - Thủy lợi hóa: Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Việt Nam là nước nông nghiệp nhiệt đới, nắng lắm, mưa nhiều, do đó, hạn hán và úng lụt thường xuyên xảy ra. Để hạn chế tác động tiêu cực của thiên nhiên, việc xây dựng hệ thống thủy lợi để chủ động tưới tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. - Điện khí hóa: Điện khí hóa vứa nâng cao khả năng của con người trong việc chế ngự thiên nhiên, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế, vừa tạo điều kiện cho cư dân nông thôn tiếp cận với văn minh nhân loại, phát tiển văn hóa – xã hội ở nông thôn. Do đó, điện khí hóa là điều kiện hàng đầu để phát triển nông nghiệp, nông thôn. - Phát triển công nghệ sinh học: Đây là lĩnh vực khoa học và công nghệ mới bao gồm nhiều ngành khoa học kỹ thuật mả trước hết là vi sinh học, di truyền học, hóa sinh học…Công nghệ sinh học là “mọi kỹ thuật sử dụng những cơ chế hay quá tình sống để tạo ra hay thay đổi sản phẩm, để tăng chất lượng cây hay con, hay phát triển những vi sinh vật cho những ứng dụng đạc biệt” [1, trang 39]. Trong những năm gần đây, công nghệ sinh học đã đạt dược những thành tựu to lớn: những nông phẩm biến đổi gien có năng suất và chất lượng rất cao; lai tạo được những cây trồng có khả năng kháng virus, sâu bệnh. Tự tổng hợp Nitơ tự nhiên thành phân đạm, sinh sản vô tính…Những thành tựu của công nghệ sinh học đã đem lại lợi ích to lớn, không chỉ tạo ra những sản phẩm mới, làm cho năng suất sản xuất cao hơn và chất lượng tốt hơn, mà còn tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường. Phát triển công nghệ sinh học là đòi hỏi tất yếu của một nền nông nghiệp hiện đại. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào nông nghiệp, nông thôn chịu sự tác động mạnh mẽ của các nhân tố thị trường: giá cả và các yếu tố đầu vào, đầu ra; vốn liếng, thông tin…Do vậy, rất cần sự hỗ trợ của nhà nước. Nguồn nhân lực: Trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, nhân tố con người luôn giữ vai trò quyết định. Sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn cũng không phải là ngoại lệ. Nguồn nhân lực ở nông thôn có đặc điểm là trình độ học vấn rất thấp và phần lớn người lao động không qua đào tạo. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó: nghèo đói, kinh tế khép kín, chủ nghĩa kinh nghiệm…Trình độ dân trí thấp là trở ngại không nhỏ đối với sự phát triển của nông thôn, trước hết là đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Bởi vậy, đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn trở thành nội dung quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn. Do khả năng kinh tế và nhận thức của cư dân nông thôn có hạn, việc đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn phải có sự trợ giúp của nhà nước. Nhà nước phải có chính sách giáo dục, đào tạo riêng cho nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo…Chính sáchh giáo dục đào tạo không chỉ phải tính đến trình độ đầu vào, ưu đãi về tài chính cho khu vực nông nghiệp, nông thôn… mà còn phải tính tới nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động được đào tạo trong hiện tại và tương lai… Xây dựng cơ sở hạ tầng: Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội ở nông thôn bao gồm: hệ thống đường sá, hệ thống thông tin, hệ thống thủy lợi, đường dây, trạm biến thế, trạm giống, trường học, nhà văn hóa… hết sức cần thiết cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội trên đây vượt quá xa so với khả năng của cư dân nông thôn. Đầu tư của nhà nước cho cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội ở nông thôn là hết sức cần thiết để hỗ trợ nông thôn phát triển. Về quan hệ sản xuất: Để xây dựng quan hệ sản xuất mới chúng ta cần tiến hành thay đổi về nhiều mặt, trong đó việc chú ý xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần cần phải được chú trọng đặc biệt. - Kinh tế hộ nông dân (kinh tế cá thể, tiểu chủ) là hình thức kinh tế phổ biến ở nông thôn trong các làng nghề, trong các hoạt động dịch vụ và trong sản xuất nông nghiệp. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lực lượng sản xuất còn thấp kém, kinh tế hộ nông dân có vai trò to lớn trong việc khai thác các tiềm năng của đất đai, vốn, sức lao động, kinh nghiệm sản xuất của dân dư…Do đó, kinh tế hộ gia đình nông dân có tác dụng lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất và tốn tại lâu dài trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ở nông thôn. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển sản xuất hàng hóa với quy mô ngày càng lớn. - Kinh tế nhà nước: Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiếu vào tự nhiên, do đó, tình hình tổ chức xản xuất trong nông nghiệp có đặc điểm riêng không giống trong công nghiệp. Nhìn chung, khi lực lượng sản xuất trong nông nghiệp còn thấp kém, kinh tế hộ gia đình là hình thức tổ chức sản xuất có nhiều ưu thế hơn so với các hình thức khác. Bởi vậy, kinh tế nhà nước trong nông nghiệp dưới hình thức nông trường quốc doanh rất cần được cân nhắc. Nhưng kinh tế hộ cũng có nhiều nhược đuểm cố hữu, khó có thể tự khắc phục. Do quy mô nhỏ, kinh tế hộ gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm đầu ra và giải quyết yếu tố đầu vào nhu giống, thủy lợi, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ…Trong khi đó các doanh nghiệp nhà nước lại có nhiếu ưu thế trong những lĩnh vực này. Do đó, kinh tế nhà nước ở nông thôn trong lĩnh vực dịch vụ với các hình thức: trạm giống, công ty bảo vệ thực vật, công ty thủy lợi, công ty thương mại… là hết sức cần thiết đối với nông nghiệp, nông thôn. Hơn nữa, đây là những vị trí then chốt trong kinh tế nông nghiệp, nông thôn, do đó, nếu kinh tế nhà nước nắm giữ những vị trí này sẽ giữ vai trò chủ đạo, định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, phát triển kinh tế nhà nước ở nông nghiệp, nông thôn là hết sức cần thiết nhưng cũng cần cân nhắc trong từng câu, từng lĩnh vực cụ thể. Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tế. Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên, góp phần xóa đói giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành viên, phát triển cộng đồng. Hoạt động của kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn phải trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế hộ, trang trại phát triển, gắn với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mớ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất- Nhìn từ phát triển nông nghiệp nông thôn ở việt nam.doc
Tài liệu liên quan