Đề tài Giáo dục hành vi giao tiếp cho trẻ mẫu giáo trường mầm non Tân Lập, Lạc Sơn, Hoà Bình

Đặc điểm tâm lý trẻ mầm non là mau nhớ nhưng cũng chóng quên nên việc giáo dục lễ giáo đối với trẻ phải được làm thường xuyên, liên tục và giáo dục ở mọi lúc, mọi nơi thông qua các hoạt động là biện pháp tốt nhất. Giáo dục lễ giáo thực hiện qua các hoạt động hàng ngày như đón trả trẻ, hoạt động vui chơi, lao động vệ sinh đều là những dịp để trẻ bộc lộ cá tính, cách ứng xử lời ăn tiếng nói của mình. Yêu cầu giáo viên phải gần gũi để kịp thời phát hiện và uốn nắn những sai sót của trẻ trong hành vi, lời nói theo những tiêu chí của chuyên đề lễ giáo quy định.

Hoạt động học tập chiếm ưu thế trong giáo dục lễ giáo. Cho nên, đội ngũ giáo viên đã lồng nội dung lễ giáo vào tất cả các môn học : làm quen văn học, giáo dục âm nhạc, làm quen môi trường xung quanh Trong môn làm quen với văn học trẻ đóng vai nhân vật trong truyện. Thông qua việc nhập vai trẻ cảm ơn, xin lỗi thì hành động lời nói trong vai kịch đã trở thành hành động lời nói trong sinh hoạt hàng ngày. Như vậy, việc giáo dục lễ giáo đã thấm vào trẻ nhẹ nhàng và hấp dẫn.

 

doc40 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 12/09/2013 | Lượt xem: 7821 | Lượt tải: 52download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Giáo dục hành vi giao tiếp cho trẻ mẫu giáo trường mầm non Tân Lập, Lạc Sơn, Hoà Bình, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
học kỹ thuật đòi hỏi con người phải có một nền văn hoá sâu sắc. Nếu một dân tộc không có sẵn một nền văn hoá cao, không có truyền thống ham học, không có bản lĩnh vững vàng, chỉ tiếp nhận ở khía cạnh đơn thuần thì dần dần bản sắc văn hoá dân tộc đó bị mai một, dân tộc đó sẽ bị tác động bởi những nền văn hoá khác. Ngược lại : Nếu một dân tộc có nền văn hoá cao, có truyền thống hiếu học, có bản sắc dân tộc vững vàng thì từ chỗ rất lạc hậu so với thế giới bên ngoài dân tộc đó sẽ nhanh chóng làm chủ được khoa học hiện đại, tạo ra những sản phẩm có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Bằng cách ấy dân tộc đó sẽ phát triển nhanh, văn hoá là một hiện tượng vừa mang tính phổ biến vừa mang tính cá biệt. Tính phổ biến của văn hoá thể hiện ở chỗ nó là đặc điểm chung của con người bắt gặp ở mọi cộng đồng. Tính cá biệt của văn hoá thể hiện ở chỗ mỗi cộng đồng lại có một lối sống riêng không giống các cộng đồng khác. Văn hoá không phải là một hiện tượng cố định mà trái lại nó biến chuyển và phát triển từ xã hội này qua xã hội khác; từ thời kỳ này qua thời kỳ khác. Thậm chí còn có thể thay đổi trong nội bộ từ chế định này sang chế định khác. Sự biến chuyển của văn hoá yếu tố quan trọng nhất là thông qua sự hội tụ, phổ cập. Hai diễn biến này có khuynh hứớng đan xen lẫn nhau trong sự phát triển của một nền văn hoá. Lịch sử đã cho thấy văn hoá biến chuyển và phát triển nhanh chóng ở những khu vực có giao lưu, tiếp xúc rộng rãi với các nền văn hoá khác. Còn những nền văn hoá cô lập với thế giới bên ngoài thì nền văn hoá đó không phát triển được.Trong thời đại ngày nay, thời đại mà phương tiện thông tin đại chúng phát triển một cách hiện đại thì sự giao lưu, trao đổi với nhau giữa các nền văn hoá là rất thuận lợi. Trong quá trình giao lưu này nếu cá nhân nào, tập thể nào biết lựa chọn và tiếp thu những tinh hoa của nền văn hoá khác một cách nhanh chóng, thông minh, tinh tế và khéo léo thì nền văn hoá đó sẽ được hoàn thiện và tốt đẹp hơn. Ngược lại với một nền văn hoá cô lập, tự bó hẹp thì nó sẽ bị nghèo nàn và mai một dần. Bởi vậy, để có nền văn hoá phát triển cần tăng cường giao lưu kinh tế, tăng cường tiếp xúc, trao đổi với những nền văn hoá của các dân tộc khác nhau; biết lựa chọn và tiếp thu những tinh hoa của họ nhưng phải phù hợp với nền văn hoá của nước mình và không làm mất đi bản sắc riêng của dân tộc mình. 2. Hành vi : Theo các nhà tâm lý học, hành vi con người được phân loại theo nhiều cách khác nhau: Như hành vi có nguồn gốc bên ngoài và hành vi có nguồn gốc bên trong; cũng có nhà tâm lý học đã phân biệt hành vi thành 3 loại khác nhau theo bản chất tâm lý học: Đó là hành vi bản năng, hành vi kỹ xảo và hành vi lý trí. Trong giáo dục học người ta thường quan tâm đến hành vi đạo đức. Đó là những hành động được thúc đẩy bằng các động cơ đạo đức đem lại những kết quả có ý nghĩa đạo đức và được đánh giá bằng những phạm trù đạo đức. Hành vi đạo đức gồm 2 thành phần : Hành động đem lại những kết quả có ý nghĩa đạo đức với tư cách là mặt biểu hiện bên ngoài; thái độ (mục đích, ý định, động cơ) thấm nhuần ý thức đạo đức với tư cách là mặt kích thích bên trong. Như vậy, khi đánh giá con người có hành vi đạo đức hay không thì không những ta phải xem xét người đó hoạt động như thế nào, có phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội hay không mà còn phải xem xét người đó hoạt động với động cơ đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực? Cũng như khi giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ điều quan trọng là không ngừng tạo ra những hoạt động phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội và xây dựng động cơ hoạt động có đạo đức cao. 3. Văn hoá hành vi Đạo đức Mác xít coi văn hoá hành vi là toàn bộ những hình thức hành vi, lối sống giao tiếp hàng ngày của con người lao động mà các chuẩn mực đạo đức và thẩm mỹ bao trùm lên các hình thức ứng xử ấy. Nếu các chuẩn mực đạo đức quy định hành vi ấn định cụ thể con người cần phải làm gì thì văn hoá hành vi vạch rõ cụ thể phải làm bằng cách nào. Các yêu cầu đạo đức tồn tại trong hành vi. Hình thức bên ngoài của hành vi con người ra sao, trong phạm vi nào - các chuẩn mực này hoà nhập một cách hữu cơ tự nhiên và đương nhiên với hình ảnh của nó trong cuộc sống để trở thành các quy tắc sống hàng ngày. Vì thế, văn minh hành vi còn được coi là văn hoá bên ngoài để phân biệt với văn hoá bên trong của con người bao gồm thế giới quan, niềm tin đạo đức, trình độ phát triển chung, kiến thức, hứng thú, nhu cầu… Giữa văn hoá bên trong và văn hoá bên ngoài của con người có mối liên hệ chặt chẽ, một sự thống nhất xác định. Mối quan hệ đó rất phức tạp và biện chứng có tính hai chiều. Văn hoá bên trong tuy quan trọng nhưng nó cần được biểu hiện ra bằng hành động cụ thể dưới những hình thức hành vi nhất định. Văn hoá bên trong quy định hành vi bên ngoài của con người. Hình thức hành vi là sự phản ánh cái bên trong chịu sự quy định của cái bên ngoài nhưng đồng thời nó lại tác động trở lại thế giới bên trong của chủ thể. Sự luộm thuộm trong sinh hoạt, thô lỗ cục cằn, thiếu tế nhị trong giao tiếp dần dần sẽ tạo nên những thói quen và phẩm chất cá nhân tương ứng. Vì vậy, sẽ là sai lầm nếu cho rằng phẩm chất bên trong mới là phẩm chất thực, còn hành vi bên ngoài chỉ là lớp vỏ hình thức. Chính quan niệm sai lầm này đã dẫn đến việc coi thường tuân thủ các hành vi văn hoá cũng như dẫn đến việc thiếu quan tâm giáo dục văn hoá hành vi cho thế hệ trẻ. Đồng thời, chống lại khuynh hướng giáo dục này sẽ tạo ra một thế hệ con người giả dối, tham lam ích kỷ. Những kẻ như vậy sẽ tạo ra một xã hội lừa bịp, giả tạo. Vậy chính các quy tắc hành vi văn hoá là một trong những con đường giúp con người giải quyết những vấn đề đó. Chúng ta tìm ra những hình thức hành vi phù hợp với các yêu cầu đạo đức xã hội, đáp ứng được những đòi hỏi thẩm mỹ và phản ánh một trình độ văn hoá do xã hội tích luỹ được trong quá trình phát triển của mình. Giữa văn hoá hành vi và kỷ luật có mối quan hệ chặt chẽ do được quy định bởi đạo đức xã hội. Do mối quan hệ chặt chẽ giữa kỷ luật và văn hoá hành vi mà việc giáo dục kỷ luật tự giác phải được gắn liền với văn hoá hành vi. Khi giải thích cho trẻ các yêu cầu kỷ luật đồng thời phải chỉ ra cách thực hiện chúng. Tóm lại: Văn hoá hành vi là một phần của đạo đức cộng sản. Giáo dục văn hoá hành vi là một trong những mặt giáo dục đạo đức thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo. 4. Giao tiếp Giao tiếp là một phạm trù rất quan trọng của tâm lý học. Trong lịch sử phát triển tâm lý học có rất nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp. Nhưng nổi lên là cuộc tranh luận gay gắt giữa hai trường phái tâm lý Xô viết sau : * Trường phái A. A Leonchep quan niệm giao tiếp là hệ thống những quá trình có mục đích và có động cơ đảm bảo sự tương tác giữa người này với người khác. Trong hoạt động thực tiễn các quan hệ xã hội nhân cách và các quan hệ tâm lý sử dụng các phương pháp đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ . Ông cho rằng giao tiếp có cấu trúc chung của hoạt động, giao tiếp nào cũng có động cơ quy định sự hình thành và phát triển của nó và cũng đều được tạo ra bởi các hành động và thao tác. Họ cho rằng giao tiếp nào cũng mang đặc tính của hoạt động tức là cũng có cụ thể nhằm vào một đối tượng nào đó để tạo ra một sản phẩm. Nội dung của nó là sự nhận thức qua lại và trao đổi thông tin nhằm mục đích và xây dựng mối quan hệ qua lại có lơị đối với quá trình hoạt động chung. Ông đã chia quá trình giao tiếp ra làm 4 thời điểm : Một là tiếp xúc và liên hệ; hai là tác động lẫn nhau; ba là nhận thức lẫn nhau; bốn là mối quan hệ lẫn nhau. Còn BDPARUGHIN cho mối quan hệ giao tiếp là quá trình hai mặt của sự thông báo và tác động qua lại. Trong đó sự thông báo là nội dung và tác động qua lại là hình thức của giao tiếp. Phái B.E Lomop cho rằng giao tiếp không phải là một dạng hoạt động mà nó phải được xem như một phạm trù tương đối độc lập trong tâm lý học bên cạnh phạm trù hoạt động. Sự bất đồng giữa hai trường phái là ở chỗ giao tiếp không phải là một dạng của hoạt động. Tuy nhiên cả hai trường phái cũng như bất cứ một nhà tâm lý học chân chính nào cũng phải thừa nhận vai trò quan trọng của giao tiếp trong sự hình thành và phát triển nhân cách, đều phải coi giao tiếp là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển tâm lý con người. ở Việt Nam cũng có một số tác giả đưa ra những quan niệm của mình về giao tiếp như: Phạm Minh Hạc trong bài: “hoạt động - giao lưu - nhân cách” đã định nghiã: Giao tiếp là mối quan hệ hai chiều qua lại tạo một cái chung của các chủ thể của mối quan hệ đó. Đinh Trọng Lạc lại cho rằng : “giao tiếp là sự tiếp xúc nhau giữa các cá thể này và cá thể khác trong một cộng đồng xã hôi.” Trong cuộc sống, giao tiếp diễn ra rất phong phú, đa dạng về loại hình. Dựa trên những cơ sở phân loại khác nhau mà người ta có các cách phân loại khác nhau. Căn cứ vào phương tiện sử dụng để giao tiếp, người ta chia giao tiếp ra làm 3 loại là giao tiếp vật chất, giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp tín hiệu. Căn cứ vào tính chất trực tiếp hay gián tiếp khi giao tiếp mà người ta phân giao tiếp ra thành giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp. II. Thực tiễn việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo. Xuất phát từ nhận thức muốn nâng cao chất lượng về hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo thì phải có kế hoạch, có chương trình. Nội dung thực hiện việc giáo dục hành vi có văn hoá cho trẻ. Vì vậy, từ năm học 1996 - 1997 Bộ G D ĐT đã triển khai chuyên đề : “Giáo dục lễ giáo” tới 100% các trường mầm non trong toàn quốc. Các trường mầm non trên địa bàn huyện Lạc Sơn đã được thực hiện chuyên đề này theo sự chỉ đạo hướng dẫn của Bộ GDĐT và sở Giáo dục đào tạo Tỉnh Hoà Bình theo tinh thần công văn số 914/GDMN về việc triển khai “Chuyên đề giáo dục lễ giáo” ngày 16/2/1996. Để đội ngũ giáo viên nắm được mục đích, yêu cầu nội dung chuyên đề ta cần phải : 1. Quan tâm đến công tác bồi dưỡng. Các nhà trường đã tổ chức cho 100% cán bộ giáo viên và công nhân viên tham dự các lớp bồi dưỡng do sở, phòng, trường tổ chức. Sau mỗi đợt bồi dưỡng thì tổ chức cho tất cả chị em trao đổi, thảo luận, viết thu hoạch và đề xuất những kiến nghị. Ngoài bồi dưỡng theo lớp, các trường chỉ đạo bồi dưỡng qua thực tế ở các lớp điểm. Các trường thực hiện theo kế hoạch chỉ đạo trong 3 năm thực hiện chuyên đề sau đó là thực hiện sau chuyên đề. 2. Tạo môi trường giáo dục xung quanh trẻ : Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo có đặc điểm hay bắt chước. Vì vậy, phải tạo môi trường mẫu mực xung quanh trẻ: Phải có môi trường sư phạm, môi trường xanh- sạch - đẹp (có sân vườn, khu thiên nhiên, chuồng nuôi các con vật, đồ chơi đẹp…) chúng tôi còn yêu cầu giáo viên phải gương mẫu đối với trẻ đó là ăn mặc, cử chỉ, lời nói, tác phong phải nhẹ nhàng đúng mực để hình thành thói quen gương mẫu trước trẻ. Các trường đã phát động các đợt thi đua như : “Nói lời hay, làm việc tốt”; “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”… Nhờ những đợt vận động như trên, dần dần những hành vi chưa gương mẫu của giáo viên, công nhân viên đã chấm dứt. 3. Giáo dục lễ giáo mọi lúc, mọi nơi. Đặc điểm tâm lý trẻ mầm non là mau nhớ nhưng cũng chóng quên nên việc giáo dục lễ giáo đối với trẻ phải được làm thường xuyên, liên tục và giáo dục ở mọi lúc, mọi nơi thông qua các hoạt động là biện pháp tốt nhất. Giáo dục lễ giáo thực hiện qua các hoạt động hàng ngày như đón trả trẻ, hoạt động vui chơi, lao động vệ sinh… đều là những dịp để trẻ bộc lộ cá tính, cách ứng xử lời ăn tiếng nói của mình. Yêu cầu giáo viên phải gần gũi để kịp thời phát hiện và uốn nắn những sai sót của trẻ trong hành vi, lời nói theo những tiêu chí của chuyên đề lễ giáo quy định. Hoạt động học tập chiếm ưu thế trong giáo dục lễ giáo. Cho nên, đội ngũ giáo viên đã lồng nội dung lễ giáo vào tất cả các môn học : làm quen văn học, giáo dục âm nhạc, làm quen môi trường xung quanh …Trong môn làm quen với văn học trẻ đóng vai nhân vật trong truyện. Thông qua việc nhập vai trẻ cảm ơn, xin lỗi thì hành động lời nói trong vai kịch đã trở thành hành động lời nói trong sinh hoạt hàng ngày. Như vậy, việc giáo dục lễ giáo đã thấm vào trẻ nhẹ nhàng và hấp dẫn. 4. Xây dựng góc lễ giáo. ở mỗi nhóm lớp đã xây dựng và sắp xếp một góc lễ giáo. ở góc này giáo viên đã sưu tầm sách, truyện có tranh ảnh nêu những gương tốt có giáo dục để trẻ xem và làm theo. Ngoài ra, ở góc khác cô trưng bày những sản phẩm đẹp do trẻ tự làm như các bức tranh, sản phẩm nặn, vẽ, xé dán… 5. Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp. Để hỗ trợ cho chuyên đề các lớp đã chú ý tạo cảnh quan sân trường để thu hút trẻ; Hoa và cây cảnh được sắp xếp , chăm sóc chu đáo; Quy định chỗ để xe cho phụ huynh khi đưa con đến trường để tạo ý thức thực hiện nếp sống văn minh, trật tự; Tạo các thùng đựng rác và tạo thói quen bỏ rác vào thùng cho phụ huynh và học sinh; tạo góc thiên nhiên cây cảnh, nuôi các con vật gần gũi để trẻ làm quen như : Chim bồ câu, thỏ, gà, chim cảnh, cá cảnh… 6. Phối kết hợp với các bậc cha mẹ học sinh, các lực lượng xã hội để làm tốt việc giáo dục lễ giáo Công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non nói chung và công tác giáo dục lễ giáo nói riêng muốn đạt kết quả tốt đều không thể không có sự ủng hộ của các bậc phụ huynh. Với nhận thức như vậy khi triển khai chuyên đề lễ giáo chúng tôi đã phối kết hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh. Khi bắt đầu thực hiện chuyên đề lễ giáo thì trong các buổi họp phụ huynh đầu năm giáo viên đã thông báo rõ mục đích yêu cầu, nội dung thực hiện của chuyên đề với phụ huynh và đề nghị các chi hội phụ huynh bàn biện pháp phối hợp và thực hiện. Thông báo trong các kỳ họp, đại hội phụ nữ xã, thôn xóm bởi phần đa phụ huynh trẻ đều tham gia sinh hoạt phụ nữ, để có biện pháp kết hợp giữa gia đình và nhà trường, giáo dục lễ giáo thông qua công tác tổ chức hội thi : “Gia đình và người công dân tý hon” ở các cấp. Với những phương pháp, biện pháp giáo viên đề cập với các bậc phụ huynh từ đó việc chăm sóc, giáo dục trẻ nâng lên rõ rệt như vệ sinh cá nhân trẻ, lời ăn tiếng nói, tác phong, cử chỉ của các bậc cha mẹ và đội ngũ giáo viên Sự mẫu mực, văn minh là tấm gương tốt cho trẻ noi theo. Chương II : Mô tả quá trình nghiên cứu I. Khảo sát nhận thức hành vi giao tiếp của trẻ 1. Đối tượng khảo sát : Để nắm vững thực trạng sự nhận thức hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo chúng tôi đã tiến hành khảo sát 25 cháu mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi của trương mầm non Tân Lập - Lạc Sơn - Hoà Bình 2. Nội dung khảo sát : - Khảo sát nhận thức của trẻ dựa trên các tiêu chí nhận thức hành vi giao tiếp có văn hoá bằng phương pháp quan sát trò chuyện. Tiêu chí 1 : Biết chào hỏi. Tiêu chí 2 : Biết thưa gửi. Tiêu chí 3 : Cảm ơn xin lỗi Tiêu chí 4 : Biết giữ gìn vệ sinh thân thể Tiêu chí 5 : Thích chơi với bạn Tiêu chí 6 : Không tranh giành đồ chơi với bạn Tiêu chí 7 : Biết yêu thương những người gần gũi. Tiêu chí 8 : Giao tiếp mạnh dạn, tự tin, lễ độ. Tiêu chí 9 : Biết yêu quý cây trồng Tiêu chí 10 : Biết giữ gìn vệ sinh môi trường Tiêu chí 11 : Biết giúp đỡ bạn Tiêu chí 12 : Giữ và cất lấy đồ chơi đúng nơi quy định. Tiêu chí 13 : Phân biệt được sai đúng. Tiêu chí 14 : Hứng thú chơi và học. Tiêu chí 15 : Hứng thú tham gia các hoạt động tập thể. Tổng số trẻ tôi chọn khảo sát nghiên cứu là 25 cháu. Stt Họ tên trẻ Ngày tháng năm sinh 1 Bùi ngọc anh 20/3/1998 2 Bùi khánh thương 20/10/1998 3 Bùi thị việt 10/2/1998 4 Bùi thị hương 3/2/1998 5 Bùi văn quyền 7/11/1998 6 Bùi anh tuấn 11/5/1998 7 Bùi thanh tùng 30/3/1998 8 Bùi văn trung 25/5/1998 9 Bùi minh phương 5/5/1998 10 Bùi thu huyền 30/8/1998 11 Bùi văn hùng 13/7/1998 12 Bùi việt chính 2/4/1998 13 Bùi hữu chính 27/1/1998 14 Bùi thị hà 1/10/1998 15 Bùi thị thảo 12/7/1998 16 Quách thị trang 22/6/1998 17 Bùi thị hảo 6/2/1998 18 Bùi văn đạt 6/6/1998 19 Bùi thuỷ quyên 16/3/1998 20 Bùi thị nga 4/8/1998 21 Bùi văn tài 10/12/1998 22 Bùi văn thành 15/8/1998 23 Bùi thị nguyệt 16/6/1998 24 Bùi văn minh 2/9/1998 25 Quách văn hoàng 30/7/1998 Trên đây là 25 cháu trong đối tượng nghiên cứu, các cháu ở cùng một độ tuổi nên việc theo dõi và đánh giá cũng thuận tiện. Ngoài việc quan sát theo dõi ghi chép tự nhiên ra tôi còn trò chuyện gợi ý để trẻ giao tiếp một cách thoải mái tự nhiên những điều trẻ biết, trẻ chơi và trẻ định làm. Khi xây dựng kế hoạch khảo sát trẻ, chúng tôi đề ra 15 tiêu chí trên để đánh giá phân loại theo 4 mức độ: tốt, khá, trung bình, yếu tương ứng với số điểm của từng tiêu chí, cụ thể như sau : Tốt : 4 điểm Trung bình : 2 điểm Khá : 3 điểm Yếu : 1 điểm Loại tốt : Trẻ có thói quen giao tiếp thường xuyên Loại khá : Trẻ đã có ý thức nhưng chưa có thói quen thường xuyên, đôi khi phải có sự nhắc nhở của người lớn. Loai trung bình : Khi thực hiện phải có sự nhắc nhở của người lớn trẻ mới làm nhưng chưa đạt yêu cầu. Loại Yếu : Trẻ chưa có ý thức thực hiện việc giao tiếp trong khi chơi và khi học. Sau thời gian khảo sát, nghiên cứu từng tiêu chí đến từng trẻ tôi đã ghi lại cụ thể như sau Stt Tên tiêu chí Loại tốt Loại khá TB Yếu T.số trẻ Tỷ lệ % T.số trẻ Tỷ lệ % T.số trẻ Tỷ lệ % T.số trẻ Tỷ lệ % 1 Biết chào hỏi 0 0 4 16% 15 60% 6 24% 2 Biết thưa gửi. 0 0 2 8% 19 76% 4 26% 3 Cảm ơn xin lỗi 0 0 3 12% 20 80% 2 8% 4 Biết giữ gìn VSTT 0 0 5 20% 18 72% 3 12% 5 Thích chơi với bạn 0 0 7 28% 16 64% 2 8% 6 Không tranh giành đồ chơi của bạn 0 0 4 16% 15 60% 6 24% 7 Biết yêu thương những người gần gũi 0 0 10 40% 10 40% 5 20% 8 Giao tiếp mạnh dạn, tự tin lễ độ 0 0 0 0% 10 40% 15 60% 9 Biết yêu quý cây trồng 0 0 2 8% 16 64% 7 28% 10 Biết giữ gìn vệ sinh môi trường 0 0 5 20% 18 72% 2 8% 11 Biết giúp đỡ bạn 0 0 6 24% 14 56% 4 16% 12 Giữ và cất lấy đồ chơi đúng nơi quy định 0 0 4 16% 17 68% 4 16% 13 Phân biệt được sai đúng 0 0 4 16% 15 60% 6 24% 14 Hứng thú chơi và học 0 0 10 40% 13 52% 2 8% 15 Hứng thú tham gia các hoạt động tập thể 2 8% 10 40% 12 48% 1 4% Trong quá trình khảo sát nghiên cứu, phương pháp chính của tôi là theo dõi, ghi chép, trò chuyện. Vì vậy, trẻ giao tiếp hoàn toàn tự tin thoải mái nên kết quả điều tra theo từng tiêu chí cũng như sự giao tiếp từng trẻ là hoàn toàn trung thực. Phải nói rằng các cháu ở đây vô cùng hiếu động, các cháu luôn muốn nói và thích nói, thích chơi với đồ vật và bạn bè. Kết quả của từng trẻ thể hiện trên các tiêu chí và số điểm trên các tiêu chí như sau : Loại tốt : Từ 40 - 60 điểm Loại khá : Từ 35 - 39 điểm Loai trung bình : Từ 29 đến 34 điểm. Loại yếu : Từ 15 đến 28 điểm. Trên cơ sở cho điểm như vậy tôi thấy số cháu được xếp loại tốt là 3 cháu = 12% 1. Bùi Khánh Thương: 43 điểm 2. Bùi Việt Chính: 41 điểm 3. Quách Thị Trang: 40 điểm Số trẻ đạt loại khá là : 7 cháu = 28% Số trẻ đạt loại trung bình là 11 cháu = 44 % Số trẻ loại yếu là : 4 cháu = 16 % đó là các cháu : 1. Bùi Thị Nguyện: 20 điểm 2. Bùi Văn Tuấn: 21 điểm 3. Bùi Văn Trung: 23 điểm 4. Bùi Văn Thành: 24 điểm Để hiểu nguyên nhân dẫn đến khả năng giao tiếp có văn hoá không đồng đều của các cháu, tôi đã tìm hiểu thêm về hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống, nghề nghiệp của bố mẹ…tôi đã được gia đình các cháu nhiệt tình giúp đỡ, trao đổi và trò chuyện vui vẻ. Qua trao đổi tôi thấy trong 25 cháu tôi khảo sát điều tra đa số bố mẹ trẻ làm nông nghiệp và phần ít bố mẹ là cán bộ công nhân viên nhà nước. Đối với các cháu bố mẹ là cán bộ công nhân viên nhà nước thì điều kiện, thời gian chăm sóc các cháu nhiều hơn so với các cháu có bố mẹ làm nông nghiệp. Do đặc điểm địa bàn trường mầm non xã Tân Lập nơi tôi khảo sát là địa bàn miền núi chủ yếu là người dân tộc làm nghề nông nghiệp, trình độ học vấn thấp, việc giao lưu ít nên họ chưa quan tâm mấy đến việc học hành của con cái mà chủ yếu vẫn lo kinh tế gia đình, có những cháu 5 tuổi mới được đi học mẫu giáo; có cháu nhà ở độc lập ít có bạn bè chơi cùng trong thời gian chưa được đến trường mầm non. Chính những yếu tố trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Sự giao tiếp, tiếp xúc với bạn bè, với người lớn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và ngôn ngữ là yếu tố quan trọng đối với mỗi người mẹ vì thông qua ngôn ngữ nói người mẹ có thể hiểu biết đánh giá sự phát triển ngôn ngữ của con về phương diện ngữ pháp, diễn đạt ý. 3. Phân tích kết quả khảo sát. Như chúng ta đã biết nhu cầu giao tiếp của trẻ trước hết là nhu cầu phát triển của chính bản thân trẻ. Song sự giao tiếp của trẻ với mọi người càng mang lại kết quả bao nhiêu thì lại kích thích trẻ tích cực chủ động học tập tiếng mẹ đẻ bấy nhiêu. Tích cực của trẻ trong việc nắm bắt và sử dụng ngôn ngữ là rất quan trọng. Vai trò của những người xung quanh như người lớn, cô giáo đặc biệt có ý nghĩa. Nó là một trong những nguồn động lực đối với sự hình thành và phát triển khả năng ngôn ngữ, hành vi giao tiếp có văn hoá của trẻ. VD : Cháu Bùi Khánh Thương có bố mẹ cùng làm nghề giáo viên, gia đình có điều kiện về kinh tế cũng như thời gian quan tâm chăm sóc cháu từ nhỏ, lên 1 tuổi cháu đi học nhà trẻ đến nay cháu đang theo học lớp mẫu giáo lớn, ngoài giờ đến lớp về nhà cháu được bố mẹ chú ý uốn nắn, rèn luyện cho cháu biết lễ phép, nói đủ câu, không nói tục chửi bậy, biết xin khi được nhận quà, cảm ơn khi được giúp đỡ. Bên cạnh đó gần như đối lập với các cháu mà tôi nêu ở trên là những cháu gia đình còn gặp nhiều khó khăn, sự chăm sóc quan tâm đến các cháu còn hạn chế dẫn đến nhận thức thiếu đầy đủ, khả năng giao tiếp kém. VD : Cháu Bùi Anh Tuấn có bố mẹ sống bằng nghề nông nghiệp nhưng ruộng ít con đông không có nguồn thu nhập thêm, thóc chỉ đủ ăn trong thời gian ngắn. Vì vậy, sau thời vụ lại phải đi làm thuê ở nơi khác hàng tháng trời mới về qua nhà, cháu ở nhà với ông bà nên chuyện quan tâm chăm sóc giáo dục con cái gặp rất nhiều khó khăn. Trên đây là 2 ví dụ trẻ sống trong hai môi trường khác nhau để chúng ta thấy rõ hơn rằng : ông bà cha mẹ, cô giáo và những người lớn xung quanh trẻ luôn phải là tấm gương sáng cho trẻ noi theo ở bất cứ hoạt động giao tiếp nào. Người lớn cần phải chú ý nói hay, nói đúng; sử dụng từ chính xác, phong phú và luôn đưa ra cho trẻ những mẫu câu hay, những cử chỉ đẹp để trẻ học theo. Đặc biệt cần tạo tình huống cho trẻ đối thoại, tạo ra những câu hỏi để trẻ trả lời. Những cuộc đối thoại với người lớn sẽ giúp ta phát hiện những nhược điểm trong phát triển ngôn ngữ của trẻ và từ đó có phương hướng sửa chữa uốn nắn kịp thời. Vậy ở bất kỳ thời điểm nào, điều kiện nào nếu người lớn biết cách hướng dẫn, tác động, uốn nắn, bổ xung ngôn ngữ, cử chỉ một cách hợp lý với trẻ thì khả năng sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp của trẻ sẽ được phát triển đúng hướng và tốt hơn. Các yếu tố xã hội như trình độ văn hoá của bố mẹ, hành vi giao tiếp của những người xung quanh, phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo, phim, truyện…có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển hành vi giao tiếp có văn hoá của trẻ mẫu giáo: Cách nghĩ, cách nói, cách diễn đạt của trẻ sẽ rõ ràng, mạch lạc hơn nếu thường xuyên có sự tác động của các yếu tố trên một cách thiết thực và toàn diện. Tạo điều kiện để phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ một cách tốt nhất, khoa học nhất nhằm tránh được những ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển ngôn ngữ và khả năng giao tiếp của trẻ. II. Những biện pháp tác động để giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ 1.Tạo cảm xúc, tình cảm đạo đức về các chuẩn mực hành vi. Việc nắm các chuẩn mực hành vi dựa trên tình cảm của trẻ được bắt đầu từ lứa tuổi nhỏ dưới ảnh hưởng của điều kiện sống và môi trường xung quanh Ngay từ nhỏ trẻ đã có những cơ sở đầu tiên của lòng nhân ái: Quan hệ hoà thuận giữa trẻ với nhau, sự tôn trọng của người lớn. Tính nhạy cảm, lòng vị tha có được là do tính mềm dẻo của hệ thần kinh, giúp cho việc hình thành tính cách của trẻ. Ngôn ngữ cùng những ấn tượng mà trẻ nhận được trong những năm tháng đầu trở nên sâu sắc, phần lớn nó sẽ được gữi lại trong tình cảm và ý thức của trẻ suốt đời. Trẻ 5 - 6 tuổi thì mối quan hệ của trẻ được mở rộng và gắn bó với nhau hơn. Hành động xuất hiện định hướng được thể hiện rõ như giúp đỡ người khác, quan tâm yêu mến bạn bè… Điều này chứng tỏ sự nảy nở tình cảm đoàn kết giữa trẻ nhỏ với nhau, sự giúp đỡ lẫn nhau, quan tâm đến bạn và hoạt động có tổ chức. Để giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá ở trẻ mẫu giáo, trước hết phải tạo cho các em có được những xúc cảm, tình cảm đạo đức và các chuẩn mực hành vi giao tiếp có văn hoá; cần tổ chức những hoạt động đa dạng phong phú để hình thành những cảm xúc, tình cảm đạo đức văn hoá và chuẩn mực hành vi cho trẻ qua các hoạt động, đặc biệt là trong tiết học kể chuyện, những ý tưởng trong sáng của nội dung truyện sẽ định hướng phát triển nhân cách trẻ. Trẻ noi gương làm việc thiện và thích có tính cách cao đẹp như những nhân vật trong truyện. Cần sử dụng các biện pháp thi đua, khen thưởng trong quá trình tổ chức chế độ sinh hoạt một ngày nhằm kích thích tính hứng thú của trẻ và ý thức tích cực sử dụng các chuẩn mực hành vi tham gia vào các hoạt động. Trong điều kiện tổ chức giáo dục trên tiết học ở trường mầm non và trong sinh hoạt hàng ngày, những tri thức và tình cảm của trẻ ngày càng được mở rộng từ đơn giản đến phức tap; từ chỗ chưa biết

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docGD hanh vi giao tiep.doc
Tài liệu liên quan