Đề tài Cơ hội và thách thức của nền kinh tế Việt Nam từ sau khi gia nhập WTO

Sở hữu trí tuệ là một trong những lĩnh vực được các thành

viên của tổ chức thương mại Thế giới hết sức quan tâm. Những

vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ(TRIPS)

là một trong những nội dung lớn trong những cam kết của Việt

Nam khi gia nhập WTO. Trong những năm đầu gia nhập WTO,

quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam sẽ là vấn đề có ảnh hưởng rõ

nét nhất đến hoạt động kinh doanh, thương mại do những tác động

trực tiếp từ các nguyên tắc, yêu cầu thực thi “luật” của WTO. Hiệp

định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu

trí tuệ (TRIPS) ,WTO buộc VN phải đạt được hai chuẩn mực lớn

về nội dung bảo hộ (tính đầy đủ) và về hiệu lực thực thi pháp luật

(tính hiệu quả) của hệ thống sở hữu trí tuệ . Do đó, việc thực thi tốt

quyền sở hữu trí tuệ là một trong những đòi hỏi hàng đầu của

WTO.

pdf103 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 23/08/2013 | Lượt xem: 725 | Lượt tải: 8download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Cơ hội và thách thức của nền kinh tế Việt Nam từ sau khi gia nhập WTO, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
áng kể cho ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu tham gia kí kết hiệp định. Chi tiết các qui tắc về giám sát áp dụng biện pháp này được nêu trong Hiệp định chống bán phá giá kí kết tại vòng đàm phán Tokyo cuối cùng. Vòng đàm phán Uruguay đã rà soát lại Hiệp định này để giải quyết nhiều lĩnh vực mà Hiệp định hiện hành còn chưa chính xác và chi tiết. Đặc biệt, Hiệp định sau rà soát cung cấp các qui tắc chi tiết hơn và rõ ràng hơn liên quan đến phương pháp xác định một mặt hàng bị bán phá giá, các tiêu chí cần xem xét khi quyết định hàng nhập khẩu bán phá giá gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa, các qui trình cần phải tuân thủ trong việc khởi xướng và tiến hành điều tra chống bán phá giá cũng như việc thực thi và gia hạn các biện pháp chống bán phá giá. Thêm vào đó, hiệp định mới này cũng làm rõ vai trò của cơ quan giải quyết tranh chấp trong các vụ kiện liên quan đến hoạt động chống bán phá giá tiến hành bởi chính quyền nội địa. Dựa trên phương pháp xác định một sản phẩm xuất khẩu bị bán phá giá, Hiệp định mới bổ sung các điều khoản tương đối cụ thể về những vấn đề như là tiêu chí phân bổ chi phí khi giá xuất khẩu được so sánh với giá trị thông thường “được xây dựng” và các qui tắc để đảm bảo rằng giá xuất khẩu và giá trị thông thường của sản phẩm được so sánh công bằng, do vậy không tùy tiện tạo ra hay làm tăng biên độ bán phá giá. Hiệp định tăng cường các yêu cầu trong việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu. Việc kiểm tra hàng hóa nhập khẩu bán phá giá tác động đến ngành sản xuất nội địa phải bao gồm sự đánh giá tất cả các nhân tố kinh tế liên quan trong điều kiện sản xuất của ngành đó. Hiệp định nhấn mạnh thêm định nghĩa thuật ngữ “ngành sản xuất nội địa”. Ngoài một số ngoại lệ, “ngành sản xuất nội địa” đề cập đến các nhà sản xuất nội địa của toàn bộ sản phẩm tương tự hoặc đến các nhà sản xuất có tổng sản lượng chiếm phần lớn trong toàn bộ sản lượng nội địa của các sản phẩm đó. Các thủ tục rõ ràng về phương thức khởi xướng các vụ kiện chống bán phá giá và tiến hành điều tra đã được xây dựng. Cùng với đó là các điều kiện đảm bảo rằng các bên liên quan đều có cơ hội đưa ra bằng chứng. Các điều khoản về việc áp dụng biện pháp tạm thời, về việc sử dụng cam kết giá trong vụ kiện chống bán phá giá, và trong thời hạn của các biện pháp chống bán phá giá đã được củng cố. Chính vì vậy, cải tiến đáng kể so với Hiệp định hiện hành bao gồm điều khoản bổ sung trong đó quy định các biện pháp chống bán phá giá sẽ hết hạn sau 5 năm kể từ khi có quyết định áp thuế, trừ khi có quyết định cho rằng, việc chấm dứt áp dụng biện pháp sẽ tái diễn hiện tượng bán phá giá và tiếp tục gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa. Điều khoản mới yêu cầu điều tra chống bán phá giá phải chấm dứt ngay lập tức nếu các cơ quan có thẩm quyền xác định biên độ bán phá giá là tối thiểu (thấp hơn 2% giá xuất khẩu của mặt hàng) hoặc lượng hàng hóa nhập khẩu là không đáng kể (khi lượng hàng hóa nhập khẩu từ một nước chiếm ít hơn 3% tổng lượng nhập khẩu của mặt hàng đó vào nước nhập khẩu). Hiệp định yêu cầu phải có thông báo chi tiết và kịp thời tất cả các quyết định chống bán phá giá tạm thời hay chính thức tới Ủy ban Thực thi Chống bán phá giá. Hiệp định sẽ tạo cơ hội cho các bên tham vấn về bất cứ vấn đề nào liên quan đến việc thực thi hiệp định hay bổ sung mục tiêu cho hiệp định, và yêu cầu thành lập Ban hội thẩm xem xét tranh chấp. 2.6.4 Hiệp định về các rào cản ki thuật đối với thương mại(TBT) Hiệp định này sẽ mở rộng và làm rõ Hiệp định về Hàng rào Kĩ thuật trong Thương mại được kí kết tại vòng đàm phán Tokyo. Hiệp định tìm cách để đảm bảo rằng các kết quả đàm phàn và tiêu chuẩn kĩ thuật, cũng như là qui trình kiểm tra và cấp giấy phép không tạo ra những rào cản không cần thiết đối với thương mại. Tuy nhiên, Hiệp định công nhận rằng các nước có quyền thiết lập các mức bảo vệ hợp lý cho cuộc sống, sức khỏe của con người, động thực vật và môi trường, và không bị ngăn cản đưa ra các biện pháp cần thiết để áp dụng được các mức bảo vệ đó. Chính vì vậy Hiệp định khuyến khích các nước sử dụng tiêu chuẩn quốc tế phù hợp với điều kiện nước mình, nhưng nó không đòi hỏi các nước thay đổi mức độ bảo vệ do sự tiêu chuẩn hóa này. Đặc điểm tiến bộ của Hiệp định được sửa đổi này còn thể hiện ở việc xem xét tới phương pháp sản xuất và chế biến liên quan đến đặc tính của hàng hóa. Phạm vi của qui trình đánh giá sự phù hợp được mở rộng và các nguyên tắc được chỉnh sửa chính xác hơn. Các điều khoản thông báo áp dụng cho chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ được nêu chi tiết hơn hiệp định của vòng đàm phán Tokyo. Qui tắc Thực hành đúng (Code of Good Practice) để chuẩn bị, thông qua và áp dụng các tiêu chuẩn do cơ quan tiêu chuẩn hóa đề ra được thông qua bởi các cơ quan, tổ chức của khu vực tư nhân và khu vực công được quy định tại phụ lục của Hiệp định này Chương 3: QUAN HỆ VIỆT NAM VÀ WTO 3.1. Tiến trình Việt Nam gia nhập WTO Tháng 06.1994 Việt Nam được công nhận là quan sát viên của GATT. Ngày 22.11.1994, Bộ chính trị ra công văn 1015 CV/CP-TW chấp thuận nộp đơn gia nhập WTO. Tháng 01.1995 Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO. Ngày 31.01.1995 Ban công tác về việc VN gia nhập WTO được thành lập. Ngày 30.11.1995 Thủ tướng chính phuủ ra công văn 335/QHQT giao cho bộ thương mại phối hợp với các bộ ngành chuẩn bị đàm phán. Tháng 08.1996 chúng ta đã hoàn thành “Bị vong lục về chế độ ngoại thương của Việt Nam” và gửi đến tới Ban thư kí WTO để luân chuyển đến các thành viên của ban công tác. Bị vong lục giới thiệu tổng quan về nền kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô, cơ sở hoạch định và thưc thi chính sách, và cung cấp thông tin chi tiết thương mại hàng hóa, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ. Đoàn đàm phán WTO được thành lập theo quyết định số 296/TTg ngày 07/05/1997. Ngày 27-28.07.1998 diễn ra phiên họp thứ nhất Ban công tác về việc VN gia nhập WTO tại Geneva. Ngay trong phiên họp này Việt Nam đã chuyển đến ban thư kí 1500 câu trả lời về thương mại, dịch vụ và sở hữu trí tuệ có lien quan đến thương mại. Tháng 11.1998 phiên họp lần hai diễn ra minh bạch hóa chính sách của VN về thương mại hóa, thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Tháng 7.1999 diễn ra phiên họp lần ba về cơ bản đã hoàn thành giai đoạn làm rõ chính sách thương mại Việt Nam. Tháng 7.2000 kí kết chính thức hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kì (BTA). Tháng 12.2001 BTA có hiệu lực. Tháng 11.2000 phiên đàm phán thứ tư, Ban công tác WTO cuối phiên đàm phán đã công nhận Việt Nam cơ bản đã kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách thương mại và chuyển qua giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường. Tháng 4.2002 phiên họp đa phương thứ năm với ban công tác. Việt Nam đưa ra bản chào đầu tiên về hang hóa dịch vụ. Bắt đầu đàm phán song phương với 28 nước có yêu cầu. Tháng 5.2003 vòng đàm phán thứ sáu WTO diễn ra đề nghị VN cần thực hiện “ Bước Nhảy Lượng Tử” để có thể gia nhập sau 2 năm nữa. Từ 02-12.12.2003 hiên đàm phán thứ 7 diễn ra tại geneve Thụy Sĩ, Việt Nam trình bản chào lần 3 về chính sách thương mại, chuyển sang bàn thảo “ Một số yếu tố của dự thảo báo cáo gia nhập WTO”. Tháng 6.2004 diễn ra vòng đàm phán thứ 8 với một số cam kết của VN: Thực hiện ngay nghĩa vụ MFN ngay sau khi gia nhập WTO đối với cả hang hóa và dịch vụ. Thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong nước và hang hóa nhập khẩu theo lộ trình cụ thể. Việt Nam tuyên bố bãi bỏ ngay việc trợ cấp xuất khẩu cà phê khi gia nhập WTO, các mặt hàng khác bãi bỏ sau 3 năm kể từ khi gia nhập. Về Hiệp định vệ sinh an toàn thực phẩm, chỉ trừ một, hai nghĩa vụ cần có thời gian để nâng cao năng lực quản lí (khoảng 2 năm), còn lại các nghĩa vụ khác đều phải tuân thủ. Về trợ cấp khác liên quan đến hàng công nghiệp, Việt Nam tuyên bố: trợ cấp gắn với tỉ lệ nội địa hóa sẽ xóa bỏ ngay sau khi gia nhập, các hình thức trợ cấp từ ngân sách sẽ bãi bỏ sau 5 năm từ khi gia nhập. Việt Nam cam kết mở cửa thị trường cho Hoa Kì lúc nào thì cũng sẽ mở cửa thị trường cho các nước thành viên của WTO lúc ấy. Viêt Nam chấp thuận giảm thuế nhập khẩu bình quân thêm 4% so với lần chào ở phiên họp thứ 7, thuế nhập khẩu bình quân còn 18%. Việt nam cam kết thực hiện đầy đủ ngay từ khi gia nhập các hiệp định về Sở hữu chí tuệ (TRIPS); Hiệp định về các biện pháp đầu tư có liên quan đến đầu tư (TRIMS); Hiệp định về giá hải quan; Hiệp định về rào cản kĩ thuật đối với thương mại (TBT). Từ ngày 07.12.2004 VN tham gia vòng đàm phán thứ chín, Việt Nam và Tổ đàm phán thực hiện 3 công việc. Thứ nhất là, rà soát lại bản dự thảo báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO.Thứ hai là, thực hiện việc hỏi đáp xung quanh việc minh bạch hóa chính sách của Việt Nam để đánh giá khả năng thực thi các cam kết gia nhập.Thứ ba là, các thành viên nghe lộ trình ban hành các văn bản pháp luật mới của Việt Nam để thực thi các hiệp định của WTO. Tháng 10.2004 kết thúc đàm phán song phương với EU. Tháng 5.2006 kết thúc đàm phán song phương với Hoa Kì. Ngày 15.07.2006 phiên đàm phán thứ 12 tại Geneve do thứ trưởng bộ thương mại Lương Văn Tự làm trưởng đoàn. Ngày 19.07.2006 diễn ra phiên đàm phán thứ 13. Ngày 07.10.2006 WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của đài hội đồng tại geneve để chính thức kết nạp VN là thánh viên của WTO. Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam dự lễ kết nạp thành viên WTO. Bộ trưởng thương mại Trương Đình Tuyển và giám đốc WTO Pascal Lamy kí nghị định thư gia nhập. Sau đó, văn kiện này sẽ dược trình lên Quốc hội để xem xét thông qua (theo lịch trình phiên họp Quốc hội Việt Nam sẽ kết thúc vào ngày 5.12.2006) và gửi lại cho ban thư kí WTO. 30 ngày kể từ sau Ban thư kí WTO nhận được bản phê chuẩn này của Quốc hội Việt Nam, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO. Ngày 26.10.2006 , kết thúc phiên đàm phán đa phương cuối cùng, Ban công tác chính thức thông qua toàn bộ hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam. Ngày 7.11.2006, WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của đại hội đồng tại Geneva để chính thức kết nạp Việt Nam vào WTO. 3.2. Các cam kết của Việt Nam gia nhập WTO Những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO thể hiện qua 3 văn kiện cơ bản:Biểu cam kết về hàng hóa.Biểu cam kết về thương mại và dịch vụ. Báo cóa của ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO 3.2.1.Kinh tế phi thị trường Việt Nam chấp nhận bị xem là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm kể từ ngày gia nhập(không muộn hơn 31/12/2018) 3.2.2.Về mặt hàng dệt may Các nước thuộc WTO không áp dụng hạng ngạch nhập khẩu đối với hàng dệt may Việt Nam.Khi Việt Nam áp dụng các biện pháp tài trợ bị cấm đối với hàng dệt may thì một số nước có thể áp dụng các biện pháp trả đũa.Ngoài ra thành viên WTO cũng sẽ không được áp dụng tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may của nước ta 3.2.3.Về trợ cấp phi nông nghiệp Việt Nam chấp nhận bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm(tài trợ đèn đỏ) theo quy định của WTO đối với hàng xuất khẩu và trợ cấp khuyến khích nội địa hóa.Tuy nhiên,những ưu đãi về thuế dành cho kinh doanh hàng xuất khẩu đã cấp cho doanh nghiệp trước ngày Việt Nam gia nhập WTO thì được duy trì trợ cấp trong thời gian là 5 năm(trừ mặt hàng dệt may). 3.2.4.Trợ cấp nông nghiệp Ta cam kết sẽ không áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản từ thời điểm gia nhập.Tuy nhiên ta bảo lưu quyền được hưởng một số quy định riêng của WTO dành cho nước đang phát triển trong lĩnh vực này.Đối với loại hỗ trợ mà WTO qu định phải cắt giảm nhìn chung ta duy trì được ở mức không quá 10% giá trị sản lượng.Ngoài mức này,ta còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm.Các loại trợ cấp gián tiếp cho nông nghiệp mang tính chất khuyến nông(như hỗ trợ thủy lợi)là trợ cấp “xanh” hay trợ cấp phục vụ phát triển nông nghiệp được WTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế. 3.2.5.Quyền kinh doanh(xuất nhập khẩu hàng hóa) Việt Nam chấp nhận ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp.Trừ đối với các mặt hàng thuộc danh mục thương mại nhà nước như:xăng,dầu,thuốc lá điếu,xì gà,băng đĩa hình,báo chí và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà ta chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi(như gạo và dược phẩm).Từ ngày 01/01/2011 cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài được kinh doanh xuất khẩu gạo.Ta đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam.Quyền xuất khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu Trong mọi trường hợp,cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài sẽ không tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong nước .Các cam kết về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng đến quyền của ta trong việc đưa ra các quy định để quản lý dịch vụ phân phối,đặc biệt với sản phẩm nhạy cảm như dược phẩm,xăng dầu,báo-tạp chí.. 3.2.6.Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia Các thành viên WTO đồng ý cho ta thời gian chuyển đổi không quá 3 năm để điều chình lại thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia cho phù hợp với quy định của WTO.Hướng sửa đổi là đối với rượu trên 20 độ cồn ta hoặc áp dụng một mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phần trăm.Đối với bia ta chỉ áp dụng một mức thuế phần trăm 3.2.7.Doanh nghiệp nhà nước /doanh nghiệp thương mại Nhà nước Cam kết của ta trong lĩnh vực này là nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, Nhà nước với tư cách là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt động của doanh nghiệp như các cổ đông khác.Việt Nam cam kết coi mua sắm của doanh nghiệp nhà nước như là mua sắm chính phủ. 3.2.8. Tỷ lệ cổ phần thông qua quyết định tại doanh nghiệp Điều 52 và 104 của Luật doanh nghiệp quy định một số vấn đề quan trọng có liên quan đến hoạt động của công ty TNHH và công ty cổ phần chỉ được phép thông qua khi có số phiếu đại diện ít nhất làng 65% hoặc 75% vốn góp chấp thuận. Quy định này có thể vô hiệu hóa quyền của bên góp đa số vốn trong liên doanh. Do vậy, ta đã xử lý theo hướng cho phép các bên tham gia liên doanh được thỏa thuận vấn đề này trong điều lệ công ty. 3.2.9.Cam kết về thuế xuất nhập khẩu Bảng: Bảng cam kết giảm thuế nhập khẩu theo nhóm ngành hàng Nhóm ngành hàng Mức thuế nhập khẩu hiện hành Mức thuế nhập khẩu phải giảm Thời hạn thực hiện giảm 1.Toàn bộ biểu thuế 17,4 13,4 5-7 năm 2.Nông sản nhập khẩu 23,5 20,9 5-7 năm 3.Hàng công nghiệp 16,8 12,6 5-7 năm Bảng: Bảng cam kết chung về giảm thuế nhập khẩu Cách cam kết Số dòng thuế nhập khẩu Tỷ trọng(%) 1.Cắt giảm thuế nhập khẩu 3800 35.5 2.Phải dừng mở mức thuế ở thời điểm gia nhập WTO 3700 34.5 3.Múc thuế trần cao hơn mức thuế khi gia nhập WTO 3170 30.0 Tổng cộng 10670 100 Cụ thể: Có khoảng hơn 1/3 số dòng thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô - xe máy... vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định. Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử. Ta đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất là phương tiện vận tải. Ta cũng cam kết cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do theo ngành của WTO giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp. Đây là hiệp định tự nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành. Ngành mà ta cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ thông tin, dệt may và thiết bị y tế. Ta cũng tham gia một phần với thời gian thực hiện từ 3 – 5 năm đối với ngành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng. Về hạn ngạch thuế quan, ta bảo lưu quyền áp dụng với đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối. 3.2.10.Cam kết về các biện pháp hạn chế nhập khẩu Ta đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân phối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007. Với thuốc lá điếu và xì gà, ta đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên sẽ chỉ có một doanh nghiệp Nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điếu và xì gà. Mức thuế nhập khẩu mà ta đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất cao. Với ô tô cũ ta cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm. 3.2.11.Cam kết về minh bạch hóa các chính sách thương mại Ta cam kết ngay từ khi gia nhập sẽ công bố dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật do quốc hội, ủy ban thường vụ quốc hội và chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân. Thời hạn dành cho việc góp ý và sửa đổi tối thiểu là 60 ngày. Ta cũng cam kết sẽ đăng công khai các văn bản pháp luật trên các tạp chí hoặc trang tin điện tử của các bộ, ngành. 3.2.12.Cam kết về mở rộng thị trường đầu tư Trừ một số ngành hạn chế đầu tư nước ngoài,còn các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam và được hưởng quy chế tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT) khi đầu tư vào Việt Nam.Từ ngày 01/07/2006 các nhà đầu tư trong và ngoài nước chịu sự điều tiết chung bởi luật đầu tư và luật doanh nghiệp.Nhà đầu tư nước ngoài được hưởng quyền kinh doanh của mình tương tự như nhà đầu tư Việt Nam.Không còn bị ràng buộc phải đầu tư vào cùng nguyên liệu,không bị buộc phải xuất khẩu sản phẩm như một điều kiện để được phép đầu tư tại Việt Nam.Doanh nghiệp có vốn FDI được cân đói ngoại tệ để phục vụ cho hoạt động kinh doanh.Doanh nghiệp có vốn nước ngoài được bảo vệ quyền lợi và tài sản hợp pháp 3.2.13.Cam kết về mở rộng thị trường dịch vụ Trong thỏa thuận WTO ta cam kết đủ 11 ngành dịch vụ,tính theo phân ngành khoảng.Về mức độ cam kết,hầu hết các ngành dịch vụ trong đó cónhững ngành nhạy cảm như bào hiểm,phân phối,du lịch..ta giữ được mức cam kết gần như trong BTA riêng viễn thông,ngân hàng và chứng khoán để sớm kết thúc đàm phán ta đã có một số bước tiến nhìn chung không quá xa so với hiện trạng và đều phù hợp với định hướng phát triển đã được phê duyệt cho các ngành này 3.2.13.1 Cam kết chung cho các ngành dịch vụ Trước hết, công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh, trừ phi điều đó được ta cho phép trong từng ngành cụ thể mà những ngành như thế là không nhiều. Ngoài ra, công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam. Cuối cùng, ta cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng tỷ lệ phải phù hợp với mức mở cửa thị trường ngành đó. Riêng ngân hàng ta chỉ cho phép ngân hàng nước ngoài mua tối đa 30% cổ phần. 3.2.13.2 Dịch vụ khai thác hỗ trợ dầu khí Ta đồng ý cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập để đáp ứng các dịch vụ hỗ trợ khai thác dầu khí. Tuy nhiên, ta còn giữ nguyên quyền quản lý các hoạt động trên biển, thềm lục địa và quyền chỉ định các công ty thăm dò, khai thác tài nguyên. Ta cũng bảo lưu được một danh mục các dịch vụ dành riêng cho các doanh nghiệp Việt Nam như dịch vụ bay, dịch vụ cung cấp trang thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa bờ... Tất cả các công ty vào Việt Nam cung ứng dịch vụ hỗ trợ dầu khí đều phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 3.2.13.3 Dịch vụ viễn thông Ta có thêm một số nhân nhượng nhưng ở mức độ hợp lý, phù hợp với chiến lược phát triển của ta. Cụ thể là cho phép thành lập liên doanh đa số vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ viễn thông không gắn với hạ tầng mạng, phải thuê mạng do doanh nghiệp Việt Nam nắm quyền kiểm soát và nới lỏng một chút về việc cung cấp dịch vụ qua biên giới để đổi lấy giữ lại hạn chế áp dụng cho viễn thông có gắn với hạ tầng mạng chỉ các doanh nghiệp mà nhà nước nắm đa số vốn mới đầu tư hạ tầng mạng, nước ngoài chỉ được góp vốn đến 49% và cũng chỉ được liên doanh với đối tác Việt Nam đã được cấp phép.Như vậy, với dịch vụ có gắn với hạ tầng mạng, ta vẫn giữ mức cam kết như BTA, một yếu tố quan trọng góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng. 3.2.13.4 Dịch vụ phân phối Thời điểm cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là như BTA vào 01/01/2009.Thứ hai, ta không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý cho nước ngoài. Nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, xi măng, phân bón... ta chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm.Quan trọng nhất, ta hạn chế khá chặt chẽ khả năng mở điểm bán lẻ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mở điểm bán lẻ thứ hai trở đi phải được ta cho phép theo từng trường hợp 3.2.13.5 Dịch vụ bảo hiểm Về tổng thể, mức độ cam kết ngang BTA, tuy nhiên, ta đồng ý cho Hoa Kỳ thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ ngày gia nhập. 3.2.13.6 Dịch vụ ngân hàng Ta đồng ý cho thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài không muộn hơn ngày 01/04/2007. Ngoài ra ngân hàng nước ngoài muốn được thành lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh đó không được phép mở chi nhánh phụ và vẫn phải chịu hạn chế về huy động tiền gửi bằng VND từ thể nhân Việt Nam trong vòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập WTO. Ta vẫn giữ được hạn chế về mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam, không quá 30%. Đây là hạn chế đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành ngân hàng. 3.2.13.7 Dịch vụ chứng khoán Ta cho phép thành lập công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài và chi nhánh sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO 3.2.13.8 Các cam kết khác Với các ngành còn lại như du lịch, giáo dục, pháp lý, kế toán, xây dựng, vận tải..., mức độ cam kết về cơ bản không khác xa so với BTA. Ngoài ra không mở cửa dịch vụ in ấn - xuất bản. 3.2.14.Cam kết về minh bạch cơ chế chình sách thương mại Thành lập wedsite của chính phủ Việt Nam công bố toàn bộ chính sách thương mại,đầu tư,sở hữu trí tuệ.Các văn bản pháp lý có liên quan đến thương mại,đấu tư..chỉ có hiệu lực khi được dăng công báo.Các chính sách thương mại có tác động không thuận lợi đến hoạt động của doanhnghiệp phải được công bố trên wedsite của chính phủ trước 60 ngày để xin ý kiến dư luận 3.2.15.Sở hữu trí tuệ Sở hữu trí tuệ là một trong những lĩnh vực được các thành viên của tổ chức thương mại Thế giới hết sức quan tâm. Những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ(TRIPS) là một trong những nội dung lớn trong những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Trong những năm đầu gia nhập WTO, quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam sẽ là vấn đề có ảnh hưởng rõ nét nhất đến hoạt động kinh doanh, thương mại do những tác động trực tiếp từ các nguyên tắc, yêu cầu thực thi “luật” của WTO. Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) ,WTO buộc VN phải đạt được hai chuẩn mực lớn về nội dung bảo hộ (tính đầy đủ) và về hiệu lực thực thi pháp luật (tính hiệu quả) của hệ thống sở hữu trí tuệ . Do đó, việc thực thi tốt quyền sở hữu trí tuệ là một trong những đòi hỏi hàng đầu của WTO. 3.2.15.1 Về bản quyền tác giả Theo luật sở hữu trí tuệ 2005 và Bộ Luật Dân sự 2005 quyền tác giả đối với những tác phẩm gốc được bảo hộ không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thể hiện và chất lượng của tác phẩm. Về thù lao, nhuận bút, các tổ chức, cá nhân sử dụng các tác phẩm đã được công bố hoặc bản ghi âm/ghi hình để thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của chính phủ. Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc khi bị xâm hại có quyền yêu cầu tổ chức cá nhân có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm hoặc khởi kiện ra toà án có thẩm quyền hoặc thông qua trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 3.2.15.2 Về nhãn hiệu bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ Theo bộ luật dân sự 2005 và phần III của luật sở hữu trí tuệ năm 2005. Không có yêu cầu bắt buộc đăng ký nhãn hiệu đối với bất kỳ hàng hóa và dịch vụ nào. Tất cả các đăng ký nhãn hiệu đều được công bố trên công báo sở hữu công nghiệp 3.2.15.3 Về chỉ dẫn địa lý,bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hóa Bộ luật dân sự năm 2005 và Phần III của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005. Việt Nam lưu ý một chỉ dẫn địa lý sẽ không được bảo hộ nếu đã trở thành tên gọi chung ở Việt Nam. Chỉ dẫn địa lý nước ngoài được bảo hộ ở nước xuất xứ mới có thể được bảo hộ ở Việt Nam. Bất kỳ chủ thể nào có quyền, theo luật pháp của n

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf74231634-60869099-Viet-Nam-Gia-Nhap-Wto-Nhung-Thuan-Loi-Kho-Khan.pdf
Tài liệu liên quan