Đề tài Giải pháp đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam

 

LỜI MỞ ĐẦU. 1

I.THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC TÌM KIẾN THĂM DÒ KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN DẦU KHÍ CỦA PETROVIETNAM. 2

1.Dầu khí và công nghiệp dầu khí. 2

1.1.Dầu mỏ và khí đốt. 2

1.2Ngành công nghiệp dầu khí. 2

1.3 Vai trò của ngành công nghiệp dầu khí. 3

2.PetroViệtNam và những chặng đường phát triển. 4

2. Thực trạng của công tác tìm kiếm thăm dò. 6

3. Thực trạng của công tác khai thác . 8

4. Thực trạng của việc chế biến dầu khí. 11

4.1.Thực trạng của việc chế biến dầu. 11

4.2.Thực trạng của công tác chế biến khí. 12

II.CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TÌM KIẾM THĂM DÒ KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN DẦU KHÍ. 14

1.Giải pháp về cơ chế chính sách. 14

2.Giải pháp về nguồn nhân lực. 16

3.Giải pháp về hợp tác quốc tế. 17

4.Giải pháp về công nghệ. 19

5.Giải pháp về tài chính và huy động vốn. 20

KẾT LUẬN. 23

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 24

 

doc25 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 11/09/2015 | Lượt xem: 637 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Giải pháp đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
công ty Dầu khí Việt Nam đang tích cực triển khai các dự án tìm kiếm thăm dò ở nước ngoài. Sản lượng khai thác dầu khí giai đoạn 2001-2004 đạt 85.36 triệu tấn qui dầu (gồm 72.1 triệu tấn dầu thô và 13.26 tỉ m3 khí). Riêng năm 2004, sản lượng khai thác dầu khí đạt 26.403 triệu tấn qui dầu (gồm 20.403 triệu tấn dầu thô và 6 tỉ m3 khí). Với những tấn dầu thô đầu tiên được khai thác từ thềm lục địa miền Nam nước ta trong những năm đầu thập niên 80 của thế ký trứơc, dầu khí Việt Nam đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới gcủa đất nước. Dầu thô đã góp phần chống lạm phát, phục vụ các chương trình kinh tế lớn của nước nhà, góp phần ổn định tình hình kinh tế – xã hội suốt thời gian bị bao vây cấm vận kinh tế. Dầu khí đã được ghi nhận là ngành công nghiệp mới đạt hiệu quả kinh tế cao, là cánh cửa mở để đi đến tương lai Để có được những lời đánh giá tốt đẹp đó, trong những năm qua cán bộ, công nhân dầu khí Việt Na đã chung lưng đấu cật lao động sáng tạo, vượt qua muôn vàn khó khăn , thách thức, liên tục hoàn thành vượt mức kế hoạch năm sau cao hơn năm trước. Chỉ tính 4 năm 6 tháng đầu thế kỷ mới này, toàn ngành đã khai thác 98,852 triệu tấn dầu thô qui đổi, xuất khẩu 79, 324 triệu tấn dầu thô, đạt kim ngạch 19,313 tỷ USD, nộp ngân sách Nhà nước 169,539 tỷ đồng, cung cấp khí cho các nhà máy điện Phú Mỹ, Bà Rịa hiện đang sản xuất an toàn liên tục 40% sản lượng điện của cả nước. Xí nghiệp liên doanh dầu khí Vietsovpetro, con chim đầu đàn của ngành dầu khí nước ta kể từ khi khai thác tấn dầu đầu tiên đến hết tháng 8 năm 2004 đã khai thác được 147,213 triệu tấn dầu thô; thu gom và vận chuyển vào bờ hàng chục tỷ m3 khí đồng hành cung cấp cho các nhà máy điện PHú Mý, Bìa Rịa và Nhà máy chế biến khí Dinh Cố. Riêng 8 tháng năm 2004, công ty đã khai thác trên 7,035 triệu tấn dầu thô từ 2 mỏ Bạch Hổ và Rồng Đen, thu gom và vận chuyển vào bở trên 1,245 tỷ m3 khí. Hay Công ty liên doanh dầu khí Cửu Long tính đến tháng 6 năm 2005 đã khai thác được 5,6 triệu tấn dầu thô, mang lại doanh thu gần 1,6 tỷ USD. 2. Thực trạng của công tác tìm kiếm thăm dò. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đặc biệt chú trọng tới công tác tìm kiếm thăm dò, đề ra nhiều biện pháp để thực hiện kế hoạhc gia tăng trữ lương, đạt mức 150 triệu tấn dầu qui đổi cho cả giai đoạn 2001- 2005. Một số dự án tìm kiém thăm dò dầu khí ở trong nước cũng đã được Tổng công ty Dầu khí Việt Nam triển khai, như Dự án tìm kiếm thăm dò dầu khí tổng thể ở Miền Võng như Hà Nội; Đề án khảo sát địa chấn 3D lô 103/107 vịnh Bắc Bộ; Đề án khảo sát địa chấn 2D các lô từ 113 tới 121; giếng Đông Quan S_1X thuộc vùng trũng Hà Nội, giếng Rồng Tre và giếng Cá Ngừ Vang. Mỏ Đại Hùng đã được đưa trở lại khai thác từ ngày 30/11/2004. Dự kiến, năm 2005 sản lượng khai thác dầu khí đạt 24,4 triệu tấn, trong đó 18 triệu tấn là dầu thô. Việc liên doanh, liên kết và kêu gọi vốn đầu tư với các đối tác kinh doanh trong nước và quốc tế, cũng được Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đẩy mạnh và tiếp tục triển khai thực hiện các hợp đồng đã ký ở nước ngoài; Tích cực triển khai công việc ở các dự án thăm dò khai thác dầu khí ở các khu vực trên thế giới như Hợp đồng Lô 433a và 416b ở Angiêri; Hợp đồng lô SK 305 ở Malaysia; Hợp đồng Madura I và II, Đông Jawa Indonesia; Hợp đồng phát triển khai thác mở Amara IraqĐến nay, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã ký hợp đồng tìm kiếm , thăm dò khai thác dầu khí với nước ngoài tại Việt Nam với tổng số vốn dăng ký trên 7 tỷ USD. Hiện tại, các công ty đang tích cực chuẩn bị và triển khai chương trình công tác đã thống nhất ở Petro Việt Nam ngay từ những ngày đầu năm 2005. Ngoài ra, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã tổ chức hội nghị mở vồng đấu thầu lô 122- 130 bể Phú Khánh, kêu gọi đầu tư với gần 30 công ty đăng ký tham dự; Ký hợp đồng lô 05-1b/1c với Công ty IDEMITSU; Hoàn thành việc xem xét trữ lượng các lô của Unocal (Kim Long, ác quỷ, Cá Voi). Ngoài ra một thành viên của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam là công ty liên doanh điều hành Cửu Long cũng đã có những thành tích đáng kể trong việc thăm dò tìm kiếm dầu khí : công tyđã thăm dò, khảo sát 15 giếng khoan, đến tháng 8/2000 thì phát hiện dầu tại mở Sư Tử Đen; tháng 10/2001 phát hiện tiếp dầu tại mỏ Sư Tử Vàng và tháng 11/2003 công ty phát hiện được dầu khí –condensat tại mở Sư Tử Trắng thuộc lô 15. 1 ngoài khởi tỉnh Bình Thuận. Tổ hợp mỏ Sư Tử Đên- Sư Tử Vàng- Sư Tử Trắng được mệnh danh là “tam giác vàng”, có trữ lượng ước tính lớn thứ hai Việt Nam sau mỏ Bạch Hổ. Cụ thể mỏ Sư Tử Đen có độ sâu 52 mét nước, cùng với mỏ Sư Tử Vàng và Sư Tử trắng là một cụm mỏ dầu khí giàu tiềm năng mà điều hết sức thuận lợi là cả 3 mỏ chỉ cách mũi Khe Gà- Bình Thuận 60 km, trong khi các mỏ dầu đang khai thác của Liên doanh Dầu khí Việt Xô cách bờ biển Vũng Tàu tới hơn 100km. Hiện nay, kinh phí xây dựng đường ống dẫn dầu trong lòng biển lên tới 1,2 triệu USD/ km, nên nếu đưa dầu khí vào Bình Thuận sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí, cũng như cung ứng các dịch vụ và thiết bị cho giàn khoan cúng nhanh hơn. Khi dịch vụ dầu khí phát triển, bình Thuận sẽ trở thành tỉnh có nền kinh tế phát triển toàn diện trong vùng, đặc biệt là về công nghiệp Dầu khí. Cái mà Bình Thuận đang cần là hệ thống sân bày, cảng biển, đường ống dẫn dầu, dấn khí, kho tàng và nhất là đào tạo nguồn nhân lực để sẵn sàng tiếp cận ngành dầu khí mới mẻ đang phát triển. Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro là đơn vị đầu tiên phát hiện mỏ dầu trong móng ở bồn trũng Cửu Long, cúng là đơn vị đầu tiên phát hiện vỉa khí- dầu trong từng móng bồn trũng Nam Côn Sơn- ở mỏ Đại Hùng năm 2003 và mở Thiên ưng thuộc lô 02-3 năm 2005. Xí ngiệp đã khoan thành công giếng khoan Đại Bàng 2X là khu vực có điều kiện địa chất hết sức phức tạp, vừa mất dung dịch vừa tồn tại dị thường áp suất cao, nơi mà trước đây nhiều công ty dầu khí nước ngoài đã phải bỏ dở. Năm nay, Xí nghiệp sẽ kết thục khoan 6 giếng thăm dò với 21,6 km khoan, gia tăng thêm 35 triệu tấn trữ lượng địa chất, trong đó có 11 triệu tấn dầu thu hồi. Có thể nói việc đầu tư cho công tác tìm kiếm thăm dò là việc hết sức quan trọng giúp cho chúng ta gia tăng trữ lượng dầu khí, mà trong bối cảnh giá dầu trên thế giới tăng cao như hiện nay thì điều đó lại càng quan trong hơn. Bên cạnh đó cũng còn rất nhiều khó khăn đang tồn tại trong vấn đề tìm kiếm thăm dò hiện nay, thứ nhất là điều kiện vật chất kĩ thuật của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trong lĩnh vực thăm dò là chưa thực sự phát triển, chúng ta vẫn phải mua thiết bị từ nước ngoài, đồng thời các cán bộ công nhân viên chưa có trình độ đủ để đáp ứng yêu cầu do vậy phải thường xuyên đào tạo mới và đào tạo lại. 3. Thực trạng của công tác khai thác . Trong năm 2004 Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiện vụ sản xuấtkinh doanh đã đề ra, đặc biệt tronglĩnh vực khai thác. xuất khẩu dầu thô, vận chuyển , quản lý và phân phối khí thiên nhiên, sản xuất phân đạm Cụ thể về phần khai thác thì Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã khai thác được trên 20 triệu tấn dầu thô, trên 6 tỷ m3 khí trong năm 2004. Riêng trong 6 tháng đầu năm 2004, sản lượng ước đạt 9 triệu tấn dầu, bằng 55% tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2003, tăng trên 1,2 triệu tấn dầu thô và 1,3 tỷ m3 khí so với cùng ký 2003. Hoạt động khai thác dầu khí hiện đang được triển khai tại 7 mỏ: Rạng Đông, Sư Tử Đen- lô 15.5, mỏ khí Lan Tây- Lan Đỏ. Sản lượng khai thác trung bình của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đạt mức 50 nghìn tấn dầu thô/ ngày và 16 triệu 3 khí/ngày. Mỏ Đại Hùng dự kiến cuối quý 3 /2004 sẽ khai thác trở lại sau thời gian sửa chữa. Trong đó, hệ thống Bạch Hổ, hệ thống Nam Côn Sơn vận hành ổn định, an toàn phát huy hiệu quả. Hai đường tuyến ống hiện nay dang đảm bảo vận chuyển khí đồng hành từ các mở thuộc mỏ Cửu Long và khí thiên nhiên lô 02 bể Nam Côn Sơn đáp ứng nhu cầu khí cho sản xuất điện, sản xuất công nghiệp khu vực miền Đông nam bộ và trên 60% nhu cầu khí hoá lỏng trong nước. Để hiểu thêm ta có thể xem xét về tình hình khai thác của một liên doanh trong Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đó là liên doanh dầu khí Viêtsovpetro 29/12/1988 khai thác tấn dầu thứ 1 triệu, tấn dầu thứ 10 triệu vào 3/2/1992. Sau ngày 27/5/1993 hiệp định về việc Liên bang Nga thừa kế quyền và nghĩa vụ của bên Liên Xô trước đây được ký kết, tấn dầu thứ 20 triệu được khai thác vào ngày 12/11/1993. Ngày 16/4/1995 liên doanh bắt Bảng tham khảo về lượng dầu khai thác của Việt Nam so với 1 số nước trong khu vực. Đơn vị:tấn/ ngàyđêm. Năm Brunây Việt Nam Malayxia Indônêxia 1994 21.56 18.7 83.12 190.39 1995 23.25 23.37 88.96 191.69 2000 23.38 38.96 87.01 170.13 đầu dẫn khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ vào bờ cung cấp cho Nhà máy Nhiệt diện Bà Rịa. Ngày 23/4/1995 khai thác tấn dầu thứ 30 triệu và 19/10/1997 tấn dầu thứ 50 triệu. Tấn dầu thứ 90 triệu được khai thác vào 22/2/2001 và khai Liên doanh tròn 20 tuổi thì tấn dầu thứ 100 triệu đã được khai thác vào tháng 11/2001/ Liên doanh phấn đấu hoàn thành khai thác tấn dầu thứ 150 triệu vào tháng 11/2005. Để đạt được sản lượng khai thác dầu khí như trên, liên doanh đã khoan vào lòng đất trên 250 giếng khoan các loại với hơn 1 triệu mét khoan. Cùng với việc nâng cao sản lượng dầu. Liên doanh đã tập trung nhiều trí tuệ, công sức để giải quyết vấn đề cng cấp khí đồng hành vào bờ, hỗ trợ tích cực cho việt phát triển cụm khí điện, đạm Bà Rịa –Vũng Tàu. Ngoài ra còn có công ty liên doanh dầu khí Cửu Long cũng đẩy mạnh việc khai thác dầu khí cụ thể : song song với việc khai thác dầu từ mở Sư Tử Đen giai đoạn 1, liên doanh còn đang triển khai kế hoạch phát triển mỏ dầu Sư Tử Vàng, kế hoạch thẩm lượng mỏ dầu khí condensat Sư Tử Trắng. 29/10/2003 dòng dầu thương mại đầu tiên đã được khai thác từ mỏ Sư Tử Điên và chỉ trong 1 năm , Công ty đã khai thác được 27,1 triệu thùng dầu thô ( tương dương với 3,6 triệu tấn ). Dầu thô khai thác lên được bơm vào tàu Cửu Long MV9 với sức chứa 1 triệu thùng để xử lý. Công ty thăm dò và khai thác dầu khí trực thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã hựp tác chặt chẽ với các đối tách thúc đẩy khai thác để tăng nhanh sản lượng dầu khí tại hầu hết các mỏ như Rạng Đông, Ruby, Sư Tử Đen, Lan Tây. Công ty đã khai thác được trên 8 triệu tấn dầu thô và 4, 639 tỷ m3 khí thiên nhiên. Trong đó, riêng mỏ Sư Tử Đên đã khai thác được 3,47 triệu tấn dầu thô, vượot 43,26% kế hoạch cả năm ; mỏ Lan Tây có tiềm năng các giếng tốt, khai thác ổn đinh, đạt sản lượng 2, 55 tỷ m3 khí thiên nhiên vượt kế hoạch 9,44% đáp ứng thoả mãn nhu cầu khí cho các nhà máy nhiệt điện và các ngành kinh tế. Trên đây ta đã thấy được thực trạng của công tác khai thác dầu mỏ của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Đó thực sự là những con số đáng mừng, tuy nhiên chung ta khai thác dầu thô chủ yếu để xuất khẩu mà vẫn chưa thể chế biến dầu thô được và chỉ có khí đồng hành là chúng ta mới có thể xử lý và sử dụng được.Chính vì vậy chúng ta sẽ đề cập tới việc chế biến dầu trong phần tiếp theo. 4. Thực trạng của việc chế biến dầu khí. 4.1.Thực trạng của việc chế biến dầu. Dầu mỏ chúng ta khai thác hiện nay chủ yếu là dầu thô và phục vụ trực tiếp cho việc xuất khẩu. Năm 2004 ngành dầu khí đạt kim ngạch xuất khẩu gần 5,7 tỷ USD, tương đương 19,5 triệu tấn dầu thô, vượt 93% kế hoạch năm về doanh thu ngoại tệ, chiếm ngót 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của các ngành kinh tế trong nước. Tuy nhiên mục tiêu của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam không chỉ dừng lại ở xuất khẩu dầu thô mà còn là việc lọc dầu để phục vụ trực tiếp cho nhu cầu trong nước hạn chế nhập khẩu xăng dầu. Các công trình trọng điểm dầu khí, đặc biệt nhà máy lọc dầu Dung Quất đã và đang được triển khai một cách khẩn trương, dự án lọc dầu Dung Quất do đích thân Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo, cứ 10 ngày Tổng công ty Dầu khí Việt Nam phải báo cáo tiến độ 1 lần. Hiện dự ấn đã hoàn thành cơ bản công tác chuẩn bị mặt bằng và hạng mục hạ tầng cơ sở phục vụ công tách xây dựng nhà máy, một số hạng mục đã được đưa vào xử dụng. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đang cùng nhà thầu Technip triển khai hợp đông phát triển thiết kế tổng thể của gói 1 với việc bổ sung hai phân xưởng xử lý LCO băng hydro và đồng phân hoá naptha nhẹ vào sơ đồ công nghệc ủa nhà máy như đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các đề án như : Khí Nam Côn Sơn, Đề án Liên hợp hóa dầu Nghi Sơn Thanh Hoá, dự án Đường ống dẫn khí Phú Mỹ –TP Hồ Chí Minh, Dự án Đạm Phú Mỹ đang được Tổng công ty Dầu khí Việt Nam cùng các nhà thầu triển khai, trình Chính phủ. 4.2.Thực trạng của công tác chế biến khí. Khí đồng hành thu được cùng khai thác dầu mỏ ở nước ta hiện nay được chế biến rất hiệu quả. Các đường ống dẫn khí trong lòng biển đã được xây dựng để dẫn khí vào trong đất liền phục vụ cho việc sản xuất điện, đạm, hoá lỏng, hoá Gas ở Việt Nam hiện nay có một công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm về khí PetroVietNam Gas,được thành lập 20-9-1990. Chức năng và nhiệm vụ chính là thu gom, vận chuyển, chế biến và kinh doanh các sản phẩm khí, cung cấp khí cho các hộ tiêu thụ công nghiệp trong khu công nghiệp liên hiệp khí điện đạm Phũ Mỹ thuộc huyện Tân thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu có tầm cỡ lớn nhất Đông Nam á với số vốn đầu tư hơn 4,5 tỷ USD. Công ty đã bắt tay vào việc triển khai dự án thu gom và sử dụng khí đồng hành Bạch Hổ. Đây là dự án lớn, phức tạp, bao gồm hệ thống đường ống thu gom và vận chuyển khí, giàn nén khí, nhà máy xử lý khí, kho chứa và cảng xuất sản phẩm lỏng, các trạm phân phối khí với tổng vốn đầu tư 450 triệu USD. Giai đoạn 1, đưa khí vào bờ hoàn thành đầu quý 2 /1995. Ngày 26/4/1995, dòng khí đầu tiên mà trước đầy phải đốt bỏ ngoài khơi đã được đưa vào bờ cấp cho nhà máy Điện Bà Rịa với lưu lượng 1 triệu m3 / ngày đêm, góp phần giảm giá thành sản xuất điện năng. Đây là bước ngoặt đánh dấu một ký nguyên mới, kỷ nguyên của ngành công nghiệp khí Việt Nam. Giai đoạn 2, cùng với việc hoàn thành giàn nén nhỏ, giàn nén lớn và mở rộng hệ thống đường ống dẫn khí trên bờ, công suất đưa khí vào bờ đã được nâng lên 2 triệu m3 / ngày đêm vào ngày 14/12/1997. Giai đoạn3 phần nhà máy xử lý Dinh Cố, kho chứa và cảng xuất Thị Vải đã hoàn thành vào cuối năm 1998. Đây là 2 công trình có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế và công nghệ. Ngoài việc nâng sản lượng khí lên 4 triệu m3 / ngày đêm, công trình khí còn cung cấp mỗi năm 130.000 tấn khí hoá lỏng phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Giai đoạn 4, đường ống dẫn khí dài 45 km từ mỏ Rạng Đông về mỏ Bạch Hổ được hoàn thành vào cuối tháng 11/2201, nâng công suất của dự án khí đồng hành Bạch Hổ từ 4,7 triệu m3 /ngày đêm lên 5,7 triệu m3 / ngày đêm, góp phần tăng sản lượng cung cấp khí. Hiện nay, toàn bộ Dự án khí Bạch Hổ đang được vận hành và khai thác có hiệu quả với 3 loại sản phẩm: Khí khô 1,5 tỷ m3 . năm, khí hoá lỏng 350.000 tấn / năm và condensate 130.000 tấn/ năm. Ngoài ra giai đoạn 1 củ Sự án khí thấp áp đã hoàn thành vào cuối năm 2003 với vốn đầu tư gần 100 tỷ đồng, mỗi ngày cung cấp gần 1 triệu m3 khí cho các hộ công nghiệp tiêu thụ và có hơn 30 xe ô tô dang trong giai đoạn thử nghiệm dùng khí hoá lỏng thay thế nhiên liệu truyền thống. Các dự án này đã góp phần đa dạng hoá các hình thức sử dụng khí, mở rộng thị trường tiêu thụ khí và góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường. Thêm vào đó PetroVietNam Gas đã tích cực tham gia vận hành dự án khí Nam Côn Son. Dự án này bao gồm hệ thống đường ống chính dài 400km, bắt nguồn từ các mỏ khí Lan Tây- Lan Đỏ thuộc vùng bồn trũng Nam Côn Sơn và kết thúc ở Phúc Mỹ. Nhà máy xử lý khí Dinh Cố, trung tâm phân phối khí Phú Mỹ. Các dự án khí Bạch Hổ, Nam Côn Sơn đi vào hoạt đồng đã có nhứng đóng góp hết sức có ý nghĩa đối với sự phát triểnkinh tế xã hội của đất nước. Không phải ngẫu nhiên mà một chuyên gia kinh tế đã cho rằng, ngành công nghiệp Khí đốt non trẻ của Việt Nam thực sự là một cuộc chơi lớn của sự nghiệp phát triển. Hiện nay nghành công nghiệp khí đã cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu để sản xuất trên 40% tổng sản lượng điện năng của cả nước, gần 30 % nhu cầu phân đạm ure và gần 40 % nhu cầu khí hoá lỏng của cả nước. Kết quả cụ thể các chỉ tiêu chính Tổng công ty Dầu khí Việt Nam thống kê về chế biến khí từ 1995 tới nay: -Về sản lượng, đã cung cấp hơn 15 tỷ m3 khí khô, gần 2 triệu tấn khí hoá lỏng và hơn 8 triệu tấn condensat. -Tổng doanh thu trên 34.500 tỷ đồng, riêng năm 2005 ước tính gần 10.000 tỷ đồng. -Nộp ngân sách nhà nước trên 8.000 tỷ đồng, riêng năm 2005 ước đạt 2.000 tỷ đồng. II.các giải pháp đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò khai thác và chế biến dầu khí. Với mục tiêu chiến lược phát triển của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đến năm 2020 đã được xác định gồm xây dựng Tổng công ty thành một tập đoàn dầu khí mạnh ở khu vực Đông Nam á, có khả năng điều hành các hoạt động thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến và phân phối dầu khí, gia tăng trữ lượng thu hồi khoảng 150-200 triệu tấn quy dầu vào năm 2005 và vào khoảng 250-300 triệu tấn quy dầu vào năm 2010, đảm bảo sản lượng khai thác từ 22-24 triệu tấn quy dầu vào năm 2005 và từ 27030 triệu tấn quy dầu vào năm 2010. Từ mục tiêu chiến lược đó mà Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã đưa ra các giải pháp để hoàn thành nhiệm vụ chiến lược này. 1.Giải pháp về cơ chế chính sách. Để thích ứng với điều kiện mới thì Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có những chính sách và cơ chế thích hợp. Một mặt khuyến khích Tổng công ty Dầu khí Việt Nam phát triển nhanh hơn, mặt khác thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Đầu tiên phải nói về chính sách trợ giá xăng dầu nhập khẩu trong bối cảnh giá xăng dầu trên thế giới tăng mạnh như hiện nay.Điều này vô cùng quan trọng bởi vì nước ta nhập khẩu 100% xăng dầu, giá xăng dầu tăng cao không chỉ ảnh hưởng tới nền kinh tế mà còn ảnh hưởng tới cả chính trị. Nhà nước cần ban hành các qui định như chấn chỉnh lại hệ thống phân phối, kinh doanh xăng dầu, quy chế quản lý kinh doanh xăng dầu, quy chế đại lý xăng dầu, quy định việc giá bán định hướng xăng dầu. Nhà nước phải có chính sách bù lỗ xăng dầu, để bình ổn thị trương, đồng thời giúp cho Tổng công ty Dầu khí Việt Nam làm ăn có hiệu quả hơn. Và ở nước ta có xuất khẩu dầu thô nên cũng có khoản để bù lỗ. Ta thấy thực tế trong năm 2004 nhà nước 3 lần quyết định tăng giá xăng dầu. Tuy nhiên tăng giá xăng dầu thì các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu vẫn bị lỗ, do vậy bù lỗ không phải là một giải pháp lâu dài mà chỉ là tạm thời. Do đó Nhà nước đang có những bước đi tạo đà cho các hãng kinh doanh xăng dầu đủ mạnh để cạnh tranh với các hãng nước ngoài, hiện đang chuẩn bị vào nước ta , khi Việt Nam gia nhập WTO. Thứ hai là giá xăng dầu tăng cao đòi hỏi sử dụng năng lượng phải hết sức hiệu quả. Để đảm bảo an ninh năng lượng thì tiết kiệm năng lượng là biện pháp hàng đầu. Hoạt động tiết kiệm có quy mô lớn nhất trong ngành dầu khí là chấm dứt tình trạng đốt bỏ khí đồng hành tại nơi khai thác dầu thô, thu gom và đưa lượng khí lớn lao này vào bờ phục vụ cho phát điện, sản xuất ure và các hoá chất khác, thậm chí có thể chế biến thành nhiên liêu lỏng thay thế cho xăng. Ngoài ra Nhà nước cần hoàn thiện lại hệ thống pháp luật đặc biệt là Luật Đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện cho Tổng công ty Dầu khí Việt Nam có thể dễ dàng thu hut vốn liên doanh liên kết. Hay là đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực dầu khí ở nước ta. 2.Giải pháp về nguồn nhân lực. Cùng với quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, ngành dầu khí cũng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học công nghệ và công nhân kỹ thuật với hàm lượng tri thức cao, dần dần thay thế nhiều chức danh trước đây phải thuê chuyên gia nước ngoài. Để triển khai mọi mặt hoạt động của một ngành kinh tế có yêu cầu công nghệ cao, đầu tư lơn, kèm theo rủi ro cao, con người là yếu tố quyết định. ý thức được điều đó, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã sớm đầu tư tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đặt biệt là những cán bộ khoa học có trình độ kỹ thuật cao. Hàng năm, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã cử hàng trăm cán bộ, công nhân kỹ thuật đi đào tạo, bồi dưỡng ở các nước có nền công nghiệp dầu khí phát triển, mặt khác đã tuyển chọn những sinh viên học giỏi ở các trường đại học trong nước gửi đi đào tạo đại học và trên đại học tại các cơ sở đào tạo có chuyên môn có kinh nghiệm về lĩnh vực Dầu khí ở nước ngoài. Kết quả hàng trăm sinh vien đã tốt nghiệp trở về và hiện đang làm việc có hiệu quả cho các đơn vị. Song song vời việc đào tạo chuyên môn ngoại ngữ, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã tổ chức đào tạo và gửi đi đào tạo chính trị cao cấp, quản lý hành chính cho hầu hết các cán bộ và giám đốc, phó giám đốc các đơn vị, trưởng, phó các ban ở Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Nhờ chủ trương đúng đắn trên , đội ngũ cán bộ Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã có khả năng đáp ứng nhiệm vụ được giao cả trong quả lý và điều hành. Tính đến tháng 6/2005, đội ngú cán bộ công nhân viên ngành dầu khí đã lên tới 2,2 vạn người, trog đó số cán bộ có trình độ đại học chiếm 32,63% trên đại học chiếm 1,81% và hàng nghìn công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Có thể nói, đội ngũ cán bộ đảng viên, công nhân viên ngành Dầu khí là những người có tri thức, có năng lực và giàu tâm huyết, là nhân tố quyết định cho sự phát triển của ngành công nghiệp dầu khí, nhanh chóng hội nhập với các nước trong khu vực thế giới. 3.Giải pháp về hợp tác quốc tế. Hợp tác quốc tế của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trong thời gian qua được đẩy mạnh và đính giá là có hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư và liên doanh của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trong nhiều lĩnh vực hoạt động của mình. Nền tảng quan trọng nhất cho việc hợp tác kinh tế quốc tế là môi trường đầu tư thuận lợi, an toàn và hấp dẫn. Điều này đã được Nhà nước Việt Nam hết sức lưu tâm giải quyết tạo thuận lợi cho Tổng công ty Dầu khí Việt Nam hội nhập tích cực và hiệu quả với nền công nghiệp dầu khí quốc tế. Tổng công ty Dầu khí Việt Namđã ký 47 hợp đồng với tổng mức đầu tư nước ngoài trên 4 tỷ USD cho thăm dò khai thác dầu khí. Đã chọn được hình thức hợp đồng phù hợp và được các nhà đầu tư nước ngoài ưa thích là hợp đồng chia sản phẩm. Một hình thức mới trong đầu tư là liên doanh điều hành đã và đang được áp dụng có hiệu quả. Tỷ lệ phần tham gia của các Công ty dầu khí quốc tế vào hoạt động thăm dò khai thác ở Việt Nam đã phản ánh đúng chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá trong hợp tác quốc tế của ngành công nghiệp dầu khí. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã tích cực triển khai đầu tư tìm kiếm , thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài và bước đầu đã thành công trong việc ký kết một số hợp đồng dầu khí ở nước ngoài dưới hình thức cùng phát triển mở, tham gia quyền lợi vào các dự án thăm dò, hướng tới tự điều hành các đề án thưm dò và khai thác. Mức đầu tư hàng năm có thể đạt 50 triệu USD. Hiện tại Tổng công ty Dầu khí Việt Nam tiếp tục triển khai thực hiện các hợp đồng dầu khí ở nước ngoài và tích cực tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới vào các dự án thăm dò, khai thác dầu khí ở các khu vực trên thế giới. Hợp tác đầu tư giai đoạn 2001-2010 của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Các dự án đầu tư Tổng vốn đầu tư(triệu đô la) Phần tham gia của Việt Nam Giá trị(triệu đô la) Giai đoạn 2001-2005 Giai đoạn2006-2010 -Các dự án tìm kiếm thăm dò -Các dự án phát triển mỏ -Các dự án thu gom vận chuyển khí -Các dự án TDKT ở nước ngoài -Các dự án chế biến dầu khí -Các dự án phân phối và tiêu thụ sản phẩm -Các dự án dịch vụ và kinh doanh dầu khí Tổng nhu cầu đầu tư 3.954-4.150 6.120-7.020 1.399 550-700 5.199 1.319-1.369 819 19.356-20.656 900-1.100 1.945-2.312 853 225-600 3.132-3.232 1.319-1.369 819 9.193-10.285 425-525 1.017-1.177 591 150-250 1.582,1-1.662 457-477 423 4.645-5.105 475-575 928-1.135 263 75-350 1.550-1.570 862-892 396 4.548-5.181 Sắp tới đối với khu vực thượng nguồn, việc thu hút đầu tư nước ngoài sẽ tập trung vào khu vực nước sâu, xa bờ, các diện tiéhc đã thăm dò sơ bộ với các điều khoản hợp đồng hấp dẫn. Hình thức hợp đồng được áp dụng là phân chia sản phẩm. Phấn đấu đạt sản lượng trong vòng 10 năm tới là khoảng 25-30 triệu tấn dầu quy đổi/ năm, song song với việc gia tăng sản lượng, các cơ sở hạ tầng như cảng, đường ống, trạm xử lý và các đề án thuộc hạ nguồn như lọc hoá dầu, phân bón, phát điệnsẽ ưu tiên phát triển đồng bộ với sự hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài. 4.Giải pháp về công nghệ. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất và làm tốt công tác an toàn, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Viện dầu khí Việt Nam nhận thức được hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai côngnghệ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành dầu khí, trong 27 năm xây dựng và trưởng thành đã rất coi trọng đầu tư cho hoạt động ngiên cứu khoa học công nghệ, đổi mới thiết bị thí nghiệm, đào tạo đội ngũ cán bộ, gắn công tác nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ với hoạt động sản xuất kinh doanh dầu khí. Kết quả của các công trình nghiên cứu, triển khai công nghệ và và phân tích đã không chỉ phục vụ cho công tác quản lý điều hành của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam như góp phần quan trọng trong việc chính xác hoá các bể trầm tích, từng bước làm sáng tỏ tiềm năng dầu khí của Việt Nam, giải quyết các vấn đề kỹ thuật, tạo thuận lợi cho gia

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docM0788.doc
Tài liệu liên quan