Đề tài Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại ở Việt Nam

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

 1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại. 3

 1.2 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại . 3

 1.2.1. Nghiệp vụ nợ. 3

 1.2.2 Nghiệp vụ có. 5

 1.2.3 Nghiệp vụ trung gian. 7

 1.2.4 Mối quan hệ giữa 3 nghiệp vụ. 8

1.3 Chức năng của ngân hàng thương mại. 8

1.4 Các loại hình ngân hàng thương mại 9

CHƯƠNG II : HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 12

2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng. 12

 2.1.1/ Định nghĩa tín dụng. 12

 2.1.2/ Tín dụng ngân hàng. 12

 2.1.3/ Đặc điểm của tín dụng ngân hàng. 14

2.2 Chức năng tín dụng ngân hàng 15

2.3.Phân loại tín dụng ngân hàng. 16

2.4 Lãi suất tín dụng ngân hàng. 17

2.5 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. 19

2.6 Các nguyên tắc hoạt động tín dụng Ngân Hàng 23

 2.6.1.Nguyên tắc cho vay có hoàn trả vốn và lãi sau một khoảng thời gian nhất định

 2.6.2.Nguyên tắc cho vay co giá trị tương đương làm bảo đảm

 2.6.3.Nguyên tắc cho vay theo kế hoạch đã thỏa thuận từ trước hay theo hợp đồng đã ký kết

 

doc55 trang | Chia sẻ: NguyễnHương | Ngày: 24/07/2017 | Lượt xem: 235 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tế, đồng thời tập trung cho vay có hiệu quả hệ thì mới thu được lợi nhuận và mới có thể tồn tại được. Vô hình chung tín dụng Ngân hàng đã góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn. Điều này vừa làm tăng khả năng tích luỹ cơ bản của Ngân hàng vừa thúc đẩy quá trình phát triển tăng trưởng kinh tế. 2. Tín dụng Ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển sôi động, thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Các nhà doanh nghiệp luôn có khát vọng tối đa hoá lợi nhuận, muốn đạt được điều này các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới, khoa học công nghệ và muốn đổi mới thì phải có vốn. Tín dụng Ngân hàng sẽ tài trợ cho nhu cầu đó Song đổi mới là cả quá trình liên tục, để được Ngân hàng cho vay và được vay vốn nhiều lần, các chủ thể kinh doanh phải tìm biện pháp để kinh doanh có lãi, tăng vòng quay vốn, thu hồi vốn để trả nợ và lãi vay đúng hạn. Trong cuộc chạy đua gay go quyết liệt. Các hoạt động kinh tế xã hội có liên quan tất nhiên sẽ trở lên sôi động hơn. 3. Tín dụng Ngân hàng góp phần tích cực vào sự phát triển công ty cổ phần, một mô hình tổ chức “hữu hiệu” trong nền kinh tế thị trường. Cổ phần hoá hiện nay đang là xu thế phát triển chung của các công ty trong nền kinh tế thị trường. Các tập đoàn lớn nhất trên thế giới như Deawoo, Toyota đều là những công ty cổ phần và sự tồn tại và phát triển của công ty cổ phần là không thể tách rời vai trò của tín dụng Ngân hàng do: Tín dụng Ngân hàng sẽ cung cấp những cổ đông sẵn sàng bỏ vốn mua cổ phiếu của công ty vượt quá khả năng vốn liếng sẵn có của công ty. Tín dụng Ngân hàng tạo ra môi trường thuận lợi cho các công ty phát hành, chuyển nhượng và mua bán cổ phiếu của các công ty. Đầu tư vào cổ phiếu của các công ty cũng là một hình thức tín dụng mới của các Ngân hàng thương mại. 4. Tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng mối giao lưu kinh tế quốc tế . Xu thế kinh tế thế giới ngày nay là hợp tác bình đẳng đôi bên cùng có lợi, nguồn đầu tư nước ngoài và hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá là hai lĩnh vực hợp tác quốc tế quan trọng và thông dụng. Vốn là nhân tố đầu tiên quan trọng cho việc thực hiện quá trình này và do đó Ngân hàng sẽ là trợ thủ đắc lực về vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá. 5. Tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông, tạo điều kiện cho quản lý lưu thông tiền tệ. Bằng nghiệp vụ tín dụng của mình, Ngân hàng huy động lượng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, thực hiện cho vay đối với các đơn vị kinh tế – kinh doanh mà không cần phát hành thêm tiền mặt. Hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng thì càng hạn chế được số lượng tiền trong thanh toán do Ngân hàng dùng biện pháp chuyển khoản hay thẻ tín dụng theo đó, phí cho lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế giảm theo. Hơn nữa thông qua hoạt động huy động vốn và cho vay, Ngân hàng đã thực hiện biện pháp nghiệp vụ điều hoà vốn giữa các vùng, ngành, thành phần kinh tế, góp phần quản lý lưu thông tiền tệ. 6. Tín dụng Ngân hàng đóng vai trò kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh sản xuất của các doanh nghiệp. Qua việc cho vay và thu hồi vốn, Ngân hàng có thể kiểm tra, kiểm soát bằng đồng tiền thông qua trung tâm tín dụng được tiến hành qua các giai đoạn. - Kiểm tra trước khi cho vay. - Kiểm tra việc thực hiện vay vốn trong quá trình sử dụng vốn. - Kiểm tra sau khi vay nhằm mục đích kiểm tra việc sử dụng vốn có đúng với mục đích cho vay vốn. 2.6. Các nguyên tắc hoạt động tín dụng Ngân Hàng Hoạt động của tín dụng Ngân Hàng tuân theo nhứng nguyên tắc sau: 2.6.1Nguyên tắc cho vay có hoàn trả vốn và lãi sau một khoảng thời gian nhất định Đây là nguyên tắc đảm bảo thực chất của hoạt động tín dụng Ngân Hàng.Tính chất tín dụng sẽ bị phá vỡ nếu không có nguyên tắc này hoặc nguyên tắc này không được thực hiện đầy đủ. Doanh nghiệp khi thực hiện vay vốn phải cam kết trả đủ vốn và lãi sau một khoảng thời gian và cam kết này phải được ghi đầy đủ, cụ thể trong khế ước vay nợ. 2.6.2Nguyên tắc cho vay có giá trị tương đương làm bảo đảm Thực chất là nguyên tắc cho vay có thế chấp. Các giá trị tương đương làm đảm bảo có thể là vật tư, hàng hóa trong kho, tài sản cố định của doanh nghiệp, số dư trên tài khoản tiền gửi, các loại hóa đơn hàng hóa chuẩn bị nhập kho, thậm chí có thể là uy tín của chủ doanh nghiệp. Giá trị đảm bảo là cơ sở để đảm bảo khả năng thanh toán nợ, là cơ sở hạn chế những rủi ro trong tín dụng Ngân hàng, là điều kiện thực hiện nguyên tắc thứ nhất trong các trường hợp khác nhau. 2.6.3Nguyên tắc cho vay theo kế hoạch đã thỏa thuận từ trước hay theo hợp đồng đã ký kết Quan hệ tín dụng thể hiện mối quan hệ về vốn và lợi nhuận của doanh nghiệp. Nó liên quan chặt chẽ tới quá trình sản xuất kinh doanh của nội dung song lại mang tính thỏa thuận rất lớn. Do đó nó cần pháp luật bảo vệ. Hợp đồng tín dụng phản ánh nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp, là cơ sở cho các bên tham gia quan hệ tín dụng, là điều kiện cho các bên Ngân hàng cũng như các doanh nghiệp tính toán được các yếu tố và kết quả trong quá trình kinh doanh của mình 2.7 Chính sách tín dụng ngân hàng: Chính sách tín dụng là một bộ phận của chính sách tiền tệ. Chính sách tín dụng bao gồm chính sách lãi suất và chính sách hạn mức tín dụng. Trong chính sách hạn mức tín dụng, ngân hàng nhà nước quy định mức cung tín dụng đối với toàn bộ nền kinh tế, từng ngành hoặc từng loại hình doanh nghiệp tuỳ theo yêu cầu mở rộng hay thu hẹp đối với từng doanh nghiệp đó hoặc tuỳ thuộc theo yêu cầu của chính sách phát triển kinh tế nói chung đặt ra. Thông thường thì chính sách lãi suất có ảnh hưởng quyết định tới mức cầu và từ đó tới mức cung tín dụng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nhà nước bổ sung chính sách hạn mức tín dụng để lấp bớt khiếm khuyết của chính sách lãi suất trong khi thực hiện mục tiêu của chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng của ngân hàng có tác động rất lớn đối với các hoạt động kinh tế thông qua tác động tới nhu cầu vốn của các doanh nghiệp, tới lới nhuận của doanh nghiệp. Chính sách tín dụng tác động trực tiếp tới quá trình đầu tư của các doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình, tới sản lượng và tăng trưởng kinh tế. Thông qua chính sách lãi suất, ngân hàng tác động trực tiếp tới quá trình tiết kiệm hoặc tiêu dùng của các tầng lớp dân cư, tới giá trị của đồng tiền. Vì vậy, chính sách tín dụng có liên quan chặt chẽ tới chính sách nguồn vốn và chính sách hạn chế lạm phát của mỗi quốc gia. Chương III : THựC TRạNG hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam hiện nay 3.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động tín dụng ở Việt Nam hiện nay. Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng được hoàn thiện, đầy đủ, rõ ràng chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế hơn. NHNN đã chỉnh sửa, bổ sung, ban hành mới một loạt quyết định, thông tư phù hợp với cơ chế hiện nay; những vướng mắc, sơ hở, chồng chéo của cơ chế cũ đã được tháo gỡ, bãi bỏ làm cho hoạt động tín dụng được thuận lợi hơn, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức tín dụng. Những văn bản pháp lý quan trọng được tập trung ban hành trong thời gian qua bao gồm: Các văn bản quy phạm pháp luật về biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng như: Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ "về đảm bảo tiền vay của TCTD"; Quyết định số 266/2000 của NHNN, ngày 18/8/2000 về việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với NHTM cổ phần, công ty tài chính cổ phần và ngân hàng liên doanh; Quyết định số 283/2000 ngày 25/8/2000 Của NHNN, ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng; Thông tư số 06/2000 ngày 4/4/2000 và Thông tư số 10/2000 ngày 31/8/2000 của NHNN, hướng dẫn thực hiện bảo đảm tiền vay của TCTD... Về xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng thì có Thông tư liên tịch số 03/2001/ TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC được ban hành ngày 23/04/2001 hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho các TCTD. Về một số hoạt động khác của tín dụng thì có Quyết định số 67/1999/QĐ- TTg được Chính phủ ban hành ngày 30/3/1999 về "Một số chính sách tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn"; NHNN ban hành Quyết định số 428/2000 ngày 22/9/2000 về chính sách tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại; Ngày 29/6/1999 Chính phủ đã ra Nghị định 43/1999/NĐ-CP "về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước"; Quyết định số 48/1999/QĐ-NHNN5 về việc phân loại tài sản Có, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng được Thống đốc NHNN ban hành ngày 8/2/1999; Quyết định số 418/2000 ngày 21/9/2000 về đối tượng cho vay bằng ngoại tệ... Một số văn bản chung quan trọng khác như: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do Quốc hội ban hành quy định về Ngân hàng Nhà nước; Luật các tổ chức tín dụng của Quốc hội ban hành được chủ tịch nước công bố ngày 26/12/1997, luật này quy định về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng... Từ các văn bản quy phạm pháp luật chung, mỗi ngân hàng lại tự ban hành cho mình những văn bản cụ thể riêng để điều hành, quản lý hoạt động của mình. Ví dụ như NHNO&PTNT VN có một số văn bản sau: Quyết định số 180/QĐ/HĐQT về việc ban hành quy định cho vay đối với khách hàng và có Quy định cho vay đối với khách hàng ban hành kèm theo quyết định này; Hướng dẫn thẩm định, tái thẩm định các điều kiện vay vốn của doanh nghiệp; Hướng dẫn nội dung thẩm định cho vay đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác... Với các văn bản về cơ chế, chính sách nói trên, ngoài ra còn có thêm nhiều văn bản pháp luật về các vấn đề liên quan cũng được bổ sung và sửa đổi khiến cho hoạt động tín dụng đã được phát triển lành mạnh và an toàn hơn. Tạo điều kiện cho các NHTM mạnh dạn hơn trong hoạt động cho vay góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế. 3.2 Cơ chế hoạt động tín dụng của cácNHTM hiện nay. Quá trình đổi mới hoạt động Ngân hàng đã trải qua hơn 10 năm (1987 đến nay ) nhìn nhận một cách tổng quát thì sự sôi động cũng như thăng trầm nhất phải là hoạt động tín dụng Ngân hàng. Theo đó cơ chế tín dụng Ngân hàng cũng không ngừng đổi mới, hoàn thiện, bổ sung đáp ứng theo yêu cầu thực tiễn vận động của nền kinh tế đang chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên qua thực tế kiểm tra chất lượng tín dụng của các Ngân hàng thì vẫn là khâu yếu nhất, trong đó nguyên nhân của sự yếu kém có rất nhiều có rất nhiếu nhưng không thể không nói đến một nguyên nhân khách quan là cơ chế chính sách chưa kịp với sự vận động của thực tế. Vì vậy việc thay thế các cơ chế tín dụng của của Việt nam hiện nay đã ban hành trong thời gian qua là tất yếu khách quan đặc biệt là khi một số luật mới về Ngân hàng vừa được Quốc hội thông qua càng thấy rõ hơn những yêu cầu của việc đổi mới cơ chế tín dụng nhằm đi đến hiệu quả kinh tế ngày càng cao hơn. Nếu nhìn lại hoạt động của Ngân hàng trong những năm qua ta có thể chia thành hai giai đoạn chính sau. 1.Giai đoạn đầu từ năm 1987 đến tháng 10/1990 trước khi hai pháp lệnh Ngân hàng có hiệu lực. Giai đoạn này tín dụng được mở ra ào ạt, cơ chế cho vay lúc bấy giờ cũng dễ dãi nhất, không cần tài sản thế chấp chỉ cần có đơn xin vay và nội dung kinh tế khoản vay là có thể chấp nhận được vốn vay và cuối cùng thì hậu quả của nó cũng phải đến, năm 1988 -> đầu năm 1990 hàng loạt hợp tác xã tín dụng, Ngân hàng bị đổ vỡ, hoạt động tín dụng lại phải được chấn chỉnh bằng những đợt tổng thanh tra, kiểm tra, xử lý những tồn tại của giai đoạn này để tiếp tục phát triển. 2. Giai đoạn hai từ tháng 10/1990 đến nay. Giai đoạn này thực hiện hai pháp lệnh Ngân hàng, các cơ chế chính sách cho hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động Ngân hàng nói riêng đã được hình thành khá đồng bộ ở khung pháp lý. Xét về cơ chế tín dụng cũng là thời kì thường xuyên được cập nhập, bổ xung chỉnh sửa nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn cho sự phát triển của thị trường tiền tệ cũng chính là đáp ứng nhu cầu vốn cao cho tăng trưởng kinh tế. Có thể điểm lại các cơ chế tín dụng được ban hành, bổ xung dưới hai giác độ: a)Xét về giác độ huy động vốn Đã xác định khung pháp lý khá quan trọng như cơ chế huy động vốn bằng kì phiếu, trái phiếu của ( Cơ chế huy động vốn tiết kiệm xây dựng nhà ở, cơ chế huy động đảm bảo bằng vàng, các quy định về giới hạn an toàn trong huy động vốn của các tổ chức tín dụng). Các quy định, cơ chế này làm cho hình thức vốn vào Ngân hàng ngày càng phong phú, đa dạng, tốc độ huy động tăng bình quân trong 7 năm vào khoảng 30%/năm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn trong nền kinh tế. Nhưng nó lại chưa tạo ra được cơ cấu nguồn vốn hợp lý giữa vốn ngắn hạn và trung hạn, vì vậy mà cũng dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt khi sử dụng vốn, có lúc thừa thiếu, vốn giả tạo dẫn đến nguy cơ rủi ro về nợ quá hạn và khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng. b)Xét về cơ chế cho vay Pháp lệnh tập trung vào thể lệ tín dụng ngắn hạn, thể lệ tín dụng trung hạn và dài hạn thông qua quyết định 04/NH – QD ngày 8/01/1991 và quyết định 23/NH - QD ngày 03/03/1991, thể lệ tín dụng đầu tư xây dựng cơ bản trong kế hoach Nhà nước ( quyêt định 77/ NH- QD) ngày 13/06/1991, thông tư 01/ TT- NH ngày 23/03/1993 hướng dẫn nghị định 14/CP của chính phủ về cho vay đối với cán bộ sản xuất và cá thể. Đầu năm 1994 - đến những năm gần đây trước yêu cầu về vốn cũng như các bộ luật khác đã được ban hành hàng loạt các thể lệ tín dụng đã được thay thế khi không còn phù hợp nữa, đã có các văn bản chỉnh sửa và bổ sung một số điều khoản tại hai thể lệ tín dụng là một cơ chế về tổ chức phòng ngừa rủi ro và trích lập quỹ bù đắp rủi ro cũng đã ra đời. Thống đốc NHNN đã ký quyết định số 284/2000/QD – NHNN ngày 25/8/2000 ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 15/9/2000 và thay thế Quyết định số 324/1998/QD – NHNN1, ngày 30/9/1998. Điều chỉnh việc cho vay bằng VNĐ và bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh dịch vụ, các pháp nhân, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp doanh. Nguyên tắc vay vốn không có điều gì khác so với quy chế trước đây, vẫn là 3 nguyên tắc: sử dụng vốn vay đúng mục đích thoả thuận, hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, và việc đảm bảo tiền vay dúng quy định pháp luật. Điều kiện vay vốn: khách hàng có năng lực dân sự , năng lực hành vi dân sự . Khách hàng có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp. Có các phương án sản xuất, kinh doanh, phục vụ đời sống khả thi. Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay. Thời hạn cho vay: cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn. Lãi suất cho vay đươc thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng phù hợp với quy định của NHNN về lãi xuất cho vay vào thời điểm kí hợp đồng tín dụng. Tổ chức tín dụng căn cứ vào nhu cầu vay vốn tài sản đảm bảo, khả năng trả nợ của khách hàng và khả năng nguồn vốn của mình mà quyết định mức cho vay của mình. Song phải đảm bảo: tổng dư nợ cho vay đối với khách hàng không quá 15% vốn tự có tổ chức tín dụng ( trừ trường hợp khoản cho vay là nguồn vốn uỷ thác của chính phủ, của tổ chức, cá nhân). Tổng dư nợ cho vay đối với các đối tượng mà tổ chức tín dụng chỉ được cho vay hạn chế không được vượt qua 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Phương thức cho vay: Cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo mức hạn tín dụng dự phòng, cho vay thông qua việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Các tổ chức được phép hoạt động ngoại hối được cho khách hàng là người cư trú vay bằng ngoại tệ theo quy định của chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước về quản lý ngoại hối cho vay bằng ngoại tệ nào thì thu nợ ( gốc và lãi) bằng ngoai tệ đấy. ở giai đoạn này hoạt dộng tín dụng cũng đã phát triển khá sôi nổi đem lại những hiệu quả khá to lớn vào sự phát triển chung của nền kinh tế . Tuy nhiên còn nảy sinh nhiều vụ đổ bể doanh nghiệp đã đưa đến những khoản nợ quá hạn lớn, một số lâm vào tình trạng khó khăn và một đợt tổng chấn chỉnh củng cố sắp xếp lại được đặt ra khẩn trương hơn. Như vây thông qua hai giai đoạn, có lúc thăng, lúc trầm của hoạt động tín dụng Ngân hàng trong đó có vai trò của cơ chế tín dụng Ngân hàng, nhưng ngược lại nó cũng là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của tín dụng Ngân hàng thậm trí nếu hiểu thiên lệch thì cơ chế tín dụng lại có thể gây ra hậu quả cho tín dụng Ngân hàng. 3.3 Những thuận lợi cho hoạt động tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay. Trong những năm qua, bối cảnh kinh tế nước ta xuất hiện nhiều yếu tố thuận lợi cho việc phát triển hoạt động tín dụng. Nền kinh tế nước ta tăng trưởng khá, tiêu biểu là hoạt động xuất nhập khẩu, có nguyên nhân quan trọng từ các giải pháp tiền tệ tín dụng; đồng thời đó cũng là tiền đề cho tăng trưởng tín dụng an toàn. Đặc biệt tăng trưởng cao về kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng rau quả, thuỷ sản, hạt điều...đây là thuận lợi cho vốn tín dụng của các NHTM đầu tư trong các khâu sản xuất như thuê mua, chế biến, xuất khẩu... Các ngành trước đây hoạt động thua lỗ, nợ đọng vốn với ngân hàng lớn như xi măng, mía đường,...thì nay giá bán đã cải thiện, tình hình khả quan hơn, tiền vốn vay và lãi treo đã thu hồi được. Sự phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển tín dụng, mở rộng tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng. Môi trường vĩ mô cho hoạt động tín dụng ngân hàng dần dần đi vào ổn định, rõ ràng và an toàn hơn, thể hiện các đối tượng khách hàng sau: - Các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại. Một số doanh nghiệp được cổ phần hoá và nhiều doanh nghiệp đã khẳng định được hiệu quả của mình. - Luật doanh nghiệp mới ban hành có hiệu lực thi hành từ 1/1/2000. Theo số liệu của Bộ kế hoạch và đầu tư, tính đến hết tháng 11/2000 trong cả nước đã có trên 12000 doanh nghiệp với đủ các loại hình được thành lập mới với tổng số vốn đăng ký trên 10000 tỷ đồng. Do đó tư cách pháp lý, số vốn tự có thực sự... của doanh nghiệp được khẳng định. - Các hộ gia đình ở nông thôn đang định hình rõ nét: hộ làm ngành nghề, hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ, hộ có trang trại, hộ nuôi trồng thuỷ sản... Ngành chức năng đã ban hành tiêu chí cụ thể xếp loại trang trại, từ đó có các quy chế cụ thể về hoạt động tín dụng thực hiện đối với họ. 3.4Những khó khăn * Về mặt khách quan Môi trường kinh doanh của ngành ngân hàng nói chung và của NHTM nói riêng chưa ổn định. Các chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô về kinh tế của Nhà nước đang trong quá trình đổi mới và hoàn thiện nên thường xuyên có sự điều chỉnh, sửa đổi, dự báo thị trường không chính xác dẫn đến sản xuất tràn lan, nhiều doanh nghiệp không theo kịp với sự thay đổi của các chính sách kế hoạch... Việc ban hành chủ trương chính sách của Đảng do không dự đoán trước được những khó khăn trong quá trình thực hiện vốn đã gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và hậu quả là ngân hàng cho vay phải gánh chịu hậu quả. Năng lực tài chính của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém. Khả năng về vốn của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Các doanh nghiệp Nhà nước chỉ có 5 á 10 vốn để hoạt động còn lại là vay của ngân hàng tới 90 á 95% để sản xuất, doanh nghiệp ngoài quốc doanh vay ngân hàng từ 70 á 80% vốn. Trong khi đó trình độ quản lý vốn thấp, công nghệ lạc hậu dẫn đến làm ăn kém hiệu quả. Đây chính là gánh nặng trong môi trường đầu tư của ngân hàng. Ngoài ra, môi trường pháp lý cho kinh doanh tín dụng ngân hàng chưa đầy đủ. Hiện nay, chưa có luật sở hữu, chủ trương cho vay phải có thế chấp vẫn chưa được thực hiện triệt để do vậy công tác này vẫn còn nhiều ách tắc. Tín dụng thương mại đang trở nên phổ biến trong giao dịch thương mại nhưng chưa có các chế định về lưu thông kỳ phiếu thương mại nên xảy ra tình trạng chiếm dụng vốn, công nợ dây dưa, sử dụng sai vốn vay của ngân hàng, gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong việc kiểm soát. * Về mặt chủ quan Tín dụng tuy là hoạt động chủ yếu, truyền thống và mang lại lợi nhuận cơ bản cho các NHTM; nhưng tín dụng lại là lĩnh vực nhiều rủi ro và bất trắc do ngân hàng ở vào thế bị động sau khi cấp tín dụng cho khách hàng. Biện pháp để phân tán bớt rủi ro, nâng cao lợi nhuận cho các NHTM là đa dạng hoá nghiệp vụ và dịch vụ. Trong thực tế thì các nghiệp vụ và dịch vụ của NHTM còn quá hạn chế về cả số lượng và chất lượng. Vì vậy cho nên rủi ro của hoạt động tín dụng rất cao. Nhìn từ khía cạnh là trung tâm cung ứng vốn cho nền kinh tế mà cụ thể là các doanh nghiệp thì phương thức cấp tín dụng của các NHTM có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu kinh doanh của các doanh nghiệp. Hiện nay, các loại cho vay của NHTM còn quá nghèo nàn, hầu như chỉ bán những gì mà ngân hàng có mà không thật sự quan tâm đến cái mà khách hàng cần. Trong khi các NHTM thiết kế công phu các thể lệ huy động vốn bao nhiêu thì sản phẩm đầu ra lại đơn điệu bấy nhiêu. Các ngân hàng huy động loại nào thì cho vay loại đó. Nhiều ngân hàng thường định kỳ hạn nợ vào trước kỳ quyết toán niên độ để đạt được các chỉ tiêu về thu nợ, thu lãi cho mình mà không quân tâm đến đặc điểm yêu cầu tài chính của khách hàng. Như vậy bài toán đặt ra là tiền vay tiền cho vay của ngân hàng phải được thiết kế ra sao để phù hợp với chu chuyển của đối tượng cho vay là vấn đề cốt lõi chứ không phải chỉ bán ra theo nhu cầu của chính ngân hàng. Mặc dù đã thiết kế được hai phương thức cho vay khá khoa học nhưng các NHTM thường ít áp dụng phương thức cho vay luân chuyển mà chỉ cho vay theo từng món độc lập xuất phát từ việc các ngân hàng quá cân nhắc về đảm bảo tiền vay nên mỗi lần cho vay thường làm thủ tục khá tốn thời gian, vì thế vốn tín dụng thường không tiếp cận kịp thời đối tượng cho vay. Việc cho vay của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào quy mô hay cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng mà phải dựa trên sức mua của khách hàng nhất là phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của đối tượng cho vay, đặc điểm tài chính của bên vay. Trong thực tế hiện nay, các khách hàng hầu như ít có cơ hội lựa chọn, nhiều khách hàng cần vốn dài hạn nhưng bắt buộc phải vay vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn gây nên tình trạng lúng túng về tài chính kể cả việc phải lo đảo nợ khi đến hạn. Đây là điều bất cập mà ngay chính ngân hàng cũnh lúng túng khi khách hàng đáo hạn phải dàn xếp cho khách hàng gia hạn. Hiện tượng cạnh tranh giữa các NHTM ở nước ta hiện nay là một vấn đề gây khó khăn cho các NHTM. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế vừa là quy luật tất yếu, vừa là động lực của sự phát triển. Hoạt động của NHTM cũng không nằm ngoài quy luật trên. Tuy nhiên sự cạnh tranh giữa các NHTM nước ta hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực, đang bộc nộ một số tồn tại đáng lo ngại. Để cạnh tranh với nhau các NHTM hạ lãi suất cho vay theo kiểu phá giá, có NHTM hạ lãi suất cho vay xuống thấp hơn mức lãi suất cơ bản, thậm chí còn thấp hơn cả mức lãi suất cho vay người nghèo. Việc hạ lãi suất này gây khó khăn cho các NHTM đang có môi trường kém thuận lợi hơn, như NHN0&PTNTVN. Việc các NHTM nới lỏng điều kiện vay vốn trong quy trình cho vay như quy trình thẩm định cho vay, đảm bảo tiền vay, đã dẫn tới hậu quả là nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện vay vốn nhưng vẫn được ngân hàng cho vay. Mặt khác trong quá trình giám sát vốn vay nếu ngân hàng yêu cầu khách hàng báo cáo theo các thông tin đã quy định thì bị coi là thủ tục, phiền hà. Thực trạng này tất yếu dẫn đến rủi ro tín dụng khó lường. Nói cách khác các NHTM đang tìm cách để lôi kéơ khách hàng lớn về phía mình mà không tính đến năng lực tài chính và hiệu quả của phương án vay vốn. Tình trạng rủi ro mất mát tín dụng lớn. Rủi ro này xuất phát từ việc người đi vay không còn khả năng trả nợ, lãi hoặc vốn, hoặc cả vốn và lãi. nuyên do của sự việc nàythường là doanh nghiệp vay nợ rơi vào tình trạng phá sản. nếu các doanh nghiệp vay nợ lớn có nguy cơ phá sản tăng lên đến mức khiến cho phần lớn tổng mức cho vay của ngân hàng không thể thu hồi được thi có thể dẫn đến nguy cơ phá sản của chính bản thân ngân hàng. Lúc đó vốn của ngân hàng đã bị tiêu hao do mất mát tín dụng, không còn đủ để bù đắp cho việc xoá nợ và ngân hàng không còn khả năng chi trả cho người gửi tiền. Nợ xấu cũng là một rủi ro troing kinh doanh tín dụng của các NHTM. Nợ xấu là biểu hiện không bình thường của nền kinh tế trong nhiều năm qua được phản ánh trong hệ thống các NHTM. Theo số liệu do Ngân hàng Nhà nước công bố, tính đến đầu năm 2001, kết quả phân tích đánh giá của Ngân hàng Nhà nước đối với nợ xấu của các NHTM trên địa bàn toàn quốc là 15 nghàn tỉ VNĐ (tương đương với 1 tỉ USD). Cũng theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ có chiều hướng giảm nhưng giá trị tuyệt đối lại tăng. Tiến độ xử lý các khoản nợ xấu có liên quan đến những vụ án và việc phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ phát sinh từ những năm trước, mặc đù đã được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ nhưng kết quả là chậm so với yêu cầc đặt ra. Tính đến tháng 5/2001, trị số tuyệt đối các khoản nợ xấu tăng lên khoảng 200 tỉ VNĐ. Thời gian qua, công tác quản lí tín dụng

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLVV460.doc
Tài liệu liên quan