Đề tài Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam: lí luận và thực tiễn vấn đề

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU .5

NỘI DUNG .7

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC .7

1.1. Tính tất yếu phải cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước ở nước ta .7

1.1.1. Doanh nghiệp nhà nước và yêu cầu đổi mới Doanh nghiệp nhà nước 7

1.1.2. Yêu cầu đổi mới Doanh nghiệp nhà nước .7

1.1.2.1. Phát triển kinh tế và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khan hiếm 7

1.1.2.2. Phát triển kinh tế đòi hỏi xoá bỏ bao cấp đổi với Doanh nghiệp nhà nước .8

1.1.2.3. Cạnh tranh với khu vực tư nhân .8

1.1.3. Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước 9

1.1.3.1. Khái niệm về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước .9

1.1.3.2. Cổ phần hoá là giải pháp cải cách doanh nghiệp tối ưu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay .9

1.2.Cơ sở lí luận và thực tiễn cổ phần hóa DNNN .11

1.2.1.Cơ sở lí luận của cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước .11

1.2.1.1.Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước theo quan điểm của C.Mác.11

1.2.1.2.Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước theo quan điểm của Đảng và Nhà nước 14

1.2.2.Thực tiễn cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước 16

1.3. Kinh nghiệm cổ phần hóa DNNN của một số nước trên thế giới .18

1.3.1.Cổ phần hóa DNNN ở Trung Quốc .18

1.3.2.Cổ phần hóa DNNN ở một số nước khác .20

1.3.3. Một số điều rút ra từ cổ phần hóa ở một số nước trên thế giới .21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DNNN Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA .23

2.1. Tiến trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam .23

2.1.1. Giai đoạn 1 (6/1992-4/1996) CPH tự nguyện .24

2.1.2. Giai đoạn 2 (5/1996-5/1998) Mở rộng chương trình thí điểm .26

2.1.3. Giai đoạn 3(6/1998-5/2002) Tăng tốc chương trình CPH .27

2.1.4. Giai đoạn 4 (6/2002-nay) .28

2.2. Đánh giá chung về quá trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam .32

2.2.1. Những thành tựu 33

2.2.1.1. Những thành tựu mang tính định lượng .33

2.2.1.2. Thành tựu của cổ phần hóa DNNN đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hóa và tác động của nó tới việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động .35

2.2.1.2.1. Về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau khi tiến hành cổ phần hóa .35

2.2.1.2.2. Về huy động vốn 36

2.2.1.2.3. Về giải quyết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động .37

2.2.2. Những hạn chế .38

2.2.2.1. Hạn chế lớn nhất của việc thực hiện chủ trương cổ phần hóa là tốc độ cổ phần hóa còn chậm .38

2.2.2.2. Vốn Nhà nước trong các Doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá còn nhỏ và việc huy động vốn trong quá trình chưa được nhiều, thời gian tiến hành cổ phần hoá một doanh nghiệp còn quá dài 40

2.2.2.3. Cơ chế chính sách cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa chưa đầy đủ, việc thực hiện chính sách đối với người lao động còn những bất cập .41

2.2.2.4. Sự chỉ đạo của các cấp còn chưa chặt chẽ 42

2.2.2.5. Công tác tuyên truyền, vận động cung cấp những kiến thức cần thiết về quá trình cổ phần hóa vẫn còn bị xem nhẹ, nên chưa tạo ra được sự quan tâm hưởng ứng tích cực của xã hội .42

2.2.2.6. Những hạn chế, trì trệ từ phía các doanh nghiệp .43

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN ĐẨY NHANH TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.44

3.1. Bối cảnh mới .44

3.2. Yêu cầu của vấn đề Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện mới . 45

3.3. Giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa DNNN .46

KẾT LUẬN .51

TÀI LIỆU THAM KHẢO .52

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

doc53 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 30/08/2013 | Lượt xem: 1385 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam: lí luận và thực tiễn vấn đề, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n cải cách kinh tế nhưng không chấp nhận loại bỏ sở hữu Nhà nước. Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc là những nước thực hiện phương thức này. Chấp nhận xóa bỏ quyền sở hữu Nhà nước. Các nước thực hiện cổ phần hóa theo khuynh hướng này là Philippin và Xrilanca. Người ta cho rằng quyền sở hữu thuộc Nhà nước hay tư nhân không quan trọng, họ chỉ cần doanh nghiệp nào mang lại lợi ích thiết thực cho các thành viên trong doanh nghiệp và cho xã hội. Dù còn nhiều khác biệt song các bước tiến hành cổ phần hóa các DNNN ở hầu hết các nước thuộc khu vực này đều có những nét tương đồng: Lập kế hoạch cổ phần hóa bao gồm: Đánh giá thực trạng và tiềm năng của doanh nghiệp, đề xuất loại hình mà doanh nghiệp thích hợp. Xem xét các khía cạnh luật pháp những văn bản luật nào liên quan trực tiếp đến loại hình hoạt động của doanh nghiệp. Các hợp đồng mà xí nghiệp đã đăng ký thực hiện chúng đến đâu vấn đề tổ chức và quản lý sản xuất cả trước và sau khi cổ phần hóa. Các quan hệ công việc, đặc biệt là các vấn đề liên quan tới hợp đồng công việc. Các vấn đề về vốn, kể cả vốn cố định và lưu động, những khoản tín dụng nguồn vốn và khả năng, năng lực sản xuất của doanh nghiệp và các vấn đề liên quan. Vấn đề cuối cùng là về thuế và vấn đề tài chính càn xử lý doanh nghiệp đã giải quyết đến đâu và còn những vướng mắc gì. 1.3.3. Một số điều rút ra từ cổ phần hóa DNNN ở một số nước trên thế giới. Sự phát triển ồ ạt DNNN và không xác định được quy mô hợp lý của khu vực này là một gánh nặng cho kế hoạch đầu tư ở nhiều nước. Điều này vượt quá sức chịu đựng của nhiều nền kinh tế. Bởi vậy cổ phần hóa DNNN là điều không thể tránh khỏi. Để tiến hành cổ phần hóa có hiệu quả ở các nước hầu hết người ta lập các ủy ban cơ quan chuyên trách quốc gia, cơ quan đó phải gồm những người được giao thực quyền. Hình thức cổ phần hóa rất phong phú. Cách làm nhiều nước rất mềm dẻo dễ chấp nhận trong điều kiện có nhiều giới còn e ngại hoặc chống đối. Những bài học kinh nghiệm có thể rút ra từ việc nghiên cứu cổ phần hóa ở các nước trên thế giới là: Cổ phần hóa phải được nghiên cứu toàn diện. Nó không phải là mục đích tự thân mà là một bộ phận trong một chương trình cải cách rộng lớn hơn. Nhằm thúc đẩy bố trí tốt hơn các nguồn lực, khuyến khích cạnh tranh tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, phát triển thị trường vốn. Việc nghiên cứu thiếu thận trọng các phương án lựa chọn trước khi hành động có thể dẫn đến những sai sót tốn kém nhiều, chương trình bán xí nghiệp mới chỉ chú trọng đến hiệu quả thu hồi trước mắt nhưng lại chưa quan tâm tìm cách bảo đảm tài chính lâu dài. Trong trường hợp thị trường vốn chưa phát triển thậm chí còn yếu kém thì việc cổ phần hóa cần phải thận trọng và phải cụ thể hóa trong chủ trương bán một phần tài sản, điều kiện tài chính là tiên quyết, nếu không trong tình trạng nền kinh tế sẽ bất thường. Nhiều nước đã thu hẹp thị trường tài sản của mình bằng cách giới hạn hoặc loại trừ sự tham gia của người nước ngoài, xây dựng một chiến lược cổ phần hóa và phân loại xí nghiệp quốc doanh. Cũng nên tham khảo cách mà các nước mà mới đây là Trung Quốc thực hiện với các doanh nghiệp tầm cỡ. Chính phủ các nước này thuê một công ty định giá. Việc định giá được xác định trên cơ sở giá thị trường của doanh nghiệp (maket cap), chứ không phải giá thị trường của tài sản cố định. Mức giá này sẽ dao động trong mức giá trần và sàn, nhà đầu tư được đăng ký mua tự do trong khoảng giá nhất định. Sau đó, Chính phủ sẽ đưa ra cơ cấu của cổ đông doanh nghiệp, chú trọng tới nhà đầu tư nhỏ lẻ và cán bộ công nhân viên. Áp dụng giá trần và sàn sẽ tránh được việc đấu giá nhiều lần do nhà đầu tư bỏ cuộc gây nên, kéo dài cổ phần hóa doanh nghiệp. Việc cổ phần hóa yêu cầu phải có các cán bộ có trình độ quản lý một chương trình cổ phần hóa là công việc phức tạp trong khi các quan chức Chính phủ chưa có đầy đủ các năng lực cần thiết. Mặt khác Nhà nước thường ở thế yếu trong thương lượng các xí nghiệp không hấp dẫn, lại thiếu thông tin, thiếu kinh nghiệm trong việc bán tài sản. Trong những trường hợp như vậy thường thấy là tài sản bị đánh giá thấp hơn giá trị thực tế của nó. Cuối cùng điều cần phải có là sự công khai và lòng tin tưởng của quần chúng đối với chương trình cổ phần hóa. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA 2.1. Tiến trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam Cổ phần hóa là một phần quan trọng trong cải cách hệ thống DNNN của nhiều quốc gia trên thế giới kể từ đầu thập niên 80 của thế kỉ XX ở Việt Nam, Cổ phần hóa DNNN là một quá trình tìm tòi thử nghiệm và từng bước tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai. Trong quá trình đó Đảng ta không ngừng đổi mới tư duy, từng bước chỉ đạo đúng đắn Cổ phần hóa góp phần sắp xếp, củng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả của hệ thống DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian từ 1960 đến 1990 tức là trước thời điểm thực hiện cổ phần hóa, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai nhiều biện pháp nhằm cải tiến quản lý xí nghiệp quốc doanh. Trong thời kỳ đổi mới ý tưởng về cổ phần hóa DNNN đã được hình thành khá sớm. Từ hội nghị Trung ương 3 (khóa VI) về đổi mới cơ chế quản lý đã nêu: “ Nếu không đủ điều kiện để củng cố và không cần thiết duy trì hình thức quốc doanh thì chuyển sang hình thức sở hữu khác (kể cả cho tập thể, tư nhân thuê), hoặc giải thể, trước hết là những xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng không thuộc loại thiết yếu, xí nghiệp dịch vụ trang bị kỹ thuật thấp, bị thua lỗ thường xuyên. Những biện pháp cải cách tương đối có giá trị đột phá qui định trong quyết định số 21/HĐBT ngày 14-11-1987 của hội đồng bộ trưởng. Nếu tính về số lượng các văn bản đượn ban hành thì vấn đề đổi mới DNNN chiếm vị trí hàng đầu trong hệ thống chính sách và pháp luật ở nước ta. Quyết định 21/HĐBT đã đề cập tới việc tiến hành thí điểm cổ phần hóa DNNN và giao cho bộ tài chính chủ trì. Nhưng do điều kiện thị trường chưa phát triển tồn tại quá lâu trong cơ chế cũ nên từ Trung ương đến cơ sở chưa hiểu hết vấn đè phức tạp này do đó chưa thống nhất về quan điểm. Ở giai đoạn này thì cổ phần hóa là một vấn đề mới đối với thực tiễn quản lí DNNN ở nước ta. Đầu năm 1990 trên cơ sở đánh giá kết quả sau 5 năm đổi mới, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành quyết định số 143/HĐBT ngày 10/5/1990 về chủ trương nghiên cứu làm thử xí nghiệp quốc doanh sang công ty cổ phần. Tuy vậy đến năm 1992 cả nước chưa cổ phần hóa được doanh nghiệp nào. Một trong những nguyên nhân của tình trạnh này là quyết định 143/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng đặt ra quá nhiều mục tiêu không rõ ràng dễ gây hiểu nhầm đối với các doanh nghiệp và người lao động. Đến đại hội XII Đảng ta lại chủ trương thực hiện quan điểm: “ khẩn trương sắp xếp lại và đổi mới quản lí kinh tế quốc doanh. Cho thuê, chuyển hình thức sở hữu hoặc giải thể các cơ sở thua lỗ kéo dài và không có khả năng vươn lên”. Đại hội chỉ rõ: “đối với những cơ sở không cần giữ hình thức quốc doanh cần chuyển hình thức kinh doanh, hình thức sở hữu hoặc giải thể, đồng thời giải quyết việc làm và đời sống cho người lao động. Khuynh hướng coi nhẹ kinh tế quốc doanh, muốn tư nhân hóa tràn lan, cho rằng chuyển sang cơ chế thị trường phải tư hữu hóa tất cả các tư liệu sản xuất là sai lầm. Tuy nhiên nếu duy trì và phát triển kinh tế quốc doanh một cách tràn lan, kéo dài cơ chế bao cấp cũng không đúng”. Cổ phần hóa DNNN có thể chia thành 4 giai đoạn chính: 1. Giai đoạn 1 (6/1992-4/1996) CPH tự nguyện 2. Giai đoạn 2 (5/1996-5/1998) Mở rộng chương trình thí điểm 3. Giai đoạn 3(6/1998-5/2002) Tăng tốc chương trình CPH 4. Giai đoạn 4 (6/2002-nay) 2.1.1. Giai đoạn thứ nhất (6/1992-4/1996): Nhằm thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Hội đồng bộ trưởng đã ra quyết định số 202/QĐ-HĐBT chỉ đạo tiếp tục triển khai tiếp tục triển khai tiếp tục tiến hành cổ phần hóa DNNN bằng việc chuyển thí điểm một số DNNN thành công ty cổ phần. Đây được coi là một mốc trong tiến trình cổ phần hóa DNNN ở nước ta, đánh dấu tiến trình cổ phần hóa đang được xúc tiến và đang trong giai đoạn thí điểm. Để thực hiện Nghị quyết này theo chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 của Thủ tướng Chính phủ đã chọn 7 doanh nghiệp, đồng thời cũng giao cho các bộ, các tỉnh các thành phố trực thuộc Trung ương chọn 1 đến 2 doanh nghiệp để tiến hành thí điểm cổ phần hóa. Triển khai thực hiện theo tinh thần chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ các bộ, ngành, địa phương đã thông báo đến từng doanh nghiệp để các doanh nghiệp tự nguyện tiến hành thí điểm chuyển doanh nghiệp mình thành công ty cổ phần. Cuối năm 1993 đã có 30 doanh nghiệp đăng ký thực hiện thí điểm cổ phần hóa nhưng vì nhiều lý do mà cả 7 doanh nghiệp đã được Chính phủ chọn và nhiều doanh nghiệp khác xin rút lui hoặc không tiếp tục làm thử. Điều này đã đặt chúng ta trước khó khăn lớn và để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thí điểm cổ phần hóa Đảng ta đã chủ trương: “để thu hút thêm các nguồn vốn, tạo động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy DNNN làm ăn có hiệu quả cần thực hiện các hình thức cổ phần hóa có mức độ phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất kinh doanh; Trong đó Nhà nước chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối”. Hội Nghị giữa nhiệm kì khóa XII Đảng ta đã đặt ra yêu cầu: áp dụng từng bước vững chắc việc bán một tỷ lệ cổ phần cho công nhân viên chức làm việc tại doanh nghiệp; Thí điểm việc bán một phần cổ phần, cổ phiếu của một số DNNN cho một số tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp; Trên cơ sở cổ phần hóa tổ chức Hội đồng quản trị gồm đại diện cho sở hữu nhà nước, sở hữu công nhân và các chủ sở hữu khác… Mặc dù có sự chỉ đạo sít sao của Đảng với quan điểm rõ ràng nhưng kết quả thu được không cao, tới tháng 4/1996 chỉ có 5 doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần trong đó 2 trong tổng số 64 tỉnh thành và 3 trong số 7 bộ có doanh nghiệp cổ phần hóa. Cả 5 doanh nghiệp này đều là những doanh nghiệp nhỏ, sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong những lĩnh vực không quan trọng. Những thông tin cụ thể về 5 Doanh nghiệp được trình bày cụ thể hơn trong bảng dưới đây (trang bên) Bảng: 5 DNNN được Cổ phần hóa đầu tiên STT Tên doanh nghiệp Cơ quan chủ quản trước đây Ngày chuyển sang CTCP Vốn điều lệ (tr.đồng) Tỷ lệ vốn Nhà nước (%) 1 Công ty đại lý liên hiệp vận chuyển Bộ GTVT 1/7/1993 6.200 18 2 Công ty cơ điện lạnh Sở công nghiệp TP.HCM 1/10/1994 1.600 30 3 Nhà máy giày Hiệp An Bộ công nghiệp nhẹ 1/10/1994 3.784 30 4 Xí nghiệp thức ăn chăn nuôi Bộ NN&PTNN 1/7/1995 3.540 30 5 Xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu UBND tỉnh Long An 1/7/1995 7.912 30 (Nguồn: Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp TW) Nhận xét: Có thể nói giai đoạn thí điểm Cổ phần hóa DNNN đã không đạt được những kết quả như mong đợi, tốc độ Cổ phần hóa quá chậm và còn quá nhiều những vướng mắc khó khăn cần được tháo gỡ và rút kinh nghiệm. 2.1.2. Giai đoạn 2 (5/1996-5/1998): Đây là giai đoạn vừa làm vừa rút kinh nghiệm để tạo hành lang pháp lí cho các doanh nghiệp khi cổ phần hóa, hay nói cách khác đây là giai đoạn mở rộng cổ phần hóa. Với kinh nghiệm sau 4 năm tiến hành thí điểm cổ phần hóa và trước nhu cầu về vốn của các DNNN, ngày 7/5/1996 Chính phủ đã chủ trương mở rộng cổ phần hóa bằng Nghị định 28/CP với những quy định rõ ràng, đầy đủ và cụ thể hơn về việc chuyển một số DNNN thành Công ty cổ phần. Kết quả sau hơn 2 năm thực hiện tính đến tháng 6/1998 cả nước đã tiến hành Cổ phần hóa được 25 DNNN thuộc 2 bộ, 11 địa phương và 2 Tổng công ty 91 tiến hành CPH thành công với tổng số vốn điều lệ tại thời điểm CPH là 243,042 tỷ đồng. Trong đó có 6 doanh nghiệp trên 10 tỷ đồng (chiếm 20,8%). Nhìn chung, việc triển khai thực hiện Nghị định 28/CP vẫn còn khá nhiều vướng mắc bất cập như phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp, chế độ ưu đãi cho doanh nghiệp và người lao động sau cổ phần hóa…đây chính là những rào cản bước đầu làm chậm tiến trình cổ phần hóa, tuy nhiên nếu nhìn nhận một cách khách quan thì cổ phần hóa trong giai đoạn này cũng đã đạt được những kết quả khả quan. 2.1.3. Giai đoạn 3 (6/1998-5/2002): Trên cơ sở những kết quả bước đầu của giai đoạn mở rộng cổ phần hóa, Đảng ta đã chủ trương đẩy mạnh tốc độ Cổ phần hóa DNNN. Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã yêu cầu: Đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn, cần lập kế hoạch cổ phần hóa tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, làm ăn có hiệu quả, phát huy tốt nguồn lực hiện có. Tiến hành thí điểm bán cổ phần cho người nước ngoài, khuyến khích nông dân tham gia sản xuất nguyên liệu cung ứng cho các nhà máy, xí nghiệp, tham gia mua cổ phần ở các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến nông sản… Từ thực tiễn kinh nghiệm ngày 4/4/1997 Bộ Chính trị ra thông báo số 63TB/TW “ý kiến của Bộ Chính trị về tiếp tục triển khai tích cực và vững chắc cổ phần DNNN”. Nhằm thực hiện quan điểm của Đảng ngày 29/6/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP thay thế cho các văn bản về cổ phần hóa trước đó, cùng với chỉ thị 20/CT-TTg ngày 21/4/1998 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới DNNN. Nghị định này đã là một bước tiến lớn trong việc đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa, hạn chế bớt được những bất cập trong các văn bản chỉ đạo thực hiện trước đó. Nghị định này đã bước đầu cho những kết quả khả quan, đến 6 tháng cuối năm 1998 đã có 90 DNNN được cổ phần hóa gấp 3 lần kết quả của những năm trước đó, đặc biệt năm 1999 cả nước cổ phần hóa được hơn 240 doanh nghiệp. Đạt được những thành công này một phần là nhờ ở sự chỉ đạo, giám sát, đôn đốc của các cơ quan, ban, ngành từ Trung ương đến cơ sở. Trong vòng hai năm các cơ quan Nhà nước đã ban hành 15 văn bản hướng dẫn tháo gỡ những vướng mắc khó khăn trong cổ phần hóa. Nhưng đến năm 2000 cả nước chỉ cổ phần hóa được 155 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp đạt 26% kế hoạch. Sự chững lại của cổ phần hóa có nhiều nguyên nhân nhưng một trong số các nguyên nhân chính vẫn là những bất cập về chính sách và cơ chế pháp lí. Trước tình hình đó Hội nghị Trung ương 3 khóa IX về sắp xếp đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước đã xác định: phải kiên quyết điều chỉnh cơ cấu để doanh nghiệp có cơ cấu hợp lí và theo đó thì cổ phần hóa DNNN được xác định là khâu tạo ra những chuyển biến quan trọng tỏng việc nâng cao hiệu quả DNNN. 2.1.4. Giai đoạn 4 (6/2002-nay): Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương khóa IX Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CP nhằm thay thế Nghị định 44/1998/NĐ-CP, đồng thời ra quyết định số 50/2002/QĐ-CP về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN và một số văn bản chỉ đạo thực hiện khác nhằm từng bước tháo gỡ những vướng mắc của các văn bản trước đó, tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình cổ phần hóa. Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các bộ, các tỉnh, các tổng công ty rà soát, sắp xếp lại các doanh nghiệp, xây dựng đề án đổi mới nâng cao hiệu quả của DNNN trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân. Bằng các hình thức sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, giao bán, khoán, cho thuê và cổ phần hóa. Đại hội IX của Đảng đề ra mục tiêu là trong 5 năm 2001 – 2005 phải cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước và thực hiện tốt chủ trương cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn…Thực hiện theo chủ trương này từ năm 2001 đến 2005 số Doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá và trở thành các công ty cổ phần có vốn nhà nước đã tăng lên khá nhanh cả về số lượng công ty, lẫn năng lực vốn, lao động, tài sản và kết quả hoạt động. Theo số liệu điều tra doanh nghiệp hằng năm của Tổng cục Thống kê từ năm 2000 cho thấy, từ số lượng công ty cổ phần có vốn nhà nước chỉ có 305 doanh nghiệp trong năm 2000 đã lên 470 doanh nghiệp trong năm 2001, tăng 54,1%; lên 557 doanh nghiệp trong năm 2002, tăng 18,7%; lên 669 doanh nghiệp trong năm 2003, tăng 19,9%; lên 815 doanh nghiệp trong 2004, tăng 21,8% và lên 1.096 doanh nghiệp trong năm 2005, tăng 34,5%. Sau 5 năm đã tăng thêm 791 doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước, tăng gấp gần 3,6 lần và bình quân mỗi năm tăng 158 doanh nghiệp, tương ứng với tốc độ tăng bình quân là 29,8%/năm. Mới đây, Chính phủ đã đưa ra chương trình CPH các DNNN giai đoạn  2006- 2010, nét cơ bản là tiếp tục quá trình đổi mới DNNN, kiên trì việc CPH, đồng thời với việc nhanh chóng tạo môi trường mới để thúc đẩy hình thành các tập đoàn kinh tế lớn, kiện toàn các tổng công ty để làm nòng cốt phát triển thành các tập đoàn kinh tế. Một số lĩnh vực lâu nay được coi là nhạy cảm thì trước yêu cầu hội nhập, Chính phủ đã xác định lại để tiến hành cổ phần, ví như lĩnh vực ngân hàng, có thể nói theo WTO thì ngân hàng là một trong những lĩnh vực phải mở cửa sớm nhất vào sang năm. Kế hoạch để cổ phần hoá tất cả các ngân hàng thương mại NN đã được vạch rõ, bắt đầu từ Ngân hàng Ngoại thương và sau cùng là Ngân hàng Nông nghiệp. Chính phủ đã quyết định chỉ giữ lại 28 tập đoàn và tổng công ty mà Nhà nước giữ lại 100% vốn ở công ty mẹ, còn lại gần 80 tập đoàn và tổng công ty khác sẽ cho tiến hành cổ phần hòa, trong đó có TCty Dệt may, TCty Công nghiệp tàu thủy… Có thể coi bước đột phá của CPH trong giai đoạn 2006-2010 là cổ phần hóa các tập đoàn và tổng công ty. Cụ thể ngay trên địa bàn thành phố Hà Nội: Năm 2005 Số doanh nghiệp dự kiến hoàn thành cổ phần hóa : 34 doanh nghiệp Kết quả : Cổ phần hóa được 30 doanh nghiệp đạt tỉ lệ 88,23 % kế hoạch Số doanh nghiệp chưa hoàn thành cổ phần hóa là : 4 doanh nghiệp Năm 2006 Số doanh nghiệp dự kiến hoàn thành cổ phần hóa : 21 doanh nghiệp Kết quả : Cổ phần hóa được 10 doanh nghiệp đạt tỉ lệ 47,6 % kế hoạch Số doanh nghiệp chưa hoàn thành cổ phần hóa là : 11 doanh nghiệp Danh sách các doanh nghiệp đã hoàn thành cổ phần hóa : 1.Công ty thương mại và dịch vụ tổng hợp Hà Nội 2. Công ty thương mại và đầu tư phát triển Hà Nội 3.Công ty đầu tư và phát triển nhà Hà Nội số 25 4. Công ty đầu tư xây dựng kinh doanh nhà Nghệ An 5. Công ty sản xuất vật liệu xây dựng Kim Bảng 6. Công ty thương mại đầu tư phát triển nhà số 32 7. Công ty thi công cơ giới xây dựng 8. Công ty xây dựng dân dụng Hà Nội 9. Công ty sách và thiết bị trường học 10.Công ty dệt kim Thăng Long Năm 2007 Số doanh nghiệp dự kiến hoàn thành cổ phần hóa : 23 doanh nghiệp Kết quả : Đã hoàn thành cổ phần hóa 10 doanh nghiệp đạt 43,47% kế hoạch Số doanh nghiệp chưa hoàn thành cổ phần hóa là : 13 doanh nghiệp Danh sách các doanh nghiệp đã hoàn thành cổ phần hóa: 1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cơ điện Trần Phú 2. Công ty Điện tử Hà Nội 3. Công ty xây dựng nông nghiệp và phát triển nông thôn 4. Công ty ăn uống dịch vụ du lịch Sóc Sơn 5. Công ty dịch vụ truyền thanh truyền hình Hà Nội 6. Công ty quản lý bến xe Hà Nội 7. Công ty khai thác điểm đỗ xe Hà Nội 8. Công ty thương mại dịch vụ Tràng Thi 9. Công ty thương mại dịch vụ Thời Trang 10. Công ty sản xuất xuất nhập khẩu nông sản Hà Nội Số lượng doanh nghiệp hoàn thành cổ phần hóa trong năm 2007 không lớn, song đa phần là những doanh nghiệp có quy mô vốn lớn ( Vốn nhà nước bình quân một doanh nghiệp là: 74,85 tỷ đồng; vốn điều lệ dự kiến là: 78,87 tỷ đồng/doanh nghiệp). Giá trị cổ phần dự kiến bán ra bên ngoài ( tính theo mệnh giá) khoảng 165,2 tỷ đồng, chiếm 30% vốn điều lệ. Vốn nhà nước tiếp tục nắm giữ trong các doanh nghiệp sau cổ phần hóa là : 342,1 tỷ đồng, chiếm 62% vốn điều lệ. Năm 2008 Số doanh nghiệp dự kiến hoàn thành cổ phần hóa là 14 doanh nghiệp Hết quý I năm 2008 mới hoàn thành cổ phần hóa được 1 doanh nghiệp. Năm 2009 Số lượng DNNN thực hiện sắp xếp, đổi mới từ thời điểm bắt đầu triển khai đến 30/6/2009 là 489 doanh nghiệp. Trong đó có 169 doanh nghiệp được cổ phần hóa. Tổng giá trị vốn nhà nước của 169 doanh nghiệp đã cổ phần hóa là gần 1.200 tỷ đồng. Tổng vốn điều lệ là trên 2.100 tỷ đồng, trong đó nhà nước nắm giữ gần 930 tỷ đồng, tương ứng 44,08% vốn điều lệ. Hầu hết các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa đều duy trì được ổn định và phát triển tốt, các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách và thu nhập bình quân của người lao động đều tăng. Trong danh sách 37 doanh nghiệp trên có 4 công ty TNHH 1 thành viên được chuyển đổi tổ chức quản lý theo mô hình công ty mẹ - công ty con gồm: Công ty Chiếu sáng và Thiết bị đô thị, Công ty Môi trường đô thị, Công ty Thống Nhất, Công ty Cung ứng nhân lực và Thương mại quốc tế. 23 công ty, Tổng công ty khác được chuyển thành công ty TNHH 1 thành viên, trong đó có các công ty như: Cấp nước Hà Đông, Khai thác điểm đỗ xe Hà Nội, Quản lý và Phát triển nhà Hà Nội, Kinh doanh nước sạch số 2 Hà Nội và các công ty mẹ của Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, Tổng Công ty Thương mại Hà Nội, Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội, Tổng Công ty Vận tải Hà Nội,... Đến hết năm 2010 sẽ thực hiện cổ phần hóa 9 công ty gồm: Cảng Hà Tây, Dịch vụ truyền thanh truyền hình Hà Nội, Sản xuất - Xuất nhập khẩu nông sản Hà Nội, Thương mại và Đầu tư Hà Nội (TIC)... Riêng Công ty Kỹ thuật điện thông cũng đã được Thủ tướng cho phép giải thể trong năm 2010. Nhìn chung: “Trong giai đoạn 1992 – 2007 đã cổ phần hoá được 3.756 doanh nghiệp nhà nước, trong đó đa số là doanh nghiệp quy mô nhỏ. Trong năm 2007 đã cổ phần hoá được 116 doanh nghiệp nhà nước, đạt 21% so với kế hoạch. Trong năm 2008 đã cổ phần hoá được 73 doanh nghiệp nhà nước, đạt 28% so với kế hoạch. Trong giai đoạn 2008 – 2010 phải sắp xếp lại 1.535 doanh nghiệp nhà nước, trong đó 948 thuộc diện cổ phần hóa. Như vậy, nhiệm vụ cổ phần hoá hơn 800 doanh nghiệp nhà nước cho hai năm 2009 và 2010 là rất nặng nề. Đến nay, số vốn được cổ phần hoá chiếm chưa đầy 15% tổng số vốn trong các doanh nghiệp nhà nước”(Nguồn: Bộ Tài chính). 2.2. Đánh giá chung về quá trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam Cổ phần hóa DNNN là một chủ trương lớn của Đảng. Mấy năm trước diễn biến khá chậm chạp. Đến Hội nghị lần thứ 9 Hội nghị Trung ương khóa IX Đảng ta đã chủ trương đẩy nhanh tiến độ, và đẩy mạnh hơn nữa công việc đó. Thực tiễn cổ phần hóa đang bắt đầu diễn ra sôi động, qua trình diễn ra không đơn giản vừa có những thuận lợi vừa có những khó khăn phức tạp, tuy nhiên sau gần 20 năm thực hiện chủ trương đổi mới doanh nghiệp thì cổ phần hóa DNNN đã có được những thành công và những hạn chế nhất định. 2.2.1. Những thành tựu mà cổ phần hóa DNNN đem lại trong những năm qua 2.2.1.1 Những thành tựu mang tính định lượng Chủ trương cổ phần hóa DNNN đã được thực hiện ở nước ta 18 năm qua. Trong 10 tháng của năm 2003 thì trong số 766 DNNN thực hiện việc chuyển đổi thì có 425 doanh nghiệp cổ phần hóa (nguồn từ ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp ). Từ thực tiễn có thể thấy cổ phần hóa là hình thức chuyển đổi sở hữu chiếm ưu thế trong quá trình đổi mới sắp xếp lại DNNN. Từ năm 1992 đến tháng 6 năm 1998 cả nước đã cổ phần hóa được 30 doanh nghiệp. trong đó có 5 doanh nghiệp được cổ phần hóa theo cơ chế, chính sách thí điểm qui định tại quyết định 202/CT của Hội đồng bộ trưởng, 25 doanh nghiệp được cổ phần hóa theo tinh thần Nghị định 28/CP của Chính phủ. Các doanh nghiệp được cổ phần hóa trong thời gian này nhìn chung đều có những tiến bộ về năng suất, chất lượng và hiệu quả. cổ phần hóa đã thu hút được một nguồn vốn khá lớn trong xã hội, tạo được động lực tốt cho doanh nghiệp phát triển, phát huy tích cực tính chủ động sáng tạo của người lao động. Từ đó góp phần làm tăng ngân sách Chính phủ, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động đồng thời khắc phục bớt được những tiêu cực trong các doanh nghiệp. Từ 2/6/1998 đến 31/12/1999 đã có thêm 340 DNNN và bộ phận DNNN được chuyển thành công ty cổ phần. Riền trong năm 1999 đã có 250 doanh nghiệp được cổ phần. Nhìn chung sau khi Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ra đời, cổ phần hóa DNNN đã đạt được những tiến bộ đáng kể. Nghị định số 44/1998/NĐ-CP đã qui định các chính sách khuyến khích đối với các doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa một cách rõ ràng và cụ thể hơn; Có sự quan tâm hơn đến người lao động nghèo. Chính đây là nguyên nhân khiến chủ trương cổ phần hóa trở nên hấp dẫn hơn đối với doanh nghiệp cũng như người lao động. Từ tháng 1/2000 đến cuối tháng 11/2002 cả nước đã cổ phần hóa được 523 doanh nghiệp, đưa tổng số doanh nghiệp được cổ phần hóa lên 907 doanh nghiệp. Năm 2002 đã có 427 doanh nghiệp sắp xếp lại trong đó 164 doanh nghiệp được cổ phần hóa. Năm 2003 có 766 doanh nghiệp được sắp xếp lại bằng 48% so với kế hoạch, trong đó có 425 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp được cổ phần hóa. Như vậy càng về sau thì tốc độ cổ phần hóa càng được đẩy mạnh và càng về sau thì quy mô các DNNN được cổ phần hóa hoặc chuyển đổi dưới hình thức khác càng lớn. Trước kia cả nước có khoảng 12000 DNNN phần lớn các DNNN có quy mô vốn rất nhỏ và chiếm lĩnh hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Gần 18 năm qua, chúng ta đã sắp xếp điều chỉnh còn lại khoảng 5000 doanh nghiệp, tuy hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng với vị trí tiềm năng của nó nhưng các DNNN đã có những đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc dân: 63,8%GDP, 63% ngân sách, 72% kim ngạch xuất khẩu, trong khi 120.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ đóng góp 20%GDP, 15% nguồn thu n

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam- lí luận và thực tiễn khi nghiên cứu vấn đề này.doc
Tài liệu liên quan