Đề tài Độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư phát triển: bản chất, nguyên nhân, giải pháp

Mục lục 1

Lời nói đầu 2

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ ĐỘ TRỄ THỜI GIAN TRONG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 3

1.1. Các vấn đề cơ bản của đầu tư phát triển 3

1.1.1. Đầu tư 3

1.1.2. Đầu tư phát triển 3

1.1.3. Vốn đầu tư 4

1.1.4. Nguồn vốn đầu tư 4

1.2. Nguồn hỡnh thành vốn đầu tư phát triển 4

1.2.1. Nguồn vốn đầu tư trong nước 4

2.1.2. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài 6

1.3. Đặc điểm của đầu tư phát triển 8

1.3.1. Đũi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài 8

1.3.2. Thời gian dài với nhiều biến động 8

1.3.3. Cú giỏ trị sử dụng lõu dài 9

1.3.4. Cố định 9

1.3.5. Liên quan đến nhiều ngành 9

1.4. Vai trũ của đầu tư phát triển 9

1.5. Độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư phát triển 10

1.5.1. Khái niệm và bản chất 11

1.5.2. Nguyên nhân của Độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư 12

Chương II: Thực trạng về độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư phát triển của Việt Nam 14

2.1. Các dự án đầu tư có nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước 15

2.1.1. Thực trạng độ trễ thời gian của các dự án đầu tư có nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước 15

2.1.2. Nguyên nhân độ trễ thời gian của các dự án có vốn từ Ngân sách nhà nước 18

2.2. Các dự án đầu tư có nguồn vốn không từ ngân sách nhà nước 23

Chương 3: Giải pháp 26

Kết luận 29

 

 

doc30 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 27/01/2016 | Lượt xem: 1310 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư phát triển: bản chất, nguyên nhân, giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ều lĩnh vực. Diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau. Vì vậy khi tiến hành hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải qui định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư. 1.4. Vai trò của đầu tư phát triển Nhìn một cách tổng quát: đầu tư phát triển trước hết là hoạt động đầu tư nên cũng có những vai trò chung của hoạt động đầu tư như: tác động đến tổng cung và tổng cầu, tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước. Ngoài ra với tính chất đặc thù của mình, đầu tư phát triển là điều kiện trước tiên và cần thiết cho phát triển nền kinh tế, có những ảnh hưởng vai trò riêng đối với nền kinh tế và với từng cơ sở sản xuất. Đó là : - Đầu tư phát triển đảm bảo tính tương ứng giữa cơ sở vật chất kỹ thuật và phương thức sản xuất. - Đầu tư phát triển là điều kiện phát triển các ngành kinh tế và thay đổi tỷ lệ cân đối giữa chúng . Khi đầu tư phát triển được tăng cường, cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành tăng sẽ làm tăng sức sản xuất vật chất và dịch vụ của ngành. Phát triển và hình thành những ngành mới để phục vụ nền kinh tế quốc dân. Như vậy đầu tư phát triển đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển của ngành kinh tế, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nước, tăng tích luỹ đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế - xã hội. Do những đặc thù của hoạt động đầu tư mà trong hoạt động đầu tư đã tồn tại khái niệm "độ trễ thời gian". Đây là một trong những mấu chốt để giải quyết vấn đề hiệu quả hoạt động đầu tư, một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng của hoạt động đầu tư. Vốn đầu tư phát triển được đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau, độ trễ về thời gian phát huy tác dụng để tăng trưởng kinh tế cũng rất khác nhau. Chẳng hạn, nếu đầu tư cho sản xuất thì có những lĩnh vực phát huy tác dụng ngay trong năm như vốn mua sắm phương tiện vận tải, vốn đầu tư xây dựng khách sạn, nhà hàng, ... Song nếu đầu tư cho việc trồng cây lâu năm như cao su, trồng quế, ... thì phải từ 7 đến 10 năm sau mới có kết quả. Còn nếu như đầu tư cho giáo dục - đào tạo, đầu tư cho nghiên cứu khoa học thì thời gian của độ trễ còn dài hơn so với đầu tư cho sản xuất. 1.5. Độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư phát triển Dự án đầu tư bao gồm nội dung từ việc đề xuất việc bỏ vốn để tạo mới, sử dụng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định. Dự án đầu tư là cơ sở cho việc quyết định của các chủ đầu tư có đầu tư hay không, việc cho phép thực hiện hay không thực hiện của các cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án, cho vay hay không cho vay của các tổ chức tín dụng, quyết định tài trợ hay không của các nhà tài trợDo vậy, việc khảo sát điều tra để lập nên một dự án đầu tư là hết sức quan trọng bởi vì nó liên quan đến các khâu sau này của việc thực hiện dự án. Một dự án đầu tư được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư. Chu kỳ của hoạt động đầu tư là các giai đoạn mà một dự án phải trải qua từ chuẩn bị đầu tư, giai đoạn đầu tư (thực hiện đầu tư) và giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư. Như vậy, hoạt động đầu tư bao gồm nhiều giai đoạn thực hiện và do đặc điểm của nó mà phát sinh độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư. Khái niệm và bản chất Vậy thực chất độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư là gì? Đó là sự không trùng hợp giữa thời gian đầu tư với thời gian vận hành các kết quả đầu tư. Từ khái niệm trên ta đã hiểu được bản chất của độ trễ thời gian của hoạt động đầu tư, đó là đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương lai. Thời gian đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Tuỳ theo tính chất, nội dung, qui mô của dự án mà thời gian đầu tư có thể dài hay ngắn. Thông thường, một dự án bắt đầu với công việc là chuẩn bị mặt bằng (công việc này liên quan đến việc thẩm định, điều tra mặt bằng môi trường xung quanh, điều tra tình hình thị trường, nghiên cứu triển vọng tương lai của dự án). Bên cạnh đó, chủ đầu tư còn phải tìm kiếm nguồn lực cho việc thực hiện dự án. Nguồn lực đó bao gồm: tiền vốn, nhân lực, vật lựcTrong đó, việc huy động tiền vốn là một vấn đề rất quan trọng. Có những dự án qui mô lớn cần nguồn tiền lớn, việc huy động vốn mất rất nhiều thời gian, có thể huy động trong nội bộ công ty, huy động thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn ngân hàngMặt khác, có những dự án, chủ đầu tư phải bỏ thời gian, tiền bạcđào tạo được đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân có đủ tay nghề, trình độ để thực hiện dự án (ví dụ như dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất). Ngoài ra, khi thực hiện dự án, chủ đầu tư phải tìm nguồn nguyên vật liệu cung cấp đầu vào với giá cả phải chăng, đảm bảo chất lượng và cung ứng đảm bảo đủ số lượng khi thực hiện dự ánĐây là những yếu tố có vai trò hết sức quan trọng đối với việc thực hiện dự án đầu tư, nó liên quan đến tiến độ hoàn thành của dự án. Do vậy mới có những dự án có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm. Thời gian vận hành các kết quả đầu tư được tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải. Đầu tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy ngay trong năm đó mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm kế tiếp. Như vậy, thời gian đầu tư và vận hành kết quả đầu tư là sự nối tiếp nhau đã tạo nên độ trễ thời gian. Có nhiều công trình phát huy tác dụng lâu dài, thậm chí tồn tại vĩnh viễn. Trong suốt quá trình vận hành, các thành quả đầu tư chịu tác động hai mặt, cả tích cực lẫn tiêu cực của các yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế - xã hộiĐặc điểm này của đầu tư cần được quán triệt khi đánh giá kết quả, chi phí và hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển. 1.5.2. Nguyên nhân của Độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư Từ thực chất của độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư, ta có thể hiểu được những nguyên nhân gây ra độ trễ trong hoạt động đầu tư: - Một nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm của hoạt động đầu tư đó là đầu tư cần một nguồn lực lớn về vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư. Trong mỗi giai đoạn, quá trình của hoạt động đầu tư đều phải có sự tham gia của các nguồn lực. Có thể nói, việc huy động các nguồn lực này chiếm một thời gian khá nhiều của thời gian đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn, bởi lẽ, thông thường, không một nhà đầu tư nào có đủ vốn tự có cho một dự án lớn, mà phải huy động từ nhiều nguồn: ngân hàng, phát hành cổ phiếu... Mặt khác, việc đào tạo, tuyển dụng nguồn nhân lực phù hợp và cần thiết cũng là một vấn đề nan giải và mất khá nhiều thời gian. - Một nguyên nhân nữa, do quá trình thực hiện đầu tư và thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn từ các nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã hội, do vậy, việc nghiên cứu, qui hoạch, thiết kế công trình, dự án tại một địa điểm để khởi công công trình là một trong những vấn đề đầu tiên phải làm và tiêu tốn khá nhiều thời gian của các chủ đầu tư, nếu không có sự nghiên cứu này, sai lầm xảy ra sẽ gây tổn thất rất lớn cho chủ đầu tư. - Việc khởi công một công trình, một dự án chịu ảnh hưởng rất nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố khách quan (như thời tiết, giá cả nguyên vật liệu) gây ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ thực hiện dự án. - Tương tự, việc vận hành kết quả công trình cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, cả khách quan lẫn chủ quan cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc vận hành kết quả đầu tư, nó có thể thúc đẩy hoặc kiềm chế việc vận hành kết quả đầu tư. - Một dự án được khởi công thực hiện, không phải ngày một ngày hai là xong, đôi khi phải mất nhiều công đoạn mới hoàn thành công trình, do vậy, việc vận hành dự án hay đưa kết quả của quá trình đầu tư đi vào hoạt động, phát huy tác dụng là bước kế tiếp của hoạt động đầu tư. - Hoạt động đầu tư là do con người thực hiện, do vậy, thời gian đầu tư và thời gian vận hành kết quả đầu tư do con người quyết định. Có những dự án đầu tư bị chậm trễ là do ý thức chủ quan của con người, đó có thể là do tình trạng tham ô, lãng phí, là trình độ, năng lực thẩm định dự án, giám sát, tuyển chọn nhà thầu hay nhà thầu kém năng lựcChính những nguyên nhân này góp phần không nhỏ làm kéo dài thời gian đầu tư, làm độ trễ thời gian hoạt động đầu tư càng sâu hơn. Như vậy, độ trễ thời gian là một tất yếu của hoạt động đầu tư, vấn đề ở đây chính là hiểu bản chất của khái niệm này, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra giải pháp làm giảm đi ở mức tối ưu độ trễ nhằm tăng hiệu quả đầu tư, tăng hiệu quả nguồn lực đã bỏ ra, phát huy một cách nhanh nhất thành quả của hoạt động đầu tư. Chương II: Thực trạng về độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư phát triển của Việt Nam Để làm rõ vấn đề độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư của Việt Nam trong thời gian qua, chúng ta hãy đi vào những nét nổi bật của những dự án đầu tư được tài trợ từ các nguồn khác nhau, qua đó thấy được thực trạng của vấn đề độ trễ thời gian của các loại dự án có nguồn vốn khác nhau, thấy được nguyên nhân, cũng như tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đầu tư. Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển, cơ cấu và hiệu quả đầu tư CHỈ TIÊU NĂM 2003 2004 2005 2006 2007 1.Vốn đầu tư (tỷ VND) (Chia theo các TPKT) 239.246 290.927 343.135 398.900 461.900 -Khu vực nhà nước 126.558 139.831 164.635 185.100 200.000 -Khu vực ngoài quốc doanh 74.388 109.754 130.398 150.500 187.800 -Khu vực có vốn ĐTNN 38.300 41.342 51.102 63.300 74.100 2.Cơ cấu (%) 100% 100% 100% 100% 100% -Khu vực nhà nước 52,9 48,1 47,1 46,4 43,3 -Khu vực ngoài quốc doanh 31,1 37,7 38,0 37,7 40,7 -Khu vực có vốn ĐTNN 16,0 14,2 14,9 15,9 16,0 3.GDP (nghìn tỷ VND) 613,4 715,3 839,2 973,8 1.143,4 Tăng so với năm trước (nghìn tỷ VND) 77,6 101,9 123,9 134,6 169,6 4.Hiệu quả đầu tư Tỷ lệ VĐT so với GDP (%) 39,0 40,7 40,9 41,0 40,4 Để tăng 1 đồng GDP phải đầu tư (đồng) 3,73 3,5 3,8 4,3 4,47 (Nguồn: Vietnam Economic Times 2007 – 2008) Theo báo cáo nghiên cứu đánh giá giữa kỳ tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006 - 2010, Bộ Kế hoạch - Đầu tư đã nhận định: Tỷ trọng vốn đầu tư nhà nước vẫn là nguồn lực lớn nhất. Đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng tăng dần từ 23,3% lên 29,3% năm 2007. Đáng chú ý là thời gian gần đây các tập đoàn kinh tế và nhiều DNNN khác có xu thế mở rộng đầu tư kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực. Trong khi đó, công tác giám sát, nhất là về tài chính cũng như năng lực quản trị rủi ro của các tập đoàn đó không theo kịp. 2.1. Các dự án đầu tư có nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước 2.1.1. Thực trạng độ trễ thời gian của các dự án đầu tư có nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước Những vấn đề liên quan đến độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư hiện nay ở Việt Nam có thể nêu ra sau đây liên quan đến vấn đề quản lý dự án, chậm trễ thực hiện dự án, gây ra tình trạng thời gian đầu tư kéo dài, đặc biệt là các dự án có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước. Trong khi đó khu vực này đang chiếm gần nửa tổng đầu tư toàn xã hội (41 - 48%). Bảng 2: Tỷ trọng vốn đầu tư thực hiện qua các năm Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tỷ trọng vốn Nhà nước so với vốn đầu tư toàn xã hội (%) 59.8 57.3 52.9 48.1 47.1 45.7 39.9 Tỷ lệ vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GDP (%) 35.4 37.4 39.0 40.7 40.9 41.5 45.9 Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt 2007 Theo báo cáo, phần lớn các dự án sử dụng vốn nhà nước đều được thực hiện rất chậm, thủ tục đầu tư xây dựng rườm rà, hiệu quả đầu tư của nhiều dự án thấp, còn thất thoát, lãng phí so với đầu tư bằng nguồn vốn khác. Tình trạng bố trí vốn dàn trải còn phổ biến. Các công trình sử dụng vốn nhà nước bị chậm tiến độ ngày càng tăng. Năm 2005, có 2.280 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,2% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong năm. Một năm sau, con số này tăng lên thành 3.595 dự án, chiếm 13,1% và sang đến năm 2007 là 3979 dự án (13,9%). Tình trạng thiếu điện, cắt điện kéo dài ròng rã nhiều năm nhưng hàng chục dự án nhà máy điện của EVN chậm tiến độ đã ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế và đời sống người dân. Năm 2008, hàng loạt các dự án do kém hiệu quả đã bị đình hoãn. Theo số liệu thống kê sơ bộ, các địa phương đã tiến hành thực hiện việc rà soát, sắp xếp lại các công trình, dự án theo Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 17-4-2008 của Thủ tướng Chính phủ. Đã có 548 công trình, dự án đình hoãn và giãn tiến độ với tổng số vốn 1.763,8 tỷ đồng. Một số địa phương có số công trình, dự án cắt giảm cao như: Hà Nội 49 dự án, với số vốn là 440,3 tỷ đồng; TP Hồ Chí Minh 59 dự án, số vốn 381,9 tỷ đồng; Hà Tây 23 dự án, số vốn 65 tỷ đồng; Tiền Giang 22 dự án, số vốn 66,3 tỷ đồng; Vĩnh Long 21 dự án, số vốn 68,8 tỷ đồng... Có thể kể ra một số trường hợp như Dự án cầu Thanh Trì và tuyến phía Nam vành đai 3 Hà Nội với số vốn đầu tư lên tới 7.660 tỷ đồng chậm trễ nhiều tháng, mỗi ngày phải trả 1,5 tỷ đồng tiền vay. Cầu xây xong nhưng đường dẫn lên cầu vẫn chưa xong nên tốn thêm cả chục tỷ đồng nữa để xây dựng đường tạm, song chất lượng vẫn kém và gây ách tắc. Một trong những dự án có thể nói là lớn về qui mô cũng như tầm quan trọng của nó là dự án về ngành điện. Ví dụ cụ thể là các dự án thuộc Tập đoàn điện lực Việt Nam đã có đến vài chục dự án chậm tiến độ, chậm từ 1-2 năm do vậy người dân nơm nớp lo thiếu điện 20-30%, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân. Hiện có tới 6 công trình dự kiến phải lùi thời điểm phát điện thực tế sang năm 2010 như: Thuỷ điện Bản Vẽ, thuỷ điện Buôn Tua Sah, nhiệt điện Hải Phòng 2Lý do chủ yếu là do công tác chuẩn bị chưa tốt, di dân tái định cư khó khăn, một số nhà thầu không đủ năng lực để triển khai. Một điển hình nữa của sự chậm trễ trong việc thực hiện dự án đó là dự án Lọc dầu Dung Quất, chậm trễ tới 7 năm (theo kế hoạch phải hoàn thành vào năm 2002 nhưng đến đầu tháng 3 năm 2009, công trình mới phát huy hiệu quả của nó). Điều này đã gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội cho địa phương cũng như kinh tế trong nước. Bởi lẽ nguồn vốn rót vào công trình này rất lớn .Một ví dụ nữa là dự án xây dựng cầu Nhật Tân của Hà Nội. Theo kế hoạch đầu tiên của UBND TP Hà Nội, dự án cầu Nhật Tân sẽ phải khởi công voà cuối năm 2006. Nhưng thời điểm đó dự án không thể khởi công vì dự án do phí Bộ giao thông vận tải làm chủ đầu tư. Dự án này được dự kiến khởi công vào cuối năm 2007 nhưng thực tế vẫn chưa thực hiện như dự kiến. Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đây là dự án trọng điểm của Hà nội sẽ phải khởi công vào ngày 2/9/2009 nhưng Bộ Giao thông vận tải và các cơ quan liên quan hứa quyết tâm khởi công vào ngày 15/1/2009. Vào ngày 14/1/2009, UBND huyện Đông Anh đã chính thức bàn giao mặt bằng phục vụ thi công dự án cầu Nhật Tân và truyền tránh hai bên đầu cầu phía Đông Anh và mặt bằng trên cũng được xác định là địa điểm để khởi công dự án nhưng Bộ Giao thông vận tải vẫn chưa khởi công xây dựng công trình. Cuối năm 2007, Bộ giao thông vận tải đã đăng ký giải ngân tới hơn 27.500 tỷ đồng. Theo đó, hàng loạt dự án giao thông lớn được khởi công trong năm 2007 nhưng điều này lại tạo nên nguy cơ khủng hoảng nhân lực và năng lượng tại các dự án này. Theo kế hoạch này, hàng loạt các dự án đường cao tốc, các tuyến đường trục chính của các trung tâm kinh tế lớn trên cả nước sẽ được khởi công trong năm 2007 theo chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2020. Những dự án này được kỳ vọng sẽ làm thay đổi diện mạo hạ tầng giao thông và đóng góp vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Tuy nhiên, tình trạng thi công chậm trễ tại các công trình hạ tầng giao thông lớn đã là một thực tế kéo dài trong nhiều năm qua, gây không ít khó khăn cho sinh hoạt hàng ngày của người dân và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư tại Việt Nam, vì đây là cơ sở hạ tầng hết sức quan trọng. Đó là một số ví dụ điển hình của các dự án đầu tư có từ Ngân sách nhà nước. Có thể nói việc chậm trễ thực hiện các dự án có vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước là một vấn đề nổi cộm hiện nay của vấn đề quản lý vốn ngân sách nhà nước, liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế xã hội hiện nay của Việt Nam. Phát triển hạ tầng là một trong những giải pháp hàng đầu để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, góp phần thu hút đầu tư nhưng chính tiến độ chậm chạp tại các công trình lớn hiện nay đã tạo lực cản đối với nền kinh tế, nhất là công trình giao thông. Sự chậm trễ trong việc khởi công thực hiện dự án đầu tư gây nên ách tắc trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ảnh hưởng tiêu cực đến việc phát triển kinh tế xã hội, ảnh hưởng đến đời sống dân sinh, nhất là những dự án về xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình an sinh xã hội. 2.1.2. Nguyên nhân độ trễ thời gian của các dự án có vốn từ Ngân sách nhà nước Phần lớn các dự án có vốn từ Ngân sách nhà nước có độ trễ thời gian sâu như vậy nguyên nhân là do đâu? Có thể nói đây là một vấn đề mà nguyên nhân của nó bắt nguồn từ rất nhiều phía. 2.1.2.1. Chất lượng Qui hoạch còn nhiều bất cập, chưa gắn kết chặt chẽ qui hoạch phát triển ngành với vùng, địa phương. Qui hoạch chưa sát thực tế, còn chồng chéo, thiếu tầm nhìn dài hạn, chưa chú trọng thỏa đáng yếu tố môi trường xã hội nên việc triển khai thực hiện và khai thác hiệu quả thấp - Trong ngành giao thông vận tải đó là việc bố trí nhiều sân bay, bến cảng gần nhau mà chưa tính hết sự gắn kết trong việc khai thác hiệu quả tổng hợp, kết cấu hạ tầng hiện có chưa phù hợp với khả năng phát triển kinh tế và nguồn vốn đầu tư của thời điểm đầu tư dẫn đến nhiều đoạn đường, cảng biển, cảng sông, cảng sân bay khai thác hiệu quả thấp. Qui hoạch phát triển ngành giao thông đến năm 2010 cần đến 300.000 tỷ đồng thiếu tính khả thi, không phù hợp với nhu cầu khai thác và huy động vốn. Vì vậy 5 năm qua mới huy động khoảng 60.000 tỷ đồng (# 20%). + Trong công nghiệp qui hoạch ngành chưa thống nhất qui hoạch vùng, địa phương. Một số dự án không nằm trong qui hoạch vẫn được các điạ phương phê duyệt, triển khai. - Một số địa phương quyết định đầu tư dự án sản xuất thép có công suất thấp không theo qui hoạch, vùng Bắc Giang qui hoạch nhà máy bột giấy 200 ngàn tấn/năm, ván nhân tạo 300 ngàn tấn/năm trong khi thời gian qua trước đó 3 năm đã có qui hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vùng cung cấp gỗ mỏ 255 ngàn m3/năm. Dự án nhà máy bột giấy Kon Tum công suất 130 ngàn tấn/năm (giai đoạn I), 260 ngàn tấn/năm (giai đoạn II) được phê duyệt trước khi phê duyệt vùng nguyên liệu giấy nay phải ngừng triển khai theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. - Qui hoạch phát triển các khu, cụm công nghiệp ở các địa phương còn tràn lan, chưa cân đối, chưa có sự phối hợp tốt với các Bộ, ngành trong việc xây dựng qui hoạch tổng thể, giữa khu công nghiệp với khu ngoài hàng rào khu công nghiệp về giao thông, nhà ở công nhân, tập trung quá gần khu đô thị,... ở nhiều địa phương nhiều dự án chưa quan tâm đến việc xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường. + Trong nông nghiệp nhiều trường hợp qui hoạch đầu tư nhà máy chế biến lương thực, thực phẩm, rau quả chưa gắn kết hoặc không phù hợp với vùng nguyên liệu và thị trường, điển hình là các nhà máy đường xây dựng xong không đủ nguyên liệu bị thua lỗ. hoặc phải di chuyển đi nơi khác. Nhiều dự án đầu tư nhà máy chế biến rau quả, hải sản công suất khai thác rất thấp hoạt động không có hiệu quả. + Qui hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng cơ sở ở các địa phương thiếu đồng bộ, chưa có sự phối hợp giữa các ngành giao thông, bưu chính viễn thông, điện lực, cấp thoát nước... làm cho hạ tầng giao thông thường xuyên bị đào bới, hư hại gây lãng phí lớn. Hệ thống bệnh viện Trung ương tại các thành phố lớn quá tải, các địa phương đều đầu tư xây dựng đài phát thanh truyền hình nhưng thời lượng sử dụng và chương trình nội dung rất hạn chế. + Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ qui hoạch phát triển và đầu tư chưa được chú trọng thỏa đáng, qui hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch triển khai chậm, vốn đầu tư còn thấp, còn vướng mắc với qui hoạch khác vì vậy đã hạn chế khai thác lợi thế và chương trình quốc gia về du lịch... 2.1.2.2. Đầu tư dàn trải, tiến độ thi công dự án chậm trễ, kéo dài - Đầu tư dàn trải thể hiện ngay trong kế hoạch hàng năm. Năm 2001 Có 6942 Dự án Năm 2002 - 7605 - Năm 2003 - 10596 - Năm 2004 - 12.355 - Năm 2005 - 13.000 - Năm 2006 - 15.678 - Năm 2007 - 18.150 - Năm 2008 - 21.810 - ( Nguồn: Website: Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội) Số vốn bố trí cho các dự án nhỏ, không đủ và không khớp giữa kế hoạch đầu tư và kế hoạch vốn. Sự dàn trải còn thể hiện ở việc bố trí kế hoạch vốn đầu tư cho cả các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư. Chỉ tính riêng các dự án do Trung ương quản lý: Năm 2001 Có 375 Dự án thiếu thủ tục đầu tư Năm 2002 - 598 - Năm 2003 - 365 - Năm 2004 - 377 - Năm 2005 - 380 - Năm 2006 - - Năm 2007 - - Năm 2008 - - ( Nguån: Website: Së kÕ ho¹ch ®Çu t­ Hµ Néi) Số dự án đầu tư tăng nhanh qua các năm không tương xứng với tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư. Nhiều dự án chưa đủ thủ tục cũng được ghi vốn hoặc ngược lại không có nguồn vốn cũng cho triển khai, nhiều dự án công trình kéo dài do thiếu vốn thậm chí không theo kế hoạch. - Tiến độ thi công chậm trễ, kéo dài, dự án treo mà nguyên nhân là do: + Công tác quản lý hợp đồng sau khi đấu thầu của các chủ dự án đang tồn tại nhiều bất cập, yếu kém. Tính chưa minh bạch trong công tác đấu thầu dẫn đến nhiều dự án có sự móc ngoặc giữa nhà thầu với chủ đầu tư hay với cán bộ đấu thầu để giành dự án. Mặt khác, năng lực thẩm định nhà thầu của chủ đầu tư Việt Nam còn kém dẫn đến giao thầu cho nhà thầu kém năng lực, gây ra những dự án chậm tiến độ. Trong các dự án chậm tiến độ, nổi cộm các dự án xây dựng các công trình về điện có những nguyên nhân nữa là sự không thống nhất về định mức, tổng dự toán, không ký hợp đồng nhưng vẫn đưa thiết bị, công nhân đến rồi làm lễ khởi công "hoành tráng" không đúng với thiết kế được duyệt diễn ra ở khá nhiều công trình điện thời gian qua mới là mấu chốt của bài toán chậm tiến độ. + Mặt bằng giải phóng chậm trễ chủ yếu do chính sách đền bù giải phóng còn nhiều bất cập, việc chậm trễ xây dựng các khu tái định cư, giá đền bù không thoả đáng gây lãng phí thất thoát, khiếu kiện kéo dài. + Bố trí dự án, dàn trải nguồn vốn bố trí không đáp ứng dẫn đến tình trạng mất cân đối giữa nhu cầu và khả năng, mặc dù đã có những cố gắng chấn chỉnh nhưng tình hình nợ đọng còn rất lớn, khối lượng đầu tư dở dang cao, công trình chậm đưa vào sản xuất sử dụng gây lãng phí lớn. Mặt khác năng lực tài chính của nhà thầu còn hạn chế do đó nhiều doanh nghiệp đang ở trong tình trạng hết sức khó khăn, một số doanh nghiệp bị phá sản. Tình trạng này gây ra hiện tượng thất thoát vốn của nhà nước, gây mất niềm tin trong dân chúng, làm chậm tiến độ thực hiện dự án trọng điểm có ý nghĩa kinh tế xã hội gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, do trong quá trình giám sát thi công, thực hiện dự án của chúng ta còn chưa chặt chẽ, bị buông lỏng, do còn cả nể, dễ dãi trong khi thực hiện giám sát nên có thể nói nguyên nhân này góp phần đáng kể vào việc làm chậm tiến độ thực hiện dự án. Năm 2002 Có 67,5% Công trình đầu tư dở dang Năm 2003 - 63,1% - Năm 2004 - 70,6% - Năm 2005 - 61% - Năm 2006 - - Năm 2007 - - Năm 2008 - - ( Nguồn: Website: Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội) Ngoài ra, một nguyên nhân nữa là do sự biến động giá cả. Chúng ta vừa đối mặt với tình trạng lạm phát, vừa đối mặt với nguy cơ suy thoái kinh tế do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Chính điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện dự án của các chủ đầu tư. Sự trượt giá này tác động mạnh đến chi phí của các dự án, chi phí vay ngân hàng, chi phí nguyên nhiên vật liệuđầu vào của dự án. Ví dụ như trong dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất, trong quá trình triển khai dự án, tổng mức đầu tư tăng lên là do biến động giá cả. Do giá tăng làm vốn tăng theo, việc cung cấp nguồn vốn lớn như vậy sẽ vấp phải khó khăn do việc huy động vốn cho dự án. Từ năm 2003, giá nguyên vật liệu biến động không ngừng, giá dầu, giá thép đều tăng đột biến, toàn bộ mặt bằng giá bị đẩy lên, làm vốn đầu tư cũng tăng lên, chiếm 58% Từ đó, nó ảnh hưởng hiệu quả của dự án và khiến các chủ đầu tư sẽ chần chừ, hoãn lại việc thực hiện các dự án, làm giảm tiến độ thực hiện các dự án đầu tư. Đó là một số nguyên nhân dẫn đến việc làm chậm trễ tiến độ thực hiện các dự án có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, làm tăng lên độ trễ thời gian trong hoạt động đầu tư do việc kéo dài thời gian đầu tư. Ngoài ra, những nguyên nhân này còn có thể dẫn đến chất lượng của kết quả đầu tư không được như thiết kế, do vậy, thời gian vận hành kết quả đầu tư ngắn, bởi vì, tuổi thọ của công trình đầu tư không cao. Thời gian đầu tư dài, thời gian vận hà

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc6142.doc
Tài liệu liên quan