Đề tài Giải pháp phát triển thương hiệu của hệ thống siêu thị Co.op mart tại thị trường Hà Nội

Thu thập các báo cáo, thống kê của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tổ chức chuyên ngành và của hệ thống siêu thị Co.op mart về nội dung liên quan trực tiếp đến đề tài và thu thập thông tin trên Internet, sách, báo, luận văn, chuyên đề về vấn đề quảng bá hay thương hiệu, chính sách pháp luật của nhà nước về quảng bá, tài liệu về tình hình sản xuất kinh doanh của siêu thị, các kế hoạch quảng bá trong marketing của siêu thị Co.op mart.

doc65 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 21/08/2013 | Lượt xem: 4304 | Lượt tải: 67download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giải pháp phát triển thương hiệu của hệ thống siêu thị Co.op mart tại thị trường Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hể dùng các biện pháp Marketing trực tiếp, quảng cáo hay tất cả các phương tiện truyền thông khác để thông tin về những thay đổi trong các điều kiện mua sản phẩm. d. Quan hệ công chúng (PR) Quan hệ công chúng (PR) thường được hiểu là một hệ thống các nguyên tắc và các hoạt động có liên quan một cách hữu cơ nhất quán nhằm tạo dựng một hình ảnh, một ấn tượng, một quan niệm, nhận định hoặc một số sự tin cậy nào đó. PR đã được ứng dụng rất rộng rãi trong thực tiễn, các hoạt động xã hội như tuyên truyền chính sách của nhà nước, các hoạt động văn hóa cộng đồng. PR là một trong những công cụ quan trọng trong tiếp thị và phát triển thương hiệu, nhằm trực tiếp vào khách hàng mục tiêu không chỉ là khách hàng tiềm năng mà còn nhằm khai thác quan hệ với các tổ chức xã hội, giới truyền thông, chính quyền , tài chính, địa phương, người trung gian, nhà phân phối, nhà cung cấp, cộng đồng......để tạo điều kiện phổ biến thương hiệu. Chính vì vậy chức năng của quan hệ công chúng không phục thuộc vào phòng tiếp thị mà thường nó chịu sự điều hành trực tiếp của ban quản trị cấp cao trong công ty. Ngày nay, rất nhiều công ty đang nỗ lực chuyển một phần kinh phí cho quảng cáo và khuyến mại sang quan hệ công chúng vì nó đạt ít tốn kém, đối tượng cụ thể và đáng tin cậy. Các lĩnh vực hoạt động của PR gồm có: Tư vấn chiến lược với lãnh đạo công ty Quan hệ với báo chí: tổ chức họp báo, soạn thảo thông cáo báo chí, thu xếp các buổi phỏng vấn,… Tổ chức các sự kiện: khai trương, động thổ, khánh thành,… Đối phó với các rủi ro hoặc các lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm của doanh nghiệp Các hoạt động tài trợ cộng đồng Các hoạt động phi thương mại trực tiếp tiếp xúc với khách hang Các hoạt động PR đối nội Tư vấn cho các yếu nhân trong vấn đề giao tế, phát ngôn e. Marketing trực tiếp. Marketing trực tiếp là một hệ thống tương tác của marketing có sử dụng một hay nhiều phương tiện quảng cáo để tác động đến một phản ứng đáp lại đo lường được và giao dịch tại bất kỳ địa điểm nào. Những công cụ chủ yếu của marketing trực tiếp là: Marketing bằng catalogue qua bưu điện tiếp cận khách hàng triển vọng. Marketing bằng thư trực tiếp: thư trào hàng, băng ghi âm, ghi hình và cả đĩa mềm quảng cáo, hướng dẫn sử dụng (thoả mãn có chọn lọc thị trường mục tiêu). Marketing qua điện thoại: có hệ thống máy quay số tự động phát thông điệp đã ghi hay chuyển cho tổng đài để giải đáp (có số điện thoại miễn phí cho khách hàng đặt mua hàng, lập danh sách người mua để theo dõi, phục vụ các khách hàng ở xa). Marketing đáp ứng trực tiếp trên tivi, radio, tạp chí, báo chí: có kênh truyền hình riêng để giới thiệu sản phẩm, bán hàng và dịch vụ cho tất các loại sản phẩm. Mua hàng qua hệ thống điện tử: videotex, mạng máy thu hình có bàn phím của khách hàng và ngân hàng dữ liệu của người bán qua computer có modern 2.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu của những công trình năm trước về phát triển quảng bá thương hiệu tại điểm bán. Công trình nghiên cứu về phát triển quảng bá thương hiệu tại điểm bán của siêu thị Co.op mart tại thị trường Hà Nội. Siêu thị Co.op mart Hà Nội là siêu thị mới thành lập từ tháng 4 năm 2010, vì vậy vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu nào về thương hiệu cũng như phát triển quảng bá thương hiệu tại điểm bán về siêu thị. Là sinh viên đại học Thương Mại, nhóm sinh viên là nhóm đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này. Công trình nghiên cứu về phát triển quảng bá thương hiệu tại điểm bán khác. Công trình nghiên cứu thuộc trường Đại học Thương Mại. Về chương trình phát triển quảng bá thương hiệu tại điểm bán thì hiện nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này chỉ có một vài đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thương hiệu như: + Luận văn tốt nghiệp:” Phát triển quảng bá thương hiệu sản phẩm Viorigin Vodka của công ty cổ phần đồ uống Origin Việt Nam”.Nguyễn Thị Hạnh. + Luận văn tốt nghiệp:” Giải pháp Marketing nhằm xây dựng và phát triển thương hiệu Hapro của tổng công ty thương mại Hà Nội “. Nguyễn Thị Thu Huyền-2006. + Luận văn tốt nghiệp:” Giải pháp phát triển thương hiệu sản phẩm của công ty cổ phần công nghiệp E Nhất “ Đỗ Thanh Tâm-2006. + Luận văn tốt nghiệp:” Giải pháp Marketing –Mix nhằm phát triển thương hiệu Bảo Việt của tổng công ty bảo hiểm Việt Nam” Lê Thu Hà – 2005. Các luận văn, luận án khác: + Xây dựng và phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Nội. Luận văn thạc sỹ kinh tế chuyên ngành Thương Mại: Lương Anh Ngọc - 2006. + Một số giải pháp Marketing để xây dựng và phát triển tại công ty may Thanh Bình: Luận văn tốt nghiệp: Nguyễn Hoàng Sơn- 2005. CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU 3.1. Phương pháp nghiên cứu 3.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu a. Thu thập thông tin thứ cấp Thu thập các báo cáo, thống kê của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tổ chức chuyên ngành và của hệ thống siêu thị Co.op mart về nội dung liên quan trực tiếp đến đề tài và thu thập thông tin trên Internet, sách, báo, luận văn, chuyên đề về vấn đề quảng bá hay thương hiệu, chính sách pháp luật của nhà nước về quảng bá, tài liệu về tình hình sản xuất kinh doanh của siêu thị, các kế hoạch quảng bá trong marketing của siêu thị Co.op mart. b. Thu thập thông tin sơ cấp Phỏng vấn chuyên sâu và quán sát: tiến hành phỏng vấn chuyên sâu các nhân viên trong siêu thị trong các gian hàng khác nhau về vấn đề cấp thiết đang đặt ra cho siêu thị thông qua danh mục các câu hỏi phỏng vấn. Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng tiến hành đi khảo sát thực tế tại siêu thị và tiếp xúc, phỏng vấn trực tiếp với các khách hàng của siêu thị về chất lượng cũng như những vấn đề về thương hiệu sản phẩm như: + Quý khách biết đến siêu thị qua hình thức nào? + Nếu được khuyến mại thì quý khách thích được khuyến mại bằng hình thức nào? + Những hình thức quảng bá nào của siêu thị thu hút được sự chú ý của khách hàng? + Cảm nhận của quí khách về thái độ phục vụ của nhân viên trong siêu thị?... Điều tra bằng câu hỏi: trên cơ sở các thông tin đã thu thập được qua các câu hỏi định tính, phát hiện ra vấn đề cấp thiết đối với siêu thị, đó là vấn đề về quảng bá thương hiệu tại điểm bán, nhóm nghiên cứu tiến hành bảng câu hỏi điều tra phỏng vấn các nhân viên trong siêu thị để thu thập các thông tin định lượng cần thiết, Việc xây dựng bảng câu hỏi và điều tra hỗ trợ trực tiếp trong phân tích tình hình và phát triển quảng bá thương hiệu tại điểm của siêu thị một cách hiệu quả. Quy mô mẫu điều tra: 40 phiếu Thiết kế mẫu phiếu điều tra (phụ lục 1): Phiếu điều tra được thiết kế rõ ràng, dễ hiểu, dễ phỏng vấn. Phiếu điều tra được thiết kế bằng các câu hỏi với ngôn ngữ phổ thông, ít sử dụng các thuật ngữ chuyên môn, do đó các thành viên dễ dàng hiểu đúng nội dung chỉ tiêu điều tra. Phiếu điều tra sử dụng ba loại câu hỏi: câu hỏi đóng là câu hỏi có các câu trả lời đã được mã hóa sẵn; câu hỏi mở là câu hỏi không có câu trả lời trước và loại câu hỏi vừa đóng vừa mở. Công tác điều tra tại địa bàn: Mỗi thành viên được giao một khu vực và tiến hành điều tra bắt đầu từ ngày 17/02/2010. Mỗi thành viên phải đưa tận tay phiếu điều tra cho các đối tượng. 3.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu a. Phương pháp phân tích dữ liệu sơ cấp - Phương pháp tổng hợp dữ liệu: sử dụng những dữ liệu thu thập được trong quá trình phỏng vấn. Từ những kết quả thu thập được nhóm nghiên cứu tiến hành tổng hợp để có thể nhận xét, đánh giá và đi đến những kết luận đúng đắn về bản chất sự việc. - Xử lý dữ liệu: Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các kỹ năng tiếp cận tổng hợp, tập hợp các dữ liệu thu thập được và xử lý trên phần mềm Exel. b. Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp - Phương pháp so sánh: được sử dụng chủ yếu trong việc nghiên cứu tài liệu: nhóm nghiên cứu thực hiện so sánh giữa các đề tài về khái niệm và cách hiểu về quảng bá, thương hiệu…Từ đó nếu có thấy sự khác nhau thì so sánh để quyết định cách tiếp cận nào phù hợp với vấn đề cần nghiên cứu nhất và đi đến hệ thống lý luận hợp lý nhất làm nền tảng cho hoạt động nghiên cứu của nhóm. - Phương pháp tổng hợp dữ liệu: từ những dữ liệu thứ cấp thu thập được từ các nguồn khác nhau, nhóm nghiên cứu tiến hành tổng hợp lại để đi đến có thể đi đến những kết luận đúng đắn về vấn đề nghiên cứu để đưa ra kết luận và cách giải quyết vấn đề nghiên cứu để không bị đưa ra kết luận và cách giải quyết vấn đề phiến diện từ một nguồn cung cấp nào 3.2. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến vấn đề nghiên cứu 3.2.1. Tổng quan về liên hiệp Hợp Tác Xã TP.HCM ( Saigon Co.op) a. Quá trình hình thành và phát triển của Saigon Co.op và hệ thống siêu thị Co.op Mart Sau đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế đất nước chuyển từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Trong bối cảnh mô hình kinh tế HTX kiểu cũ không còn phù hợp, ngày 12/5/1989 UBND Thành phố Hồ Chí Minh có chủ trương chuyển đổi Ban Quản lý HTX Mua Bán Thành phố trở thành Liên hiệp HTX Mua bán Thành phố Hồ Chí Minh – Saigon Co.op với 2 chức năng trực tiếp kinh doanh và tổ chức vận động phong trào HTX. Đặc biệt vào ngày 09/02/1996 khai trương Siêu thị đầu tiên của hệ thống Co.opMart là Co.opMart Cống Quỳnh là một sự kiện nổi bật của Saigon Co.op. Từ đây các Siêu thị Co.opMart lần lượt ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng : hình thành chuỗi Siêu thị mang thương hiệu Co.op Mart và tính đến nay hệ thống Co.opMart đã có 50 siêu thị trên khắp cả nước. Trong quá trình phát triển của mình Co.op mart đã đạt được không ít các thành tựu đáng ghi nhận như: Tháng 8/2000 : Nhận danh hiệu Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới Tháng 05/2002 : Saigon Co.op vinh dự nhận Huân chương Lao động hạng Nhất Năm 02/2004 : Saigon Co.op nhận chứng chỉ ISO 9001-2000…. Đồng thời trong 7 năm liên tiếp Co.op mart giữ vững vị trí nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam và nằm trong Top 500 nhà bán lẻ hàng đầu châu Á- Thái Bình Dương theo Tạp chí bán lẻ Châu Á (Retail Asia) b. Tình hình hoạt động kinh doanh Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của hệ thống Co.op Mart là hoạt động thương mại bán lẻ với hệ thống rộng khắp và đa dạng. Co.op Mart kinh doanh gần 30.000 mặt hàng, bao gồm: thực phẩm công nghệ, tươi sống, chế biến nấu chín, thực phẩm đông lạnh; hóa mỹ phẩm, đồ dùng gia đình; may mặc thời trang; điện gia dụng và nhiều mặt hàng phong phú khác phục vụ người tiêu dùng. Hệ thống siêu thị Co.opMart đang phát triển không ngừng về số lượng lẫn chất lượng phục vụ. Ngoài việc kinh doanh và phục vụ khách hàng tại những điểm cố định, hệ thống Co.opMart liên tục tổ chức những hoạt động bán hàng tại những khu vực vùng sâu, vùng xa..., góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Từ cửa hàng chuyên doanh thực phẩm Co.op Food đầu tiên ra đời vào năm 2008, trong năm 2009 và 2010 mô hình cửa hàng Co.op Food tiếp tục được nhân rộng trên toàn địa bàn TP HCM và trên khắp các tỉnh thành trong cả nước đây là một loại hình mới của siêu thị và rất được người tiêu dùng quan tâm. Năm 2010, lần đầu tiên, đơn vị này đã hoàn thành mục tiêu khai trương 10 siêu thị Coop Mart mới, nâng tổng số siêu thị hiện có lên 50, doanh thu tăng trưởng gần 40% và lợi nhuận tăng 32,7% so với năm 2009. Dự kiến trong năm 2011 đơn vị sẽ mở thêm 10 siêu thị Coop Mart và 30 cửa hàng Coop Food và đạt mốc 150 siêu thị trong năm 2015. Nổi bật trong hoạt động thương mại bán lẻ là việc hưởng ứng tích cực của Saigon Co.op đối với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Cao điểm của cuộc vận động là tháng khuyến mãi “Tự hào hàng Việt” với sự tham gia của những nhà cung cấp nội địa đã góp phần nâng cao uy tín và gia tăng sức mua của các mặt hàng sản xuất tại Việt Nam. Với tỷ trọng chiếm đến 90% số lượng mặt hàng, chiếm 95% doanh thu trong hệ thống, hàng Việt đang ngày càng chiếm ưu thế tại chuỗi siêu thị Co.opMart, Co.op Food và cửa hàng Co.op. Ngoài các hình thức bán lẻ đang có Co.op mart còn đưa ra thêm 3 mô hình mới: chợ kết hợp siêu thị, Co-opmart ở chung cư, nhân rộng cửa hàng Co-opmart đang có lên vài trăm điểm theo phương thức nhượng quyền thương mại cho các hộ kinh doanh cá thể. Đối với hệ thống Coop Food sẽ tập trung tại khu vực nội thành và các khu chế xuất, khu công nghiệp. Mục tiêu tăng trưởng của Saigon Coop trong năm 2011 là 35% so với cùng kỳ năm trước . Riêng với hình thức Franchise cửa hàng, điều kiện của Co-opmart là cửa hàng phải có diện tích khoảng 50 - 300m2, Sài Gòn Co-op chuẩn hoá các thiết kế, cách trưng bày, dịch vụ bán hàng... cung cấp cho người được nhận quyền kinh doanh. Đồng thời, chịu trách nhiệm cung cấp hàng hoá và bảo đảm nguồn hàng. Khu vực trên lầu siêu thị Co-opmart trước đây không khai thác hiệu quả, sẽ chuyển thành siêu thị bách hoá, bán hàng theo hình thức tự chọn. Doanh nghiệp cũng đã mạnh dạn phát triển hình thức kinh doanh theo hướng trung tâm thương mại kết hợp nhiều loại hình mua sắm, giải trí hiện đại, đây cũng là một nét mới nhằm mang đến cho khách hàng thêm nhiều loại hình mua sắm, vui chơi, thư giãn. Ngoài ra, với chiến lược đa dạng hóa loại hình kinh doanh, Saigon Co.op còn đầu tư vào những lĩnh vực khác như: kinh doanh bất động sản thương mại, xuất nhập khẩu - phân phối, sản xuất, liên doanh liên kết ... Bên cạnh kinh doanh, Saigon Co.op còn đặc biệt chú trọng đến cộng đồng xã hội qua các chuyến bán hàng phục vụ người nghèo, hiến máu nhân đạo, tham gia bảo vệ môi trường… c. Sơ lược về Sài Gòn Co.op Mart tại thị trường Hà Nội Ngày 28/04/2010 siêu thị Co.op mart chính thức gia nhập thị trường bán lẻ miền bắc với tên Sài Gòn Co.op mart tại km10 – Nguyễn Trãi – Hà Đông – Hà Nội. Đây là sự kiện đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự phát triển của Co.opMart. Có vốn đầu tư 74 tỷ đồng, được xây dựng cấu trúc 1 trệt 2 lầu với diện tích 7.500m2, Co.opMart Sài Gòn kinh doanh trên 20.000 mặt hàng, trong đó 90% là hàng sản xuất tại Việt Nam thuộc các ngành hàng thực phẩm công nghệ, đông lạnh; thực phẩm tươi sống, chế biến nấu chín; hóa mỹ phẩm; thời trang dệt may; đồ dùng gia đình, hàng gia dụng... Bên cạnh đó, Co.opMart còn có các khu ẩm thực, quầy thức ăn nhanh, nhà sách, khu bán hàng thời trang cao cấp, khu vui chơi giải trí... Với bề dày lịch sử và các thành tích đã đạt được của Liên hiệp HTX Thương Mại Thành phố Hồ Chí Minh ( Sai Gon Co.op ) là tiền đề thuận lợi tạo điều kiện cho Sai Gon Co.op mart có thể phát triển tại thị trường Hà Nội Bên cạnh nhwuxng thuận lợi thì Co.op mart vẫn đang gặp những khó khăn hiện tại mà đặc biệt là khi thâm nhập vào một thị trường mới và khắt khe như thị trường Hà Nội. - Khó khăn đầu tiên phải kể đến của Co.op mart là tìm kiếm mặt bằng cho siêu thị. Xây dựng một hệ thống siêu thị quy mô lớn như Co.opMart Sài Gòn đòi hỏi diện tích mặt bằng rất lớn (7.500 m2), lại phải gần trung tâm, các khu dân cư lớn... trong khi đó, những mặt bằng đáp ứng tiêu chí này lại không nhiều. Mặt khác do có tiềm lực tài chính cho nên nhiều nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn được những vị trí đẹp, thuận tiện để xây dựng các trung tâm thương mại, siêu thị lớn như Parkson, Big C, Metro...Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch quảng bá thương hiệu Sai Gon Co.op mart. - Co.opMart Sài Gòn có mặt tại Hà Nội là tương đối muộn so với những hệ thống siêu thị lớn của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài như Big C, Metro... hay của một số doanh nghiệp trong nước như Fivimart, Citymart, Hapro... Gia nhập thị trường muộn khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh thu hút khách hàng. Khi khách hàng đã trở nên quen thuộc với một điểm mua sắm nào thì thường có sự gắn bó trung thành với điểm mua sắm đó, khó có thể thay đổi. Không chỉ vậy, các nhà bán lẻ trong nước còn chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ các tập đoàn bán lẻ nước ngoài vừa có tiềm lực tài chính, trình độ quản lý, vừa nhiều kinh nghiệm quảng cáo tiếp thị, khuyến mại... trong khi doanh nghiệp trong nước thường bị hạn chế ở những điểm này 3.2.2.Ảnh hưởng của nhân tố môi trường vĩ mô a. Nhân tố kinh tế Kinh tế bao gồm cả trong và ngoài nước đều có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiêp. Trong các yếu tố kinh tế thì yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng, kéo theo đó là thu nhập và sức mua của dân cư. So với các nước trong khu vực và thế giới, mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được đánh giá là cao. Chỉ tiêu GDP năm 2010 ghi dấu ấn khả quan với tăng trưởng liên tục tăng sau các quý của năm và đến quý 4/2010 ước đạt 7,34% tuy nhiên trong Báo cáo do Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định lạm phát cả năm 2010 của Việt Nam ở mức 10,5% tăng cao hơn nhiều so với dự kiến đã ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường bán lẻ nói chung và Co.op mart nói riêng. Năm 2009 là năm có nhiều khó khăn , thách thức do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tuy nhiên doanh số bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của Việt Nam vẫn tăng 18,6% ( 12% sau loại trừ yếu tố tăng giá), 7 tháng đầu năm 2010 ước tính đạt 877,5 nghìn tỷ đồng, tăng 26,4 % so với cùng kỳ năm 2009 (16,3% sau loại trừ yếu tố tăng giá) . Và dự đoán rằng đến năm 2012 doanh số ở thị trường này sẽ đạt tới mốc 85 tỷ USD, một mức rất hấp dẫn. Đồng thời cũng do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế mà những nhà bán lẻ quốc tế lớn đều hoãn kế hoạch thâm nhập thị trường Việt Nam. Điều này đã tạo điều kiện nhiều hơn cho các doanh nghiệp bán lẻ trong nước có thời gian chuẩn bị và ổn định hệ thống. b. Nhân tố Chính trị - Pháp luật Bất cứ một quốc gia nào cũng vậy, pháp luật đóng một vai trò hết sức quan trọng và cần thiết. Hành lang pháp lý vừa là rào cản vừa là thuận lợi cho sự phát triển sản xuất ,kinh doanh của mỗi doanh nghiệp .Nhân tố pháp luật tác động đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ ở thời điểm hiện tại mà cả trong dài hạn. Nước ta hiện nay tình hình chính trị ổn định về mọi mặt, đây là một yếu tố quan trọng cho hệ thống siêu thị Coopmart trong việc tạo lập và triển khai các chiến lược dài hạn. Việt Nam đã ban hành nhiều bộ luật cũng như các thông tư, nghị định đã tạo ra một cách bài bản, hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là luật cạnh tranh và độc quyền. Điều này tạo thuận lợi cho sự phát triển của Coopmart trong việc đảm bảo thương hiệu của mình. c. Nhân tố Công nghệ Hiện nay khả năng ứng dụng công nghệ ở Việt Nam vẫn còn hạn chế (2/3 doanh nghiệp bán lẻ chưa sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý), thương mại điện tử, kỹ năng bán lẻ và xây dựng thương hiệu gần như vẫn đang ở giai đoạn sơ khai, trong khi nhiều nước ở khu vực đã phát triển rất mạnh… Tuy nhiên bên cạnh đó do tác động của khoa học công nghệ - thương mại các phương thức bán lẻ mới sẽ bùng nổ, như bán hàng qua mạng Internet, TV shopping, qua mạng điện thoại di động, qua catalogue, bán hàng đa cấp đang hứa hẹn nhiều cơ hội và thách thức mới. Công nghệ có ảnh hưởng không ít đến hoạt động của hệ thống siêu thị Co.opmart. Nó tác động trực tiếp đến các mặt hàng mà siêu thị bày bán, trong phương thức thanh toán, vận chuyển… d . Nhân tố văn hóa – xã hội Việt Nam có hơn 86 triệu dân với tốc độ gia tăng dân số nhanh. Nhóm chỉ tiêu tiêu tiêu dùng lớn nhất đang ở tuổi 22 – 55 chiếm tới 70,29% số dân. Đặc biệt siêu thị Sai Gon Co.op mart đặt tại Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước, dân số đông đồng nghĩa với nhu cầu và các mặt hàng thiết yếu cũng nhiều xu hướng tiêu dùng của người dân nâng lên về cả lượng và chất.Căn cứ vào nhu cầu của các đối tượng khách hàng mà siêu thị Sai Gon Co.op mart cần có định hướng về các chính sách phát triển thương hiệu của mình 3.2.3. Ảnh hưởng của môi trường vi mô a. Nhà cung ứng Hệ thống siêu thị Co.opmart có rất nhiều mặt hàng của các doanh nghiệp khác nhau do đó ảnh hưởng của nhà cung ứng đối với siêu thị là không hề nhỏ.Ví dụ như mặt hàng thực phẩm tươi sống mà Co.opMart lựa chọn kỹ để bán cho quý khách được thu mua trực tiếp từ chợ cá Phan Thiết, rau an toàn Đà Lạt, Rau ấp Đình Củ Chi, rau Hưng Phát, rau Sao Việt...đã tạo được lòng tin cho khách hàng khi sử dụng sản phẩm . Bên cạnh đó không thể không kể đến tác động của các nhà cung ứng nổi tiếng đã có thương hiệu như sản phẩm may mặc Việt Tiến, Việt Thắng, Piere Cardin, An Phước.., hàng hóa mỹ phẩm của Unilever, PJ…. đồ gia dụng : Happy Cook, Nhôm Kim Hằng, Supor, Phalê Việt Tiệp, Nhựa Phát Thành…cũng một phần tạo nên thương hiệu Co.op mart. Duy trì tốt mối quan hệ với nhà cung ứng sẽ giúp cho Co.op mart tạo dựng được lợi thế cạnh tranh với đối thủ. Điển hình trong chương trình bình ổn giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu năm 2010 và tết Tân Mão năm 2011 siêu thị Co.opMart là doanh nghiệp tham gia nhiều nhóm hàng nhất : gạo nếp, dầu ăn, đường, thịt gia súc, thịt gia cầm, thực phẩm chế biến, rau củ quả, trứng gia cầm… Chính vì vậy việc thỏa thuận về các điều kiện mua bán, giá cả, quyền lợi và nghĩa vụ của 2 bên nhà cung ứng và siêu thị là cần thiết để đảm bảo nguồn hàng được cung cấp đủ đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng. b. Đối thủ cạnh tranh Các doanh nghiệp nước ngoài: Ngày 1/1/2009, Việt Nam đã chính thức mở cửa ngành bán lẻ cho các công ty nước ngoài, như một phần của cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), điều này đã ảnh hưởng đáng kể đến thị trường bán lẻ trong nước nói chung và SaiGon Co.op mart nói riêng. Khi bước vào thị trường Việt Nam, các nhà bán lẻ nước ngoài lớn như Wal-mart ( Mỹ), Lottemart ( Hàn Quốc) ,Big C( tập đòan Casino), ….. có sẵn những lợi thế mà các nhà bán lẻ trong nước khó “địch nổi”, thể hiện ở những điểm như: nguồn vốn lớn; nguồn hàng phong phú, đa dạng; trình độ quản lý, kỹ năng tiếp thị, quảng cáo, chiến lược kinh doanh, lợi thế về chi phí và giá bán.Sự có mặt của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài tại Việt Nam ngày càng nhiều đang tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt với các doanh nghiệp trong nước trong đó có Sai Gon Co.op Mart. Các doanh nghiệp trong nước Tính đến năm 2005 ở nước ta , có 200 siêu thị, 30 trung tâm thương mại và gần 1000 cửa hàng tiện ích hoạt động ở 30 trên 64 tỉnh thành trong cả nước. Năm 2008 đã tăng lên gấp đôi. Đến năm 2010 đã có đến gần 750 siêu thị, 150 trung tâm thương mại. Chúng ta thấy rằng số lượng siêu thị không ngừng gia tăng trong những năm vừa qua có tác động lớn nguy cơ làm giảm thị phần của Coopmart nên siêu thị cần có những giải pháp thích hợp để giữ thị phần của mình như : Các chương trình khuyến mãi, giảm giá, dịch vụ chăm sóc khách hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm… c. Khách hàng Một thương hiệu thành công chỉ khi thương hiệu đó định vị được trong tâm trí người tiêu dùng . Và điều đầu tiên doanh nghiệp cần chú ý khi phát triển ra một thị trường mới là phải tìm hiểu, phân tích hành vi mua sắm của người tiêu dùng nơi đây.Đặc biệt tại thị trường Hà Nội, một thị trường đầy tiềm năng với dân số đông,mức sống cao ,nhu cầu lớn nhưng lại khá khắt khe trong khi mua sắm do đó doanh nghiệp phải xác định khách hàng mục tiêu và vạch ra cho mình chiến lược quảng bá phù hợp. Hệ thống siêu thị Coopmart hoạt động theo hình thức bán lẻ, đối tượng khách hàng mà Coopmart hướng tới đa phần là các khách hàng đã lập gia đình và các khách hàng trẻ, bận rộn với công việc. Vì vậy, bên cạnh các sản phẩm truyền thống của 1 siêu thị, Co.op Mart còn mở rộng hệ thống nhà ăn ngay tại siêu thị của mình, cũng như cung cấp các món ăn đã làm sẵn hoặc đã qua chế biến khá đa dạng và phong phú, mang đến sự lựa chọn thỏa mái cho các bà nội trợ cũng như các khách hàng không có nhiều thời gian. 3.3. Thực trạng quảng bá thương hiệu tại điểm bán của siêu thị Co.op Mart. 3.3.1.Thực trạng hoạt động quảng bá thương hiệu tại điểm bán của siêu thị Sai Gon Co.op mart trên thị trường Hà Nội trong thời gian qua Để có thể thành công được trong một môi trường đầy khó khăn và thử thách mỗi doanh nghiệp phải đưa ra hướng đi cho riêng mình và Sai Gon Co.op mart cũng vậy. Với “chiêu” hút khách chính là ưu tiên hàng đầu cho sự an toàn về thực phẩm và sự tiện lợi siêu thị đã bước đầu gây dựng được lòng tin của khách hàng. Co.opMart luôn ưu tiên chọn những sản phẩm của các nhà sản xuất có chứng chỉ quản lý chất lượng ISO 9000 hoặc có các hệ thống quản lý chất lượng tương đương như chứng chỉ an toàn vệ sinh thực phẩm HACCP, tối thiểu cũng phải là nhà sản xuất có hàng VN chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn, hoặc các nhà sản xuất tự công bố chất lượng hàng hóa của mình… Bên cạnh đó Sai Gon Co.op Mart còn có nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn như: giảm giá đặc biệt với mức cao nhất đến 50% cho 1.400 mặt hàng, cơ hội rút thăm trúng thưởng xe máy Honda, tủ lạnh, máy giặt, bếp gas; giới thiệu và tặng thẻ “Khách hàng thân thiết” miễn phí đến hơn 50.000 khách hàng tại khu vực lân cận siêu thị. Ngoài ra ban quản lý siêu thị đưa ra nhiều dịch vụ chăm sóc khách hàng như gói quà miễn phí, bán hàng qua điện thoại, bán phiếu quà tặng, giao hàng tận nhà và thực hiện chương trình khách hàng thân thiết... Đánh trúng tâm lý khách hàng bằng các chương trình khuyến mãi nên ngay trong ngày đầu khai trương Sai Gon Co.op mart đã đón hàng nghìn lượt khách đến tham quan và mua sắm tại siêu thị. Năm qua, nhiều đợt thiên tai liên tiếp xảy ra, giá cả hàn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docGiải pháp phát triển thương hiệu của hệ thống siêu thị Coopamart tại thị trường Hà Nội.doc
Tài liệu liên quan