Đề tài Doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập AFTA - Thực trạng và giải pháp

CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VỚI HỘI NHẬP AFTA 1

I. Khái niệm về các loại hình doanh nghiệp Việt Nam 5

1. Khái niệm chung về doanh nghiệp 1

2. Khái niệm về doanh nghiệp Nhà nước 8

3. Khái niệm về doanh nghiệp ngoài quốc doanh 10

4. Khái niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 11

II. Giới thiệu chung về hội nhập AFTA 13

1. Khu vực mậu dịch tự do 13

2. Giới thiệu chung về AFTA 16

3. Những đặc trưng chủ yếu của các nền kinh tế trong AFTA 20

III. Những tác động chủ yếu khi triển khai AFTA đối với các nước thành viên ASEAN 22

1. Tác động đến các nền kinh tế ASEAN 23

2. Tác động đến nền kinh tế Việt Nam 24

IV. Tình hình thực hiện CEPT của các nước ASEAN 26

1. Tình hình thực hiện CEPT của khu vực 26

2. Tình hình thực hiện CEPT của Việt Nam 29

 

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP AFTA 32

I. Những chuyển biến về kinh tế và thương mại Việt Nam trong giai đoạn thực hiện CEPT 32

II. Thực trạng phát triển của Doanh nghiệp Việt Nam 35

1. Thực trạng phát triển DNNN 38

1.1. Những thành tựu đã đạt được 38

1.2. Những mặt còn hạn chế 41

1.3. Một số nguyên nhân của những hạn chế 44

2. Thực trạng phát triển DNNQD 45

2.1. Những thành tựu đã đạt được 45

2.2. Những vấn đề còn hạn chế 49

2.3. Một số nguyên nhân của những hạn chế 51

3. Thực trạng phát triển doanh nghiệp FDI 53

3.1. Những thành tựu đã đạt được 53

3.2. Những mặt còn hạn chế 55

3.3. Một số nguyên nhân của những hạn chế 55

III. Tình hình chuẩn bị của các doanh nghiệp Việt Nam cho tiến trình hội nhập AFTA 57

IV. Đánh giá việc tham gia CEPT đối với các doanh nghiệp Việt Nam 60

1. Những cơ hội đối với DNVN tham gia AFTA 60

2. Những thách thức đối với DNVN tham gia AFTA 62

3. Một số nguyên nhân dẫn đến những khó khăn của DNVN 66

CHƯƠNG III. NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP AFTA 68

I. Triển vọng phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập AFTA 68

1. Triển vọng phát triển các doanh nghiệp Việt Nam dựa vào các yếu tố, nguồn lực trong nước 68

2. Triển vọng phát triển doanh nghiệp Việt Nam dưới tác động của AFTA 70

III. Những giải pháp nhằm phát triển các doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập AFTA 75

1. Một số quan điểm trong việc đề xuất giải pháp 75

1.1. Tiếp tục lộ trình thực hiện CEPT trên cơ sở xử lý nhanh các vấn đề của một nền kinh tế chuyển đổi nhằm tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi hơn nữa cho các doanh nghiệp Việt Nam 75

1.2. Trong khi thực hiện lộ trình giảm thuế theo CEPT, Chính phủ cần tạo điều kiện để phát triển những nguồn lực mang lại lợi thế so sánh của Việt Nam để giúp các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. 76

1.3. Trong tiến trình thực hiện CEPT cần phải có các chính sách khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam tích cực đổi mới công nghệ, thiết bị và khai thác có hiệu quả các yếu tố đầu vào nhập khẩu 76

1.4. Trong tiến trình thực hiện CEPT cần phải kết hợp đồng thời việc đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại với các nước và khu vực khác trên thế giới 77

2. Những giải pháp chủ yếu từ phía Nhà nước 78

2.1. Những giải pháp từ việc chỉ đạo, điều hành thực hiện các cam kết theo CEPT đồng thời với việc đẩy mạnh tự do hoá thương mại trên phạm vi rộng hơn 78

2.2. Những giải pháp nhằm xử lý nhanh những vấn đề của nền kinh tế chuyển đổi để tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng hơn, thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam 80

2.3. Những giải pháp nhằm định hướng, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế 84

2.4. Một số giải pháp cho từng loại hình doanh nghiệp 86

3. Các giải pháp từ phía doanh nghiệp 90

3.1. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 90

3.2. Tập trung xây dựng chiến lược doanh nghiệp để phát triển hữu hiệu nhất trong dài hạn 92

3.3. Đổi mới và hiện đại hoá công nghệ với chi phí thấp 93

3.4. Nâng cao chất lượng lao động và quản lý lao động trong doanh nghiệp 94

3.5. Một số giải pháp cho từng loại hình doanh nghiệp 96

KẾT LUẬN

 

doc107 trang | Chia sẻ: NguyễnHương | Ngày: 21/07/2017 | Lượt xem: 628 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập AFTA - Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ác doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng có sự thay đổi tích cực theo hướng tăng lên ở các lĩnh vực dịch vụ hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh chung của các DNNQD, như lĩnh vực hoạt động khoa học công nghệ, kinh doanh dịch vụ, bên cạnh đó, các doanh nghiệp mới trong các lĩnh vực thương mại- dịch vụ đã có xu hướng giảm đi trong những năm gần đây. Tuy nhiên, trong cơ cấu chung của các DNNQD thì các doanh nghiệp thương mại - dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đến là các doanh nghiệp công nghiệp chế biến và chỉ một số ít doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trong nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và khai thác khoáng sản.(Xem bảng 17) Mặc dù số DNNQD vẫn tập trung chủ yếu ở các khu vực đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, nhưng ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa như vùng núi phía Bắc cũng đã có khoảng 2000 doanh nghiệp mới được thành lập trong hai năm 2000 và 2001. Bảng 17: Cơ cấu các doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo lĩnh vực hoạt động Đơn vị: % STT Lĩnh vực hoạt động 1995 2001 1 Nông nghiệp 0,3 0,4 2 Thuỷ sản 0,1 1,2 3 Công nghiệp khai thác mỏ 1,3 1,6 4 Công nghiệp chế biến 36,2 22,0 5 Sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước 0,5 3,0 6 Xây dựng 9,9 14,0 7 Thg nghiệp, s/chữa xe động cơ và đồ dùng sinh hoạt 39,7 31,0 8 Khách sạn, nhà hàng 4,6 3,0 9 Vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc 3,7 3,0 10 Tài chính, tín dụng 0,9 0,1 11 Hoạt động khoa học công nghệ 0,1 0,7 12 Hoạt động kinh doanh tài sản, dịch vụ tư vấn 2,3 1,2 13 Giáo dục và đào tạo 0,0 0,2 14 Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 0,0 0,0 15 Hoạt động văn hoá thể thao 0,4 0,1 16 Hoạt động phục vụ các cá nhân, cộng đồng 0,3 0,0 17 Dịch vụ khác 0,2 18,5 Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư, Dự án MPI- UNIDO Cùng với xu hướng tăng trưởng vốn bình quân doanh nghiệp của các doanh nghiệp mới thành lập (xem biểu đồ 4) thì các DNNQD cũng đã tích cực đầu tư vốn bằng hiện vật, trong số vốn đầu tư xây dựng cơ bản của các DNNQD năm 2001 thì có 41,32% là vốn xây lắp và tới 53,98% là vốn thiết bị. Nguồn: Vụ doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Tình hình sản xuất kinh doanh của các DNNQD cũng có nhiều khả quan, năm 2001, trong số 32702 doanh nghiệp thì có tới 79,05% doanh nghiệp làm ăn có lãi, đó là con số đáng khích lệ nếu đem so sánh với tỷ lệ của các DNNN (78,56%) và của các DNFDI (42,84%). 2.2. Những vấn đề còn hạn chế Có thể thấy rằng, trong suốt thập kỷ 90, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã được phát triển trên khá nhiều phương diện. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã đạt được, tự bản thân nó cũng đã bộc lộ những hạn chế trước yêu cầu phát triển trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực. Những hạn chế đó là: Số lượng doanh nghiệp tăng khá nhanh nhưng quy mô bình quân của một doanh nghiệp còn quá nhỏ, với hơn 1 tỷ đồng, quá thấp so với nhu cầu cho hoạt động kinh doanh thực tế. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có số vốn chỉ bằng 12,57% so với tổng số vốn của cả ba loại hình doanh nghiệp cộng lại. Hơn thế, có đến 62,68% số doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng và 95,08% số doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng. Lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tuy có sự thay đổi tích cực, nhưng vẫn chủ yếu tập trung vào lĩnh vực buôn bán, sửa chữa. Chính điều đó đã và đang hạn chế khả năng tạo ra mức giá trị gia tăng cao hơn cũng như đóng góp chung của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh vào GDP. Theo số liệu, tỷ trọng tham gia xuất khẩu của các DNNQD đã tăng từ 12% năm 1997 lên 30% năm 2002, tỷ trọng tham gia nhập khẩu tương ứng là 5% lên 24%. Tuy nhiên, tỷ trọng đóng góp vào GDP lại giảm từ 50,48% năm 1997 xuống còn 46,25% năm 2001. Theo một cuộc khảo sát khu vực ngoài quốc doanh trong nước tại Việt Nam của WB và IFC năm 2002 (chưa có số liệu hoàn chỉnh), khu vực ngoài quốc doanh có xu hướng cạnh tranh chủ yếu về giá mà ít cạnh tranh về chất lượng và công nghệ. Các doanh nghiệp này ít đầu tư vào công nghệ, kỹ thuật caonên sức cạnh tranh không cao. Nguồn: Báo cáo của VCCI năm 2002 Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và đầu tư về tình hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới thành lập năm 2001 theo vùng, thì các doanh nghiệp thuộc địa bàn Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng chiếm tới 73,6%, còn các doanh nghiệp thuộc địa bàn Hà Nội và TP Hồ Chí Minh chiếm gần 60%. Có một sự phân bổ các doanh nghiệp đăng ký mới tập trung ở các tỉnh có mức độ thu nhập tương đối cao. Nói cách khác, khu vực DNNQD không có vai trò cao lắm ở những vùng đói nghèo. Hình trên mô tả mối quan hệ theo tỷ lệ nghịch giữa mức độ nghèo đói và số lượng doanh nghiệp mới hình thành. Sự phát triển không đồng đều này cũng gây hạn chế trong việc khai thác các tiềm năng phát triển của đất nước, nhất là khai thác lợi thế về nguồn lao động rẻ ở khu vực nông thôn. 2.3. Một số nguyên nhân của những hạn chế Những hạn chế trên đây của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau đây: Về cấp độ vĩ mô: - Mặc dù đã có nhiều chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước khẳng định vai trò của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhưng vẫn còn tồn tại tâm lý thành kiến và những cách hành xử thiếu công bằng đối với khu vực này ở cả các cơ quan Nhà nước lẫn trong xã hội. Tình trạng nhũng nhiễu, gây khó dễ cho doanh nghiệp ở địa phương vẫn còn rất phổ biến. Trong khi đó, ngay các chính sách của Nhà nước với khu vực này cũng còn nhiều yếu tố bất định, gây tâm lý không yên tâm cho các doanh nghiệp khi bỏ vốn làm ăn. - Vai trò hỗ trợ của Nhà nước với khu vực DNNQD còn hạn chế ở các mặt như: việc đăng ký ngành nghề kinh doanh, xác nhận vốn pháp định, hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề cho các DNNQD; hỗ trợ về đất đai, mặt bằng sản xuất; cung cấp thông tin kinh tế, tổ chức xúc tiến thương mại - Một số chính sách thuế áp dụng cho khu vực DNNQD cũng chưa hợp lý. Ví dụ: doanh nghiệp FDI xuất khẩu 100% sản phẩm, được áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp 10%. Trong khi đó, nhiều công ty tư nhân xuất khẩu 90 - 100% nhưng vẫn phải chịu thuế 32%. - Mặc dù rất cần vốn để phát triển, nhưng các DNNQD vẫn khó tiếp cận các nguồn tín dụng. Theo số liệu năm 2001, chỉ có 40% doanh nghiệp đã sử dụng nguồn vốn vay từ các ngân hàng. Đại bộ phận các doanh nghiệp (70%) huy động vốn từ bạn bè, người thân, một số trường hợp phải sử dụng nguồn vay nặng lãi bên ngoài. Hầu hết các doanh nghiệp có chung ý kiến cho rằng thủ tục cho vay của ngân hàng hiện nay là khó khăn, phức tạp và thường là không đáp ứng được nhu cầu vốn gấp rút của doanh nghiệp. Một trở ngại làm hạn chế việc vay vốn của các doanh nghiệp là yêu cầu thế chấp của ngân hàng quá khó khăn; việc định giá tài sản thế chấp quá thấp khiến lượng vốn vay được ít. - Những chính sách ưu đãi của Nhà nước ban hành, nhiều DNNQD không được hưởng, do trở ngại về thủ tục. Theo điều tra của VCCI, chỉ khoảng 10% số doanh nghiệp được hỏi là nhận được ưu đãi theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Trong số doanh nghiệp ít ỏi đó, hơn hai phần ba cho rằng xin ưu đãi quá tốn kém và 91% nói thủ tục xin ưu đãi phức tạp. Về cấp độ vi mô: - Các DNNQD đa phần thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn. Họ thường kinh doanh theo kiểu lấy ngắn nuôi dài, ít đi vào sản xuất vật chất, ít đầu tư cho công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm. Một phần là do thiếu vốn, phần nữa là chưa yên tâm khi bỏ vốn đầu tư. - Phương thức quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp này đa phần không theo bài bản khoa học, thường là do tự phát của chủ doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mặc dù có ưu điểm là tính năng động, nhạy bén cao nhưng trình độ của nguồn nhân lực còn hạn chế, từ những người quản lý đến nhân viên, dẫn đến hoạt động kinh doanh thường hay phạm luật, năng suất lao động thấp, sản phẩm không mang tính cạnh tranh cao. - Kiến thức và kỹ năng tài chính, đặc biệt là trong việc xây dựng các phương án sản xuất đầu tư khả thi của các DNNQD, còn rất hạn chế đã làm ảnh hưởng đến quyết định cho vay của ngân hàng. - Do không tự túc được nguồn nguyên nhiên vật liệu, nên các doanh nghiệp đặc biệt trong ngành công nghiệp thường phải chịu chi phí đầu vào cao, điều này lý giải cho việc các doanh nghiệp này sản xuất ra một lượng giá trị gia tăng không lớn. - Các DNNQD thường hay kinh doanh một cách đơn lẻ, thiếu sự liên kết, hỗ trợ cho nhau, thậm chí còn kìm hãm lẫn nhau, điều này sẽ chỉ có lợi cho các công ty nước ngoài. 3. Thực trạng phát triển doanh nghiệp FDI 3.1. Những thành tựu đã đạt được Với chủ trương mở cửa nền kinh tế từ năm 1988 đến nay, trong bức tranh tổng thể về các doanh nghiệp Việt Nam đã có thêm khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khu vực này tuy còn non trẻ song cũng đã khẳng định vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Trong giai đoạn 1988 - 1995, số lượng doanh nghiệp FDI tại Việt Nam là 692 doanh nghiệp, trong đó có 150 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 21,7%, 9 doanh nghiệp liên doanh với thành phần kinh tế tập thể chiếm 1,3%, 52 doanh nghiệp liên doanh với thành phần kinh tế tư nhân chiếm 8,5%, 32 doanh nghiệp liên doanh với thành phần kinh tế hỗn hợp chiếm 4,6% và 12 doanh nghiệp loại hình hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 1,7%. Trong giai đoạn 1996 - 2000, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực châu á, tốc độ gia tăng số lượng các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam có xu hướng chững lại. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến năm 1999, số lượng doanh nghiệp FDI là 927 doanh nghiệp , tăng thêm 235 doanh nghiệp so với năm 1995. Tuy nhiên, sau đó tình hình đã khả quan hơn, đến năm 2001 đã có thêm 602 doanh nghiệp so với năm 1999, nâng tổng số lên 1529 doanh nghiệp (trong đó có 858 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và 671 doanh nghiệp liên doanh)(xem thêm biểu đồ 6). Về qui mô, theo số liệu của Tổng cục thống kê, trong số các DNFDI chỉ có 24,59% có số vốn dưới 10 tỷ đồng, và chỉ 2,29% có vốn dưới 1 tỷ đồng. Các doanh nghiệp FDI tuy chỉ chiếm 3,84% tổng số các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng lại chiếm tới 25,8% tổng lượng vốn đầu tư tính đến năm 2001. Qui mô vốn đầu tư bình quân của 1 doanh nghiệp FDI là 157,52 tỷ đồng, gấp 1,5 lần so với DNNN, và gấp 43,57 lần so với DNNQD. Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nếu chỉ tính riêng giá trị tài sản cố định, bình quân 1 doanh nghiệp FDI đạt 103,2 tỷ đồng, gấp 3,1 lần DNNN và gấp 6,5 lần DNNQD. Nhìn chung, kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp FDI vượt xa các DNNN và các DNNQD. Về lĩnh vực hoạt động, các doanh nghiệp FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, chiếm tới 90% số doanh nghiệp, tiếp đến là lĩnh vực thương mại - dịch vụ, chiếm khoảng 7% số doanh nghiệp và lĩnh vực nông nghiệp chỉ có 3% số doanh nghiệp. Trong lĩnh vực công nghiệp, trong giai đoạn 1998 - 2002, tổng sản lượng sản xuất công nghiệp của khu vực này tăng bình quân 18,8%/năm ( khu vực DNNN tăng 10,18%/năm, khu vực DNNQD tăng 15,44%/năm). Những sản phẩm mới và có giá trị cao như: dầu khí, ô tô, xe máy, đồ gia dụng đắt tiền, thiết bị điện tử, viễn thông phần lớn do khu vực có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất và đang giữ vai trò quan trọng trong sản xuất hàng xuất khẩu. Nhìn chung, khu vực có vốn đâu tư nước ngoài có nhiều tiềm năng trong các ngành khai thác dầu khí và sản xuất hàng tiêu dùng chất lượng cao và làm hàng xuất khẩu. Do vậy khu vực này sẽ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong toàn bộ ngành công nghiệp. Tuy vậy, các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam không phải là không có những mặt hạn chế. 3.2. Những mặt còn hạn chế Tuy có qui mô vốn tương đối lớn, có trình độ công nghệ sản xuất và quản lý tiên tiến, nhưng theo số liệu năm 2001 thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không hiệu quả, số doanh nghiệp của khu vực này làm ăn thua lỗ lên đến 54,09%, rất cao so với tỷ lệ 17,9% của DNNN và 18,99% của DNNQD. Sản phẩm của các doanh nghiệp FDI nếu đem so sánh với sản phẩm cùng loại do các doanh nghiệp trong nước sản xuất thì có chất lượng cao hơn nhưng nếu đem so sánh với sản phẩm được sản xuất ở các nước trong khu vực thì lại không bằng. Hơn thế nữa, giá bán sản phẩm thường cao hơn. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, tuy công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp FDI là tương đối hiện đại so với trình độ của Việt Nam, nhưng công nghệ đó không phải là tiên tiến trên thế giới, thường lạc hậu từ 1 đến 3 thế hệ so với thế giới. Thậm chí, có những doanh nghiệp đưa cả những công nghệ lạc hậu vào Việt Nam, tất nhiên không với mục đích sản xuất mà coi đó như là một hình thức thải công nghệ cũ của họ. 3.3. Một số nguyên nhân của những hạn chế Những tồn tại trên của các doanh nghiệp FDI xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau: Về cấp độ vĩ mô: - Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á năm 1997 đã làm kiệt quệ các nước châu á là những nhà đầu tư chính vào Việt Nam trong hơn 10 năm qua, những bất ổn chính trị trên thế giới cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc đã làm cho lượng vốn FDI vào Việt Nam giảm sút đáng kể. - Tuy có lợi thế là một đất nước ổn định về chính trị, nhưng môi trường đầu tư ở Việt Nam còn chưa hoàn thiện và còn bị coi là có độ rủi ro cao, chính sách, luật pháp hay thay đổi và vận dụng tuỳ tiện, đặc biệt là các khâu sau cấp Giấy phép đâu tư. Chính sách về thuế xuất nhập khẩu không ổn định cũng là mối quan ngại cho các doanh nghiệp FDI. - Tại Việt Nam hiện nay không có nhiều các hình thức đầu tư trực tiếp cho các nhà đầu tư lựa chọn. Gần đây, loại hình 100% vốn nước ngoài được ưu chuộng hơn bởi tính phức tạp trong kinh doanh của hai loại hình còn lại là liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh. - Chi phí đầu tư tại Việt Nam được các nhà đầu tư đánh giá là cao bởi tiền điện, nước, viễn thông, vận tải ở Việt Nam vào loại cao nhất trong khu vực. Bên cạnh đó, Việt Nam còn thiếu nhiều ngành công nghiệp hỗ trợ, do vậy các doanh nghiệp FDI thường phải tự lo nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu nên có sản phẩm có giá thành cao. - Các nhà đầu tư thường nhằm vào thị trường gần 80 triệu dân của Việt Nam, nhưng thực chất quy mô thị trường của Việt Nam nhỏ vì sức mua thấp (cả về hàng hoá và dịch vụ như khách sạn, văn phòng cho thuê, ôtô, xe máy, xi măng, sắt xây dựng, nước giải khát, chất tẩy rửa). Nhiều lĩnh vực được quan tâm đầu tư vì có lợi nhuận nhưng hoặc đã bão hoà hoặc bị ràng buộc chặt về điều kiện xuất khẩu, tự do ngoại tệ nên dự án đã không còn tính khả thi và số lượng doanh nghiệp làm ăn có lãi rất thấp. Về cấp độ vi mô: - Thiết bị cho sản xuất của các doanh nghiệp FDI phần lớn đều nhập khẩu từ những nhà sản xuất chính trên thế giới. Các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam thường đi vào sản xuất sau các doanh nghiệp cùng loại ở các nước ASEAN (điển hình nhất trong các ngành sản xuất xi măng, kính xây dựng, gốm sứ vệ sinh) nên có tỷ lệ khấu hao tài sản cố định cao (phù hợp với nghĩa vụ trả nợ gốc để mua tài sản cố định đó), trong khi doanh nghiệp lại sắp hết thời gian thu hồi vốn, đã đẩy giá thành sản phẩm lên cao. - Nhiều sản phẩm như xe máy, điện gia dụng, điện tử được lắp ráp tại Việt Nam do tỷ lệ nội địa hoá thấp nên thuế nhập khẩu chiếm tỷ trọng đáng kể trong giá thành cũng làm giá sản phẩm tăng cao. - Các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam không đón đầu về mặt công nghệ để có thể đẩy mạnh cạnh tranh, bởi khi quyết định đầu tư tại Việt Nam, chủ yếu họ định nội tiêu sản phẩm (đến nay, kính xây dựng cũng như xe ô tô, xe máy lắp ráp ở Việt Nam chưa xuất khẩu được), do vậy, sau khi cân nhắc giá đầu ra mà thị trường Việt Nam có thể chấp nhận được thì họ không quyết định đưa công nghệ cao vào Việt Nam nữa. Như vậy, sau khi phân tích thực trạng phát triển của các khu vực doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, chúng ta nhận thấy rằng: Mặc dù đã có sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng, quy mô đến trình độ quản lý, kỹ thuật công nghệ tiên tiến, nhưng đối với các khu vực doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết để có thể phát triển tốt hơn trong xu thế hội nhập quốc tế, mà đặc biệt là khi thời điểm hoàn thành thực hiện CEPT/AFTA đang đến gần. III. Tình hình chuẩn bị của các doanh nghiệp Việt Nam cho tiến trình hội nhập AFTA Qua 5 năm thực hiện lịch trình cắt giảm thuế theo CEPT, nhìn chung, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa nhận thức được hết các khó khăn, thách thức, tính cạnh tranh gay gắt do tiến trình mở cửa thị trường, hội nhập vào kinh tế khu vực tạo ra, chưa có những điều chỉnh cần thiết để phù hợp với lịch trình giảm thuế nhập khẩu với hàng hoá nhập khẩu từ ASEAN mà vẫn kinh doanh theo phương thức cũ, dựa vào các chính sách bảo hộ của Nhà nước. Đồng thời, các thuận lợi do triển khai AFTA đem lại cũng chưa được các doanh nghiệp tận dụng, khai thác hiệu quả. Dựa trên những kết quả điều tra của VCCI, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Quản lý kinh tế Trung ương, có sự phối hợp và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế (MDPF - Chương trình phát triển dự án sông Mê Kông, UNIDO - Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp quốc) đã tiến hành khảo sát đối với các doanh nghiệp Việt Nam theo những khía cạnh khác nhau, có thể đưa ra một số nhận định về tình hình tiếp cận và khai thác AFTA của các doanh nghiệp Việt Nam như sau: Chỉ có khoảng 60% doanh nghiệp (được điều tra) có tổ chức bộ phận nghiên cứu triển khai để xúc tiến xuất khẩu. Tuy nhiên, năng lực nghiên cứu thị trường nước ngoài và phát triển sản phẩm của các doanh nghiệp này còn rất thấp kém. Do đó, tính sẵn sàng cũng như cơ sở nâng cao khả năng tiếp cận thị trường các nước ASEAN của các doanh nghiệp Việt Nam khi hoàn thành AFTA để được hưởng các ưu đãi theo CEPT cũng hết sức hạn chế. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa có hệ thông cung cấp và đảm bảo thông tin riêng về thị trường và đối thủ cạnh tranh quốc tế nói chung và ở khu vực ASEAN nói riêng, mà chủ yếu dựa vào các kênh thông tin khác, đặc biệt là sự hỗ trợ cung cấp thông tin từ Nhà nước. Theo kết quả điều tra, chỉ có 6,6% doanh nghiệp có kênh thông tin riêng từ chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài; 5,4% doanh nghiệp nhận được thông tin từ Đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài; còn lại phần lớn các doanh nghiệp thu thập thông tin không hệ thống, không cập nhật và không có giá trị ra quyết định cao từ các nguồn thông tin khác. Do hạn chế về khả năng tài chính, nên hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chưa có một chương trình cụ thể hay một sự chuẩn bị ban đầu về quảng cáo sản phẩm thông qua các công ty quảng cáo ở nước ngoài, tìm hiểu lĩnh vực, cơ hội và đối tác đầu tư để đầu tư sang các nước ASEAN. Về năng lực cán bộ làm công tác xuất - nhập khẩu, qua điều tra, được xem là có khả quan hơn trong tiến trình chuẩn bị và thực hiện AFTA đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Theo kết quả điều tra, trong số các doanh nghiệp kinh doanh xuất - nhập khẩu, có 72% doanh nghiệp cho biết cán bộ làm công tác xuất - nhập khẩu của doanh nghiệp có trình độ đại học, trên đại học là 3,3%, còn lại là các bậc đào tạo khác. Về khả năng mở rộng xuất khẩu trong tương lai: chỉ có 46,4% doanh nghiệp kinh doanh xuất - nhập khẩu hiện nay trả lời có khả năng mở rộng. Trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, chỉ có: 23,8% có hàng xuất khẩu; 13,7% có triển vọng xuất khẩu; còn 62,5% doanh nghiệp hoàn toàn không có khả năng xuất khẩu sản phẩm của mình. Mức độ quan tâm của các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa thực sự tập trung đến quá trình chuẩn bị và thực hiện AFTA trên các phương diện như: mức thuế áp dụng theo lộ trình thực hiện (24% doanh nghiệp chưa đủ thông tin về lịch trình giảm thuế của AFTA), các hàng rào phi quan thuế cần xoá bỏ và khả năng bị thay thế bằng các biện pháp khác, tiến triển trong diện hợp tác giữa các nước ASEAN về hài hoà tiêu chuẩn & chất lượng và tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ. Hiện tại, hầu hết các doanh nghiệp chưa sử dụng mẫu Form D để hưởng thuế ưu đãi theo CEPT. Các hình thức liên kết khác như đầu tư nội bộ ASEAN (AIA) và hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO) có rất ít doanh nghiệp quan tâm mặc dù điều kiện tham gia vào AICO đã được nới lỏng từ năm 1999 để mở rộng diện các doanh nghiệp có khả năng tham gia. Rõ ràng là tình hình chuẩn bị và thực hiện AFTA từ phía các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay trên hầu hết các khía cạnh chưa có nhiều tiến triển lạc quan. Điều đó có nguyên nhân từ nhiều phía: Trước hết, trong thời gian qua, mặc dù lịch trình cắt giảm thuế theo nội dung CEPT về tổng thể được chuẩn bị tương đối đầy đủ, đồng thời các cơ quan chức năng đã tổ chức nhiều chương trình hội thảo, thuyết trình giới thiệu về ASEAN, AFTA và CEPT, các cơ hội và thách thức do thực hiện CEPT đem lại, cung cấp các thông tin về thị trường và lịch trình giảm thuế nhưng mức độ phổ cập các thông tin về AFTA và CEPT đến các doanh nghiệp còn khá hạn chế. Nội dung các chương trình giới thiệu AFTA còn mang tính chất khái quát, chưa có những nội dung cụ thể có tính chất định hướng giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh nhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong điều kiện tự do hoá thương mại. Theo kết quả điều tra của VCCI, có 16% số doanh nghiệp được hỏi cho biết chưa có hiểu biết đầy đủ về hội nhập. Thứ hai, trong 5 năm tham gia AFTA/CEPT từ 1996 - 2000, danh mục cắt giảm thuế của Việt Nam vẫn chủ yếu gồm các mặt hàng có lợi thế về xuất khẩu hoặc có nhu cầu nhập khẩu mà trong nước chưa có khả năng sản xuất, hầu hết có mức thuế suất thuế nhập khẩu thấp nên tác động của AFTA/CEPT đối với doanh nghiệp chưa đáng kể, chưa ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Thứ ba, so với doanh nghiệp các nước ASEAN, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ, nên khả năng cũng như nhu cầu tiếp cận và mở rộng thị trường không lớn. Hơn nữa, các doanh nghiệp Việt Nam mới tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới nên chưa có kinh nghiệm tiếp cận các thông tin cần thiết. Điều kiện để tiếp cận với các nguồn vốn còn hạn chế, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân. IV. Đánh giá việc tham gia CEPT đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tham gia AFTA là bước khởi động đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đối với quá trình hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu của nền kinh tế Việt Nam nói chung và các DNVN nói riêng. Trong khi đó, quan điểm của nhiều DNVN hiện nay cho rằng, tham gia vào AFTA, họ sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức hơn là cơ hội. Lý giải cho quan điểm này bắt nguồn từ thực trạng yếu kém cũng như năng lực cạnh tranh của DNVN trước các đối tác ASEAN, đặc biệt là ASEAN5. Tuy nhiên nếu xem xét nội dung AFTA đối chiếu vào hoạt động của DNVN, có thể thấy, nếu các DNVN có những chiến lược, giải pháp đúng sẽ tận dụng được những cơ hội thuận lợi đồng thời hạn chế được phần nào những khó khăn, thách thức đó. 1. Những cơ hội đối với DNVN tham gia AFTA Thứ nhất, AFTA tạo điều kiện thuận lợi mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu cho các DNVN hội nhập vào thương mại khu vực. Nội dung của AFTA đã đưa ra những nguyên tắc về xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại, các tranh chấp thương mại được giải quyết công bằng, thực hiện bình đẳng trong đàm phán. Thông qua các nguyên tắc này, khi các DNVN tham gia AFTA, các sản phẩm sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi thấp hơn cả thuế suất tối huệ quốc (MFN) mà các nước ASEAN dành cho các nước thành viên WTO. Thứ hai, thông qua AFTA, các DNVN có cơ hội thuận lợi mở rộng hợp tác đầu tư, chuyển giao công nghệ, tận dụng lợi thế sẵn có về nhân công, tài nguyên thiên nhiên nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp của các nước ASEAN. Khi môi trường thương mại nội bộ khu vực ngày càng tự do cũng có nghĩa là mức độ hội nhập kinh tế giữa các nước thành viên ngày càng tăng lên. Các hình thức liên kết khác như đầu tư nội bộ ASEAN (AIA), hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO), tài chính, năng lượng, giao thông vận tải, đang tạo điều kiện cho các DNVN một "sân chơi" rộng để có khả năng nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm. Mặt khác, do có đảm bảo bằng cam kết đa phương nên các nhà đầu tư ASEAN và nước ngoài yên tâm đầu tư và chuyển giao công nghệ tại thị trường Việt Nam cũng như các DNVN đầu tư ra nước ngoài cũng được đối xử bình đẳng. Thứ ba, tham gia AFTA, các DNVN có khả năng rút ngắn khoảng cách tụt hậu, tranh thủ và bổ sung các lợi thế sẵn có giữa các doanh nghiệp trong nội bộ khu vực. Mặc dù có sự trùng lặp về cơ cấu ngoại thương giữa Việt Nam và ASEAN nhưng có nhiều lĩnh vực DNVN có thể khai thác từ thị trường ASEAN như Việt Nam có thế mạnh về các sản phẩm nông sản, hàng dệt, may mặc trong khi đó ta cũng có nhu cầu nhập khẩu các thiết bị, máy móc hạng trung bình, các sản phẩm hoá chất, bán thành phẩm từ các nước ASEAN với giá thấp hơn so với các khu vực khác trên thế giới. Nếu tranh thủ được các lợi thế này, DNVN sẽ có lợi do tăng được khả năng cạnh tranh với các đối tác bên ngoài ASEAN về giá cả, chi phí vận chuyển. Ngoài ra, trong quá trình hội nhập kinh tế, các DNVN có thể học hỏi kinh nghiệm quản lý, tiếp thu kỹ thuật công nghệ, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ từ các nước ASEAN khác. Thứ tư, vị thế của DNVN được cải thiện nhờ quá trình đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ khu vực và thế giới. Trên cơ sở nguyên tắc đồng thuận cũng như sức mạnh tập thể của tổ chức ASEAN, các DNV

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docQT1000.doc
Tài liệu liên quan