Đề tài Chiến lược và kế hoạch kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải Hà

LỜI MỞ ĐẦU 2

1. Tổng quan về doanh nghiệp 3

1.1.Quá trình hình thành và phát triển 3

1.2. Vai trò, vị trí của doanh nghiệp: 5

1.3. Chức năng, nhiệm vụ của công ty: 5

1.4. Môi trường kinh doanh của công ty: 9

1.5. Những nét văn hoá công ty: 10

2. Chiến lược và kế hoạch kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải Hà 11

2.1. Về chiến lược kinh doanh: 11

2.1.1 Các loại chiến lược công ty đang áp dụng: 11

2.1.2. Các căn cứ để xây dựng chiến lược: 14

2.2. Kế hoạch kinh doanh của Công ty: 15

3. Công tác tổ chức và quản lí chung: 19

4. Hoạt động Marketing và các chính sách căn bản: 22

4.1. Nghiên cứu thị trường: 22

4.2. Chính sách sản phẩm: 23

4.3. Chính sách giá cả: 25

4.4. Chính sách phân phối: 25

4.5. Chính sách xúc tiến hỗn hợp: 25

5. Vấn đề quản lí các yếu tố : 26

5.1. Về lao động: 26

5.2. Về vấn đề tiền lương: 30

6. Vấn đề về thiết bị công nghệ: 31

7. Tình hình tổ chức tiếp nhận, cung ứng và hạch toán nguyên vật liệu: 33

8. Vấn đề tài chính kế toán của Công ty: 35

9. Đánh giá chung về hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty: 37

KẾT LUẬN 40

 

 

doc40 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 03/07/2013 | Lượt xem: 1853 | Lượt tải: 48download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Chiến lược và kế hoạch kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải Hà, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
.800 5.400 Bánh bông lúa 5,20 96.000 4.800 Quy xốp 5,44 94.000 4.700 Kẹo waldisney cứng 7,50 125.000 2.500 Sôcôla bạc hà 5,00 110.000 2.200 Hoa quả mềm 8,75 95.000 1.900 Đây là chiến lược rất hữu hiệu đối với bất kì Công ty nào hoạt động trong cơ chế thị trường. Người tiêu dùng ngày càng trở nên “khó tính” đối với sản phẩm mà họ sử dụng. Họ có thể chấp nhận giá cả cao hơn một chút nhưng chất lượng sản phẩm phải được đảm bảo. Khách hàng của Hải Hà bao gồm nhiều đối tượng, Công ty đã biết khai thác các yếu tố nội lực của mình để sản xuất nhiều loại chủng loại sản phẩm đáp ứng được mọi đối tượng khách hàng. Đối với các doanh nghiệp công nghiệp hiện nay cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một cuộc cạnh tranh gay gắt, công ty bánh kẹo Hải Hà đang từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm để tồn tại và ngày càng phát triển hơn. Bên cạnh đó Công ty còn luôn phát triển sản phẩm mới: đây là một trong những vấn đề được ban lãnh đạo Công ty đặc biệt quan tâm chú ý. Có rất nhiều lí do để ban lãnh đạo công ty phải quan tâm đến vấn đề này. Vì Công ty muốn tồn tại và phát triển được phụ thuộc rất nhiều vào vhiến lược sản phẩm mới. Các sản phẩm mới có thể là mới hoàn toàn hoặc có thể do cải tiến sản phẩm cũ mà thành. Mặt hàng bánh kẹo là mặt hàng rất nhiều chủng loại sản phẩm, sự khác nhau giữa các chủng loại sản phẩm không nhiều lắm, có thể chỉ khác nhau về mùi vị nhưng cũng đáp ứng được vị khách hàng khó tính nhất, Công ty đã biết được điều này nên hàng năm Công ty phải chi ra 10-15 tỉ đồng để phục vụ cho công tác nghiên cứu sản phẩm mới. Mục tiêu của Công ty là làm cho chất lượng sản phẩm tốt hơn, phù hợp với nhu cầu luôn thay đổi và ngày càng cao của người tiêu dùng. Với một đội ngũ kĩ sư trẻ thuộc phòng kĩ thuật luôn tích cực tìm tòi, sáng tạo, hàng năm đã cải tiến và tạo ra được nhiều loại sản phẩm mới khác nhau cho Công ty, đã đưa vào sản xuất và tung ra thị trường. Phát triển nguồn nhân lực: Hiện nay trình độ đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong Công ty còn chiếm một tỉ lệ tương đối nhỏ. Trình độ tay nghề của công nhân đang còn thấp. Hằng năm Công ty vẫn tiếp tục tuyển thêm lao động có tay nghề, luôn đào tạo cho công nhân mới vào nghề và đào tạo lại cho những công nhân cũ để nâng cao tay nghề nhằm làm cho Công ty có được một đội ngũ công nhân có tay nghề vững vàng, có thể tiếp cận được với những công nghệ mới để làm hàng chất lượng cao. Như chúng ta biết máy móc thiết bị có hiện đại đến bao nhiêu đi chăng nữa mà thiếu bàn tay con người thì chất lượng sản phẩm cũng không được hoàn hảo. Con người nhân tố quan trọng hàng đầu trong mọi ngành sản xuất, đặc biệt trong ngành sản xuất bánh kẹo cần sự tỉ mỉ, khéo léo của người lao động Cuối năm 2002 Công ty sẽ nhập mới công nghệ sản xuất kẹo mềm có nhân. Đây là thiết bị đầu tiên có tại Việt Nam. Tổ chức mạng lưới kênh phân phối và các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ: Đến cuối năm 2001, Công ty đã thiết lập dược mạng lưới kênh phân phối khá rộng, với hơn 200 đại lí tại 34 tỉnh thành phố trong cả nước, trong đó : Các tỉnh phía Bắc: 134 đại lí Các tỉnh miền Trung: 38 đại lí Các tỉnh phía Nam: 13 đại lí. So với miền Bắc và miền Trung, miền Nam - một khu vực thị trường rộng lớn – mà chỉ có 13 đại lí là còn quá ít. Do tình hình tài chính và khoảng cách về địa lí mà Công ty chưa có khả năng mở rộng thị trường ở khu vực phía Nam. Hiện nay Công ty đang áp dụng 3 loại kênh phân phối: Kênh trực tiếp, thông qua hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm và các hội trợ triển lãm. Kênh trực tuyến ngắn hạn: Sản phẩm của Công ty tới tay người tiêu dùng thông qua hệ thống bán lẻ ở các siêu thị và các đại lí bán lẻ có doanh số lớn. Kênh trực tuyến dài: Đây là kênh phân phối chủ yếu của Công ty, gồm hệ thống các đại lí và các cửa hàng bán lẻ rộng khắp cả nước. Sản phẩm của Công ty Người tiêu dùng Siêu thị đại lí Đại lí Bán lẻ Sơ đồ hệ thống kênh phân phối của Công ty. Mạng lưới kênh phân phối của Công ty có thể nói là rất ổn định và hoạt động có hiệu quả. Sản phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua nhiều hình thức. Qua hình thức đại lí-bán lẻ-người tiêu dùng mà sản phẩm của Công ty có thể đến được với tất cả người tiêu dùng ở cả vùng sâu, vùng xa. 2.1.2. Các căn cứ để xây dựng chiến lược: - Khách hàng: Công ty thường xuyên có những có những cuộc tiếp xúc với khách hàng nhằm thu thập thông tin và lắng nghe những ý tưởng về sản phẩm mới hay nắm được các nhu cầu về sản phẩm của khách hàng. Thị hiếu của người tiêu dùng tại 3 vùng thị trường. Khu vực Đặc điểm Miền Bắc Miền Trung Miền Nam Loại bánh kẹo tiêu dùng chủ yếu Chủ yếu là bánh kẹo Hải Hà, sau đó là Tràng An, Hải Châu, Kinh Đô, Quãng Ngãi. Chủ yếu là kẹo Huế và một phần của Hải Hà, Qũng Ngãi, Biên Hoà. Vinabico, Biên Hoà, Kinh Đô, một phần là hàng ngoại. Đặc điểm tiêu dùng -Thích mua theo gói. -Quan tâm nhiều đến mẫu mã. - Độ ngọt vừa phải, thích vị chua ngọt. - Thích mua theo cân và xé lẻ theo cái - Ít quan tâm đến bao bì, mẫu mã. - Quan tâm đến độ ngọt và hình dáng viên kẹo. - Mua theo cân - Ít quan tâm đến bao bì, mẫu mã - Thích loại bánh kẹo có độ ngọt cao, thích nhiều hương vị hoa quả. Sau khi nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu và nắm bắt được những sở thích của người tiêu dùng trên các đoạn thị trường khác nhau Công ty có các chiến lược tung sản phẩm, các mặt hàng khác nhau phù hợp với từng đoạn thị trường. Bất kì chiến lược nào khách hàng cũng luôn là mục tiêu hàng đầu. Khách hàng dùng gì? khách hàng ưa thích gì? và nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng là gì? Doanh nghiệp phải trả lời được những câu hỏi đó thì mới có khả năng hoạt động một cách hiệu quả. - Tình hình tài chính của công ty: Việc đầu tư các loại máy móc thiết bị hoặc tổ chức một đợt quảng cáo rầm rộ cùng với khuyến mại sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào tình hình tài chính của Công ty. Năm 2001, tổng vốn ĐTXDCB của Công ty là 6416 (trđ), vốn vay tín dụng nhà nước là 5916 (trđ), vốn tự có của doanh nghiệp là 500 (trđ). Tài chính của Công ty chưa thực sự lớn để có thể đầu tư liên tục… - Đối thủ cạnh tranh: Trên thị trường hiện nay công ty bánh kẹo Hải Hà gặp rất nhiều các đối thủ lớn như: Hải Châu, Kinh Đô… mỗi một Công ty đều có những chiến lược cụ thể để phát triển doanh nghiệp mình. Vì vậy để đề ra được một chiến lược cơ bản Công ty phải quan tâm tới đối thủ của mình sao cho có lợi nhất. Phải tìm hiểu được điểm mạnh, điểm yếu của từng đối thủ để có thể vượt lên trên họ đấy cũng là điểm quan trọng để phát triển doanh nghiệp. 2.2. Kế hoạch kinh doanh của Công ty: Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2002 của công ty bánh kẹo Hải Hà (Theo công văn số 4742/ CV-KHĐT ngày 9 tháng11 năm 2001 của Bộ CN) STT Các chỉ tiêu chủ yếu Đơn vị TH2000 TH2001 KH2002 Tỉ lệ A B C 1 2 3 4=2/1 5=3/2 I Tổng sản lượng công nghiệp (giá cố định năm 1994) Trđ 147.759 155.200 163.000 105% 105% II Tổng doanh thu Trđ 217.894 230.700 242.000 106% 105% Trong đó doanh thu sxcn Trđ 164.072 173.200 182.00 106% 105% III Sản phẩm chủ yếu Tấn 11.730 11.837 12.400 101% 105% Kẹo bánh các loại Tấn 11.730 11.837 12.400 101% 105% IV Giá trị xuất khẩu 1000USD 103 141 197 137% 140% V Sản lượng kẹo xuất khẩu Tấn 112 153 148 137% 97% VI Giá trị nhập khẩu 1000USD 1.337 1.363 2.441 102% 179% Trong đó vật tư cho SX 1.169 1.100 1.100 94% 100% VII Tổng vốn ĐTXDCB Trđ 6.704 6.416 32.869 96% 512% Trong đó xây lắp Trđ 1.419 1.800 5.500 127% 306% Thiết bị Trđ 5.285 4.616 27.369 87% 593% Vốn vay tín dụng nhà nước Trđ 6.704 5.916 29.582 88% 500% Vốn tự có của doanh nghiệp Trđ 500 3.287 Nhìn vào bảng kế hoạch năm 2002 của công ty bánh kẹo Hải Hà ta thấy: Về tổng sản lượng công nghiệp ta có biểu đồ sau: Về tỉ lệ tăng sản lượng công nghiệp năm 2002 so với năm 2001 và năm 2001 so với năm 2000 là như nhau (105%). Hằng năm tổng sản lượng công nghiệp vẫn tăng nhưng tăng với một tỉ lệ không đổi. Về tổng doanh thu: năm 2002 vẫn tăng(105%) nhưng tốc độ tăng thì giảm đi so với tốc độ tăng của năm 2001(106%). Mặt hàng sản xuất chủ yếu của Công ty vẫn là bánh kẹo. Kế hoạch năm 2002 về xuất khẩu: Về giá trị: Về sản lượng: Giá trị năm 2002 so với năm 2001 là 140% tăng 40% nhưng sản lượng năm 2002 so với 2001 là 97% giảm 3% nghĩa là Công ty sẽ giảm sản lượng xuất khẩu nhưng những mặt hàng xuất khẩu sẽ có chất lượng cao hơn đồng nghĩa với việc tăng giá bán làm cho doanh thu xuất khẩu tăng lên. Về tổng vốn ĐTXDCB: Năm 2002 so với năm 2001 là 512% tăng 412%, có sự tăng đột ngột này là do Công ty dự định cuối năm 2002 Công ty sẽ đầu tư mới một thiết bị dùng cho sản xuất kẹo mềm có nhân đây là thiết bị đầu tiên có tại Việt Nam, việc làm này nâng cao hẳn một bước cho dây chuyền máy móc thiết bị của Công ty. Để đầu tư cho thiết bị này Công ty phải vay tín dụng nhà nước là chính, tỉ lệ vay tín dụng nhà nước năm 2002 so với năm 2001 là 500% tăng 400%. Điều này cho thấy Công ty ngày càng tích cực đầu tư phục vụ sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và liên tục đổi mới các loại sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Kế hoạch sản xuất kinh doanh chỉ phù hợp trong từng thời kì Công ty thường lấy là theo năm. Để có thể lập kế hoạch sản xuất một cách chính xác thì phải dựa vào: Nhu cầu thị trường đối với sản phẩm bánh kẹo nói chung và của Công ty nói riêng. Công ty thường xuyên cử các nhân viên Marketing đi thăm dò, khảo sát từng khu vực và nhận những thông tin phản hồi từ phía khách hàng. Căn cứ vào tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất và sản phẩm cùng kì năm ngoái. Phòng kinh doanh có trách nhiệm theo dõi thống kê tình hình cung ứng, sản xuất và tiêu thụ từng loại sản phẩm. Căn cứ vào nguồn lực có thể khai thác được của Công ty như: Vốn, nhân lực, MMTB… Căn cứ vào hệ thống định mức kinh tế kĩ thuật của Công ty. Hệ thống này được xây dựng, kiểm tra ở phòng thí nghiệm và thực tế sản xuất của các phân xưởng, đồng thời có sự tham khảo so sánh với hệ thống tiêu chuẩn của ngành. Căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã được kí kết. Từ các căn cứ trên ban kế hoạch lập bản kế hoạch rồi trình lênTổng giám đ