Đề tài Công nghiệp Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Quá trình phân công lao động ở nước ta chưa thực sự phát huy tác dụng, việc chuyên môn hóa bước đầu được thực hiện nhưng chưa cao, các mối liên hệ giữa các ngành đã được hình thành nhưng chưa chặt chẽ. Việc đưa khoa học kỹ thuật vào nước ta còn ồ ạt, thiếu chọn lọc. Quá trình chuyển giao công nghệ không chọn được công nghệ phù hợp nhập vào trong nước những công nghệ quá lạc hậu hoặc quá hiện đại mà chúng ta không sử dụng được do yếu về trình độ. Có những công nghệ nhập về lại phải mời chuyên gia về gây tốn kém và không sử dụng hết công suất của máy.

Đối với những nước chậm phát triển như nước ta, tài nguyên thiên nhiên là nhân tố quan trọng trong việc phát triển công nghiệp. Với tiềm năng nguyên liệu hiện có chúng ta có điều kiện hình thành các ngành công nghiệp đặc biệt là các ngành công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến và thu hút được lực lượng lớn lao động. Tuy nhiên việc khai thác tài nguyên của nước ta chưa hợp lý, làm cạn kiệt những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý và không chú trọng cải tạo khôi phục những nguồn tài nguyên hữu hạn.

 

doc38 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 30/08/2013 | Lượt xem: 1185 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Công nghiệp Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
óa truyền thống và giáo dục hướng nghiệp cho người lao động. Trước hết chính phủ chú trọng giáo dục luật pháp và truyền thống dân tộc. Đặc biệt quan tâm đến giáo dục hướng nghiệp từ phổ thông đến đại học, thúc đẩy áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao trình độ cho người lao động. Cho phép phát triển rộng rãi mạng lưới giáo dục đầu tư nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Chú trọng công nghiệp hướng về xuất khẩu đồng thời quan tâm đến phát triển công nghiệp vừa và nhỏ. Quá trình này đòi hỏi phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp có kỹ thuật cao, có giá trị gia tăng lớn. Các ngành công nghiệp nhỏ chiếm tỷ trọng nhỏ bé tuy vậy thị trường phát triển lại đòi hỏi quan tâm đến doanh nghiệp nhỏ vì nhiều lý do và để khuyến khích phát triển công nghiệp nhỏ các nước đã: Từng bước xóa bỏ quan niệm chưa đúng về vai trò của công nghiệp nhỏ. Tăng cường vai trò của chính phủ để hỗ trợ việc cung cấp thông tin thị trường cho doanh nghiệp nhỏ. Hỗ trợ đào tạo cho công nghiệp nhỏ Tổ chức Marketing quốc tế - áp dụng các chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhỏ Tăng cường sự điều tiết của Nhà nước vào CNH. Sự can thiệp của Nhà nước vào CNH ở ASEAN là vừa phải theo chuẩn mực quốc tế. Mục tiêu của các nước này là: Điều tiết công nghiệp nhằm tăng tỷ lệ công nghiệp trong GDP, thay đổi cơ cấu kinh tế và có lợi cho công nghiệp. Phát triển công nghiệp cân đối nhằm xây dựng cơ cấu thị trường có sự cạnh tranh, cân đối giữa các địa phương. Giải quyết cơ bản về xã hội, cải tiến cuộc sống của người nghèo. Giải quyết cân bằng dân tộc Gia tăng thu nhập ngoại hối... Để thực hiện các nước này đã sử dụng biện pháp: Về tổ chức, thành lập ban đầu từ BOI kết hợp quản lý kinh tế. Về chính sách kinh tế: có định hướng chiến lược cho phát triển công nghiệp, can thiệp vào ngoại thương, bảo hộ kinh tế và can thiệp vào thị trường lao động thông qua định mức lương tối thiểu, can thiệp vào thị trường vốn thông qua ngân hàng Nhà nước quy định giá cả, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. II/ Công nghiệp và quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam trong thời gian qua: 1. Thực trạng quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam: Căn cứ vào sự đổi mới thực sự, toàn diện về lý luận và thực tiễn của quá trình CNH ở nước ta thời gian qua có thể chia làm hai giai đoạn cơ bản: từ năm 1960-1986 và từ 1986 đến nay. Giai đoạn 1960-1986: Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là thực hiện một chiến lược nhất quán được xác định từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960). Đảng đã khẳng định “nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ ở miền Bắc nước ta là CNH XHCN mà mấu chốt là phát triển nền công nghiệp nặng”1 Đảng Lao động Việt Nam . Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần III, 1960. 2 Đảng Lao động Việt Nam . Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần III, 1960. Để thực hiện chiến lược này, chúng ta đã tập trung mọi nguồn lực trong nước và nước ngoài, chúng ta đã tập trung mọi nguồn lực trong nước và nước ngoài, tranh thủ sự viện trợ và giúp đỡ của các nước bạn XHCN... chú trọng một khoảng thời gian chúng ta đã hình thành được một nền kinh tế đa ngành, có các ngành quan trọng như cơ khí, luyện kim, điện năng, khai thác than... Trong thời kỳ 1961-1965 tốc độ tăng bình quân giá trị tổng sản lượng công nghiệp là 13,4%, của nông nghiệp là 4,1%. Do vậy, tỷ trọng của công nghiệp trong TNQD tăng 16% Năm 1957 lên 18,2%, năm 1960 và 22,2% năm 1965. Còn tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 44,3% năm 1957 xuống 42,3% (1960) và 41,7% (1965). Đến năm 1964 miền Bắc nước ta đã căn bản giải quyết được vấn đề lương thực và đáp ứng được 90% nhu cầu hàng tiêu dùng và đồng thời bắt đầu tạo nguồn tích lũy trong nước. Trong những năm có chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ với chi phí phát triển kinh tế vẫn tăng lên 5,7 lần so với năm 1955-1957, gấp 2,4 lần so với 1960 và 1,8 lần so với 1964. Nhà nước đã giành đến 80% tổng số vốn đầu tư cho công nghiệp nặng trong năm 1960-1965. Vốn đầu tư cho công nghiệp nhóm A tăng 11,2 lần, nhóm B: 6,9 lần trong thời kỳ 1960-1965. Giá trị xuất khẩu thấp nền kinh tế luôn ở tình trạng nhập siêu. Những cơ sở đầu tiên của các ngành công nghiệp nặng quan trọng đã được xây dựng và phát triển như điện, than, cơ khí, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng. Tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp thuộc nhóm A nhanh hơn tốc độ phát triển chung của toàn ngành công nghiệp. Năm 1975 so với 1955 giá trị sản lượng ngành điện lực gấp 22,3 lần, của ngành cơ khí gấp 59,8 lần và ngành hóa chất gấp 79,1 lần, trong lúc toàn ngành công nghiệp chỉ tăng 16,2 lần. Một số vùng lãnh thổ đã hình thành trung tâm công nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Bắc, Việt Trì, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Vinh... Dần dần hình thành nên những vùng công nghiệp chuyên môn hóa, nhờ chủ trương kết hợp phát triển công nghiệp trung ương với công nghiệp địa phương, nên hầu hết các tỉnh, thành phố, thị trấn đều phát triển công nghiệp địa phương. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân kỹ thuật tăng khá nhanh, là vốn quý quan trọng cho quá trình CNH ở thời kỳ này và thời kỳ sau. Năm 1975 so với năm 1955 số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học tăng nhanh hơn 129 lần, cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp tăng gấp hơn 84 lần, công nhân kỹ thuật năm 1975 tăng gấp 6 lần năm 1960. Chúng ta đã cố gắng lớn trong việc tăng cường trang bị kỹ thuật và ứng dụng khoa học trong các ngành kinh tế, hầu hết đều được trang bị máy móc thiết bị của nước ngoài. Đi liền quá trình phát triển công nghiệp hàng loạt thành phố thị trấn đã xuất hiện quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh. Thời gian này Đảng có chủ trương ưu tiên phát triển hệ thống y tế, văn hóa, giáo dục. Sau năm 1975 thống nhất đất nước do vậy đòi hỏi phải có chiến lược CNH thích hợp hơn. Nhưng thực tế, đường lối CNH do Đảng đề ra vẫn giữ nguyên. Do chủ trương nôn nóng chủ quan duy ý chí và với sai lầm trong công tác chỉ đạo, trong cơ chế và chính sách nền thời kỳ đầu 1974-1980 nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng, cơ cấu kinh tế ngày càng trở nên bất hợp lý và mất cân đối nghiêm trọng. Nông nghiệp kém phát triển không đáp ứng được nhu cầu trong nước, công nghiệp nặng không phát huy được tác dụng. Thời kỳ 1976-1980 tổng sản phẩm xã hội chỉ tăng 1,4%; thu nhập quốc dân chỉ tăng 0,6%. Trong khi đó dân số tăng 2,24%/năm, sản xuất công nghiệp bình quân chỉ tăng 0,6%, trong đó công nghiệp quốc doanh giảm 2,6%; sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 1,9%. Quá trình CNH diễn ra có nhiều khó khăn và chậm chạp vì thiếu những tiền đề kinh tế cơ bản. Hiệu quả kinh tế rất thấp so với nguồn vốn và công sức bỏ ra. Nguồn lực bị lãng phí nhiều, cơ cấu kinh tế mất cân đối chưa có tích lũy nội bộ. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng CNH ở giai đoạn này là: Nhận thức về CNH còn đơn giản, phiến diện và đồng nhất cách đi với thực chất của CNH, coi phát triển công nghiệp nặng chính là CNH, dập khuôn máy móc lý luận và mô hình CNH ở Liên Xô. Chiến tranh kéo dài, không có điều kiện tập trung trí lực đầu tư cho nghiên cứu lý luận và chỉ đạo thực hiện chiến lược CNH. Chưa xác định đúng vị trí, vai trò của công nghiệp trong suốt một thời gian dài, do đó chưa tạo được những tiền đề cơ bản cho CNH. - Nóng vội trong cải tạo XHCN, hạn chế sự phát triển của các thành phần kinh tế tư nhân và cá thể vì vậy không huy động được các nguồn lực trong nước tham gia vào CNH đất nước. Trước tình hình đó Đại hội Đảng V (1981) đã xác định: “Nội dung chính của CNH XHCN trong những năm 1981-1985 và những năm 80 là tập trung sự phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn XHCN, ra sức đẩy mạnh hàng tiêu dùng, tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng”1 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V Giai đoạn từ năm 1986 đến nay: Đây là thời kỳ đổi mới toàn diện và đồng bộ cả về nhận thức quan điểm và tổ chức chỉ đạo thực hiện Đại hội lần thứ VI đã xác định rõ quan điểm và chủ trương, phương hướng đổimới kinh tế - xã hội ở nước ta trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH, Đại hội khẳng định: “Tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo”2 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V 3 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V Từ quan điểm và chủ trương mới trên Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể hóa bằng cơ chế và bằng các chính sách biện pháp thực hiện cụ thể là: chính sách kinh tế nhiều thành phần, chính sách kinh tế đối ngoại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chính sách tài chính tiền tệ kiềm chế lạm phát, chuyển cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nhờ vậy nền kinh tế đã vượt qua trạng thái suy giảm lạm phát đáng kể, điều chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, tiếp tục công nghiệp hóa. Lạm phát từ mức 3 con số năm 1986: 5887,2%; năm 1987:417,6% ; năm 1988: 410,9%; giảm xuống còn hai con số năm 1989: 30%; năm 1990: 52,8%. Tốc độ tăng bình quân hàng năm của tổng sản phẩm xã hội là 4,8%. Thu nhập quốc dân: 3,9%; giá trị tổng sản lượng công nghiệp 5,2%, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp 3,5%; giá trị xuất khẩu 28%; giá trị nhập khẩu 8%. Một số mặt hàng xuất khẩu cơ bản được hình thành như dầu mỏ, than đá, lâm hải sản, gạo. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong tất cả các lĩnh vực tăng nhanh. Thu nhập quốc dân năm 1991 tăng 2,4% so với năm 1990, năm 1992 tăng 5,4% so với 1991. Sản lượng công nghiệp tăng 5,3% (1991) và 15,5% (1992). Cơ cấu công nghiệp bước đầu có sự chuyển dịch theo hướng thích hợp và có hiệu quả hơn. Năm 1986 cơ cấu tổng sản lượng công nghiệp, ngành điện lực chiếm 3,66%; cơ khí 9,65%; hóa chất phân bón cao su 8,26% thì năm 1990 tỷ trọng tương ứng các ngành đó là 5,1% - 15,9% - 9,4%. Giữa các ngành công nghiệp nhóm A và công nghiệp nhóm B đã bước đầu có sự điều chỉnh trong sự phát triển theo hướng chú trọng thích đáng hơn đến các ngành công nghiệp nhóm B để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước và để sử dụng tốt hơn các nguồn lực với kỹ thuật truyền thống lao động. Công nghiệp ngoài quốc doanh đã được phát triển chiếm 31,4% (1976) và 43% (1989) còn công nghiệp quốc doanh năm 1989 chiếm 57%. Để tiếp tục những quan điểm, chủ trương chính sách đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ VII đã chỉ rõ: “Để thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh theo con đường XHCN điều quan trọng nhất là phải cải tiến căn bản tình trạng kinh tế - xã hội kém phát triển, phát triển lực lượng sản xuất CNH theo hướng hiện đại gắn liền với việc phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của XHCN không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân”1 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH 2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Quá trình đổi mới đã tạo nên được những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, thành tựu CNH trong những năm 1991,1992,1993 cao hơn, có chất lượng hơn, đi vào thực tế hơn so với nhiều năm trước đây - lạm phát được kiềm chế, tốc độ tăng giá trị xuất khẩu lớn hơn tổng sản phẩm xã hội. Cán cân thanh toán chuyển từ thiếu hụt 9% GDP giữa năm 1980 sang thặng dư 2%GDP. Tổng sản phẩm trong nước 1991 tăng 6,1% so với năm 1990. Trong đó giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng 10,4%; nông nghiệp tăng 1,9%; xuất khẩu tăng 13,2%. Sự phát triển công nghiệp trong những năm đổi mới không chỉ thể hiện ở tốc độ tăng trưởng mà quan trọng hơn là ở sự chú trọng đổi mới công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, và ở sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất gắn với thị trường trong và ngoài nước, phát triển nhanh các ngành có lợi thế so sánh, các ngành có tác động đến sự phát triển chung của nền KTQD và đa dạng hóa các loại hình tổ chức kinh doanh. Ngành dầu khí có sự phát triển vượt bậc, ngành than có khối lượng xuất khẩu vượt 1,6 triệu tấn, ngành sản xuất điện phát triển mạnh, ngành dệt và may mặc cũng phát triển phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm đã có bước tiến mới góp phần đưa sản lượng gạo xuất khẩu đạt 2 triệu tấn. Qua nghiên cứu hai giai đoạn phát triển của CNH ta thấy trong suốt 30 năm qu quá trình CNH XHCN ở nước ta đã giành được thành tựu và thắng lợi. Kiên trì thực hiện CNH không chỉ trong những năm hòa bình mà ngay cả trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại. Bước đầu tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật trong các ngành KTQD nhất là trong công nghiệp (điện, dầu mỡ, xi măng, luyện kim...) thúc đẩy quá trình thay đổi từ giản đơn, lạc hậu trì trệ kém hiệu quả, dần dần tiến tới một cơ cấu có nhiều ngành, nhiều thành phàn trong những năm đàu của quá trình đổi mới CNH-HĐH đã mang sắc thái mới, đã có sự điều chỉnh mục tiêu, nội dung và bước đầu đồng bộ hóa, cụ thể bằng cơ chế và chính sách. Do vậy CNH-HĐH đã được tiến hành phù hợp hơn với hoàn cảnh quốc tế và điều kiện khả năng trong nước, các tiềm năng nguồn lực của đất nước bước đầu được khơi dậy, kinh tế phát triển thực chất hơn. Tạo ra nguồn lao động và đội ngũ lao động dồi dào với trình độ dân trí được nâng cao, tỷ trọng lao động có trình độ nghề nghiệp kỹ thuật ngày càng cao. Tuy nhiên, quá trình CNH-HĐH ở nước ta hơn 30 năm qua còn những tồn tại: Quá trình CNH diễn ra quá chậm Phân công lao động xã hội phát triển chậm chạp, cơ cấu kinh tế thiếu năng động, hiệu quả thấp, chứa đựng nhiều bất hợp lý, nhiều mặt mất cân đối nghiêm trọng... chưa kết hợp tốt cơ cấu ngành với cơ cấu thành phần và cơ cấu lãnh thổ trong một trạng thái đồng bộ, năng động có hiệu quả để thực hiện tốt các mục tiêu chung của phát triển kinh tế xã hội. Trình độ trang bị kỹ thuật công nghệ thấp kém, mất cân đối, đổi mới chậm. Sự nghiệp CNH-HĐH phải đương đầu với nhiều khó khăn mâu thuẫn do sai lầm trước đây để lại và do thử thách mới đưa tới. Đó là tỷ lệ thất nghiệp còn cao, đời sống thấp, tỷ lệ tích lũy và đầu tư thấp, sản xuất kinh doanh gặp khó khăn về vốn và thị trường sản xuất. 2. Thực trạng công nghiệp Việt Nam trong những năm qua: Trong những năm gần đây, nhất là trong quá trình đổi mới, khu vực công nghiệp phải đương đầu với những khó khăn khá gay gắt. Do những khuyết điểm, sai lầm trong quá khứ về chính sách cơ cấu và chính sách đầu tư, đến nay công nghiệp nước ta có trên 4584 xí nghiệp nhưng trình độ công nghệ chỉ đạt từ 60%-70% mức trung bình của thế giới. Thậm chí có loại chỉ bằng 15-20%. Nhiều loại thiết bị sử dụng đã làm cho mức hao phí nguyên liệu gấp 2 đến 3 lần mức trung bình của thế giới. Nét nổi bật là thiết bị cũ, thiếu phụ tùng thay thế, thiếu bảo dưỡng và sửa chữa nên thiết bị ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Theo con số kiểm kê ngày 1-1-1990 TSCĐ của công nghiệp (chủ yếu là công nghiệp quốc doanh) lên tới gần 29.000tỷ động, giá trị còn lại hơn 16.500 tỷ đồng. Trong đó máy móc thiết bị được sử dụng trực tiếp để làm ra sản phẩm chỉ chiếm 26%, còn nhà cửa vật kiến trúc chiếm tỷ trọng đến 36%. Do chưa ý thức đầy đủ về giá thành và chất lượng, nhất là chưa có quan điểm rõ ràng trang việc nâng cao đặc tính kỹ thuật của sản phẩm và quy trình sản xuất nên giá thành sản phẩm sản xuất thường cao, chất lượng kém, hình dáng xấu, vì thế sản phẩm khó tiêu thụ. Trong thời gian qua chỉ có 70% sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Nhiều xí nghiệp đòi hỏi được trang bị và HĐH nhưng lại gặp phải khó khăn về nguồn vốn đầu tư. Phần lớn các xí nghiệp chỉ mới hoạt động 50%-60% công suất máy. Trình độ sử dụng tài sản thấp phổ biến là làm việc 1 ca (36%). Hệ số sinh lợi của vốn cố định (lợi nhuận trên 1000đồng VCĐ) trong năm 1989: bình quân toàn quốc đạt 70 đồng trong đó công nghiệp chỉ đạt 30 đồng. Sự phát triển quá lớn về lượng của các xí nghiệp công nghiệp địa phương càng làm gay gắt thêm tình trạng mất cân đối của nền kinh tế và gây lãng phí lớn trong sử dụng vốn đầu tư, tài nguyên, nguyên vật liệu. Hiện nay bình quân mỗi tỉnh, thành phố có 60%-70% xí nghiệp công nghiệp, quá khả năng cho phép của một địa phương. Tuy nhiên cùng với chính sách chuyển dịch cơ cấu, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế theo đường lối Đại hội lần thứ VII của Đảng đề ra, nhiều cơ sở kinh tế, nhất là các xí nghiệp quốc doanh trung ương đang thích ứng dần với môi trường kinh doanh mới, bước đầu duy trì, ổn định và phát triển sản xuất. Nhiều loại sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng nhanh và chất lượng nâng lên rõ rệt, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường như điện, than, dầu thô, máy biến thế, xi măng, động cơ điezen... Điểm nổi bật là hầu hết các xí nghiệp dần dần gắn sản xuất với thị trường, chú ý đầu tư chiều sâu, đổi mới mặt hàng, quan tâm đến chi phí giá thành. Một số xí nghiệp bắt đầu làm ăn có lãi thực sự và tăng nhanh khoản nộp cho ngân sách Nhà nước (như liên hiệp xí nghiệp xi măng năm 1990 nộp ngân sách gấp 19 lần năm 1991). Nhiều điển hình tốt xuất hiện như liên hiệp xí nghiệp dệt Long An; Liên hiệp xí nghiệp giày dép xuất khẩu Hải Phòng, xí nghiệp điện cơ thống nhất Hà Nội; xí nghiệp bột giặt Ticơ thành phố Hồ Chí Minh... Đây là những chuyển biến bước đầu trong công nghiệp và có thể xem xét đánh giá thực trạng cơ cấu công nghiệp Việt Nam trong thời gian qua: Thời gian năm 1955-1975: Đây là thời kỳ phát triển sôi động nhất của nền công nghiệp nước ta. Sau hòa bình lập lại ở miền Bắc chúng ta đã nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh. Cho đến nay hầu hết nhà máy lớn còn tồn tại và phát huy tác dụng đều được xây dựng trong thời kỳ này như: cơ khí Hà Nội, cơ khí Trần Hưng Đạo, cơ khí Trung tâm (Cẩm Phả), Khu Gang thép Thái Nguyên, phân đạm Hà Bắc, phân lân Văn Điển, Apatít Lào Cai... Hàng loạt nhà máy điện được xây dựng mới: điện Vinh, Lao Cai, Uông Bí, Ninh Bình, Quảng Ninh,... được khôi phục cải tạo và phát triển. Trong công nghiệp nhẹ, chúng ta đã xây dựng một số cơ sở tương đối lớn như khôi phục và mở rộng nhà máy liên hiệp dệt Nam Định, xây dựng nhà máy dệt kim 8/3. Do những nỗ lực trên giá trị tổng sản lượng công nghiệp đã tăng lên với nhiệp điều nhanh. Tóm lại, đó là thời kỳ công nghiệp phát triển công nghiệp theo chiều rộng với số vốn đầu tư khá lớn và cũng nhanh chóng phát huy tác dụng, mức huy động công suất máy móc, thiết bị khá cao. Với cơ cấu công nghiệp như vậy góp phần vào việc phát triển các ngành kinh tế khác, trước hết là nông nghiệp có tác động trực tiếp vào nâng cao mức sống toàn dân. Với chủ trương xây dựng kinh tế địa phương làm hậu cần tại chỗ nên công nghiệp địa phương thời kỳ phát triển mạnh nhất là ngành cơ khí địa phương. Tính đến năm 1975 miền Bắc có 1337 xí nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh với 35,5 vạn lao động, khu vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp 309 hợp tác xã cùng hàng vạn tổ sản xuất với 60,4 vạn lao động. Giá trị tổng sản lượng đạt 4 tỷ đồng chiếm 24% trong tổng thu nhập quốc dân (miền Bắc bằng 53,6% tổng sản lượng công nông nghiệp). Sản phẩm bình quân đầu người: Điện: 63KWh vải: 4,5m Than: 214kg Giấy: 0,24kg Xi măng: 15,3kg Đường: 0,54kg Thời kỳ năm 1976 đến năm 1985: Sau khi thống nhất đất nước, công nghiệp miền Bắc với sự bổ sung của miền Nam đã có thay đổi nhất định. Đây là thời kỳ cả nước có nhiều biến động. Vừa qua khỏi cuộc chiến tranh kéo dài mấy thập kỷ lại bước vào cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và phía Tây Nam của Tổ quốc. Nền kinh tế bị bao vây, Trung Quốc cắt viện trợ, các nước phương Tây tẩy chay chúng ta thì chỉ còn lại Liên Xô (cũ). Trong thời kỳ này nhiều dự án đầu tư với số vốn lớn đã không thực hiện được. Nhiều máy móc thiết bị toàn bộ nhập về không lắp ráp được hoặc xây dựng xong phải đóng cửa vì thiếu nguyên vật liệu v.v... Thành quả lớn nhất của thời kỳ này là đã cố gắng duy trì năng lực sản xuất của công nghiệp nhẹ và thực phẩm đồng thời xây dựng một số cơ sở như giấy Bãi Bằng, điện Phả Lại, điện Hòa Bình, Trị An, xi măng Bỉm Sơn và Hoàng Thạch... Kết quả đã làm cho tài sản cố định tăng 2,5 lần số lượng xí nghiệp quốc doanh tăng 1,4 lần. Số lượng công nhân tăng 1,3 lần, khối lượng sản phẩm tăng gấp 2 lần. Nguyên nhân chủ yếu là cơ sở sản xuất nhiều, lực lượng lao động đông đặc, song mất cân đối (thiếu điện, nguyên liệu, phụ tùng thay thế v.v...) nên không huy động được công suất vốn có, chậm đưa cơ sở mới đầu tư vào hoạt động. Sản phẩm thiếu thị trường tiêu thụ. Thời kỳ năm 1986 cho đến nay: Nét nổi bật là hầu hết các cơ sở công nghiệp cấp huyện và một số cấp tỉnh, thành quản lý đều đứng bên bờ vực của phá sản. Đối với ngành cơ khí chế tạo máy móc thiết bị già cỗi, lạc hậu mặt hàng không thích hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Các cơ sở sửa chữa cơ khí hầu hết đều không có việc làm, rơi vào tình trạng bế tắc. Một số ít cơ sở công nghiệp tìm đường ra bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, chuyển mạnh sang sản xuất theo đơn đặt hàng của các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, xây dựng, giao thông vận tải. Ngành luyện kim cả kim loại màu và kim loại đen cũng gặp không ít khó khăn sản xuất cầm chừng. Ngành dệt và may còn duy trì và phát triển được do nhập nguyên liệu nước ngoài. Nhiều cơ sở đã mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị như dệt khổ rộng, nâng cấp sản phẩm, tạo nguyên liệu cho ngành may có điều kiện sản xuất những loại quần áo đáp ứng nhu cầu thị hiếu nước ngoài. Ngành năng lượng nhờ sự đầu tư tập trung của Nhà nước đã phát triển khá mạnh do đưa vào sử dụng những cơ sở năng lượng quy mô lớn. Bên cạnh đó là những thành tựu về khai thác dầu lửa ở thềm lục địa phía Nam góp một tỷ trọng đáng kể trong nguồn thu của ngân sách Nhà nước. Qua nghiên cứu quá trình biến đổi cơ cấu ngành công nghiệp ta thấy được ta thấy được mới chỉ là những buổi ban đầu của công nghiệp, khó khăn vẫn còn lớn, nhiều xí nghiệp đang đứng trước quy mô phá sản thua lỗ kéo dài, không có khả năng hoàn trả vốn. 3. Nguyên nhân chủ yếu gây nên hạn chế về phát triển công nghiệp Việt Nam: Thông qua việc nghiên cứu thực trạng nền công nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, ta đã thấy được những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế của nền công nghiệp nước ta. Những thành tựu do công nghiệp đạt được thật vô cùng to lớn góp phần nâng cao TNQD, giúp cho các ngành khác phát triển, bản thân ngành công nghiệp đạt được những thành tựu to lớn, đã từng bước xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật, dần dần hình thành các khu công nghiệp hóa. Giá trị tổng sản lượng của công nghiệp trong nền KTQD ngày càng tăng. Bên cạnh đó những hạn chế về sự phát triển công nghiệp không nhỏ, trình độ kỹ thuật chưa cao, chưa phát huy hết vai trò chủ đạo của mình trong nên KTQD. Công nghiệp còn vấp phải nhiều khó khăn mà một trong những nguyên nhân làm cho công nghiệp không phát huy hết vai trò của mình là : Trong quá trình phát triển công nghiệp nước ta đã gặp phải một khó khăn lớn là phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ . Cuộc chiến tranh đã gây nên nhiều thiệt hại cho nền kinh tế nước ta , trong đó công nghiệp chịu một phần không nhỏ. Nhiều cơ sở công nghiệp nhà máy bị phá hủy gây nên tình trạng nền công nghiệp khó khăn để phát triển . Mỹ muốn nước ta quay trở lại thời kỳ đồ đá do vậy phá hoại nền kinh tế một cách nặng nề . Quá trình quản lý kinh tế của Đảng đã mắc nhiều sai lầm , chủ quan duy ý trí , nóng vội trong chủ trương CNH ,HĐH đất nước bằng con đường đẩy mạnh phát triển công nghiệp nặng. Do vậy làm cho công nghiệp khỏi phát huy được vì không thể một chốc một lát phát triển ngay công nghiệp nặng mà phải qua phát triển công nghiệp và công nghiệp nhẹ . Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài đã gây không ít khó khăn cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Trong phát triển công nghiệp lực lương sản xuất là một yếu tố quan trọng góp phần không nhỏ, lực lượng sản xuất phát triển cho phù hợp với đặc điểm và tính chất của quan hệ xã hội. Do vậy lực lượng sản xuất không phát triển thì không thể phát triển được công nghiệp . Chúng ta chưa xác định rõ ràng hướng đi của CNH cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước. Hướng CNH phụ thuộc nhiều vào quá trình CNH ở Liên Xô (cũ) do vậy quá trình CNH ở nước ta diễn ra chậm. Quá trình CNH có quan hệ đến quá trình phát triển công nghiệp làm cho quá trình phát triển công nghiệp cũng chậm lại. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội có ảnh hưởng rất nhiều đến việc hình thành và phát triển công nghiệp nước ta. Từ chiến lược đề ra cơ cấu công nghiệp hợp lý nhằm sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng của đất nước về lao động, tài nguyên, tiền vốn, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội với hiệu quả cao. Quá trình phân công lao động ở nước ta chưa thực sự phát huy tác dụng, việc chuyên môn hóa bước đầu được thực hiện nhưng chưa cao, các mối liên hệ giữa các ngành đã được hình thành nhưng chưa chặt chẽ. Việc đưa khoa học kỹ thuật vào nước ta còn ồ ạt, thiếu chọn lọc. Quá trình chuyển giao công nghệ không chọn được công nghệ phù hợp nhập vào trong nước những công nghệ quá lạc hậu hoặc quá hiện đại mà chúng ta không sử dụng được do yếu về trình độ. Có những công nghệ nhập về lại phải mời chuyên gia về gây tốn kém và không sử dụng hết công suất của máy. Đối với những nước chậm phát triển như nước ta, tài nguyên thiên nhiên là nhân tố quan trọng trong việc phát triển công nghiệp. Với tiềm năng nguyên liệu hiện có chúng ta có điều kiện hình thành các ngành công nghiệp đặc biệt là các ngành công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến và thu hút được lực lượng lớn lao động. T

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCông nghiệp Việt Nam trong sự nghiệp CNH-HĐH.DOC
Tài liệu liên quan