Đề tài Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

MỤC LỤC

Chương 1: HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 2

1.1 Lưu thông tiền tệ 2

1.1.1 Khái niệm lưu thông tiền tệ 2

1.1.2 Hai hình thức lưu thông tiền tệ 2

1.2 Thanh toán tiền tệ 3

1.2.1 Thanh toán dùng tiền mặt 3

1.2.2 Thanh toán không dùng tiền mặt 4

1.3 Nguồn gốc và vai trò của các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt 4

1.3.1 Nguồn gốc của thanh toán không dùng tiền mặt 4

1.3.2 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt 5

1.4 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt 7

1.4.1 Thanh toán bằng Séc 8

1.4.2 Thanh toán bằng thẻ 10

1.4.3 Thanh toán bằng thư tín dụng L/C 13

1.4.4 Ủy nhiêm thu 14

1.4.5 Ủy nhiệm chi 15

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 17

2.1 Thực trạng chung về các hình thức TTKDTM ở Việt Nam thời gian qua 17

2.1.1 Những thành tựu trong hoạt động TTKDTM ở Việt Nam thời gian qua 17

2.1.2 Những hạn chế trong thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam và các nguyên nhân 19

2.2 Thực trạng của từng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt 24

2.2.1 Tình hình thanh toán bằng Séc 24

2.2.2 Thanh toán bằng thẻ thanh toán 25

2.2.3 Thanh toán bằng các hình thức khác 29

Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI VIỆT NAM 32

3.1 Định hướng phát triển hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam 32

3.2 Giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt 33

3.2.1 Áp dụng chung cho các phương thức 33

3.2.2 Áp dụng cho từng phương thức 37

3.3 Một số kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt 40

3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 40

3.3.2 Kiến nghị đối với ngân hàng Nhà nước 41

3.3.3 Đối với khách hàng 42

 

 

doc46 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 15/11/2013 | Lượt xem: 4272 | Lượt tải: 78download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hành ra lưu thông gần đây. Đặc biệt, vào năm 2008 chúng ta đã kết nối thành công hai hệ thống thẻ liên ngân hàng là Banknetvn và Smartlink trở thành một hệ thống thẻ thống nhất trên toàn quốc. Đây là nền tảng cơ bản để hướng tới xây dựng và phát triển một hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Khi đi vào hoạt động, hai hệ thống này sẽ hỗ trợ lẫn nhau trong việc cung cấp dịch vụ tới khách hàng, đảm bảo tính ổn định và thông suốt với chất lượng dịch vụ tốt nhất Những hạn chế trong thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam và các nguyên nhân Hạn chế trong thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam - Nhìn chung, thanh toán bằng tiền mặt còn rất phổ biến trong nền kinh tế. Tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực doanh nghiệp và chiếm đại đa số trong các giao dịch thanh toán của khu vực dân cư. TTKDTM tuy được cải thiện, nhưng thực tế cho thấy khối lượng tiền mặt ngoài lưu thông ngày càng tăng. Theo báo cáo kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy: dư nợ tín dụng 6 tháng đầu năm 2009 tăng 17,01% so với năm 2008, kéo theo lượng tiền mặt trong lưu thông cũng tăng lên 19,3%, tiền mặt lưu thông ngoài ngân hàng ước đạt 306 ngàn tỷ đồng, đây là con số đầu tiên được công bố từ một cơ quan không phải là NHNN. Đúng như ông Bùi Quang Tiên, trưởng ban thanh toán NHNN nhận định “Tiền mặt vẫn là phương thức thanh toán chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực công, doanh nghiệp và dân cư. Chất lượng, tiện ích mới trong TTKDTM còn hạn chế, các tiện ích thiết thực và phổ biến (như thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, truyền hình cáp) chưa được triển khai mạnh trên thực tế. Các dịch vụ thanh toán trực tuyến như Mobile Banking, Internet Banking, Ví điện tử… mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hẹp, chưa triển khai trên diện rộng để đáp ứng nhu cầu thanh toán nhỏ lẻ của khách hàng”. - Thời gian qua, tuy tỷ trọng TTKDTM hàng năm đã giảm nhưng còn ở mức cao hơn so với thế giới. Tỷ trọng này ở các nước tiên tiến như Thụy Điển là 0,7%, Na Uy là 1%, còn Trung Quốc là nước phát triển trung bình nhưng cũng chỉ ở mức là 10%. - Số người sử dụng dịch vụ ngân hàng chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, lao động ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, nhân viên công sở có thu nhập cao và ổn định. Đại đa số dân cư, công chức, viên chức thuộc khu vực chính phủ, lao động thuộc các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa tiếp cận với các phương tiện và dịch vụ thanh toán. - Hạ tầng cơ sở và trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho hoạt động thanh toán còn nghèo nàn và kém hiệu quả. Năm 2009, nước ta có 7.051 ATM số lượng phân bổ chủ yếu ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp. Với dân số nước ta hiện nay là hơn 85 triệu dân thì bình quân 12.055 dân có 1 ATM. Lượng ATM như vậy quá thấp nếu so với các quốc gia láng giềng ( Singapore: 2.638 dân/ATM). Hơn nữa, các máy ATM lại chỉ có khả năng phục vụ cho một nhóm nhỏ ngân hàng, chứ không có khả năng sử dụng chung cho nhiều ngân hàng như thực tế ở nhiều nước hiện nay, làm cho mạng lưới máy rút tiền tự động càng hạn chế phạm vi phục vụ. Với các thiết bị tại điểm bán (POS) cũng chung tình trạng như vậy. Luôn có tình trạng một đơn vị chấp nhận thẻ cùng tồn tại nhiều thiết bị POS của các ngân hàng khác nhau để phục vụ cho các giao dịch bằng thẻ. Điều này thu hẹp đáng kể phạm vi sử dụng các phương tiện TTKDTM so với nhiều quốc gia trong khu vực hiện nay, ngay cả khi mật độ thiết bị tương đương như ở các nước đó. - Chất lượng, tiện ích và tính đa dạng về dịch vụ TTKDTM chưa phong phú. Khả năng đáp ứng nhu cầu của nhiều loại đối tượng sử dụng còn hạn chế. Các phương tiện TTKDTM chưa đạt được tính tiện ích và phạm vi thanh toán để có thể thay thế cho tiền mặt. Phương thức giao dịch chủ yếu tiếp xúc trực tiếp và mặt đối mặt. Để được nhận một sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, các chủ thể tham gia thường phải đến các điểm giao dịch của ngân hàng. Phương thức giao dịch từ xa, dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại như giao dịch qua internet, qua mobile, homebanking... chưa phát triển hoặc mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hẹp. - Tính cạnh tranh trên thị trường dịch vụ ở mức thô sơ và phát triển dưới mức tiềm năng. Cạnh tranh bằng thương hiệu, chất lượng dịch vụ chưa phổ biến. Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, thay vì sáng tạo ra  sản phẩm mới hoặc tạo ra giá trị gia tăng trên sản phẩm cùng loại trên thị trường, lại chỉ tập trung vào yếu tố giá cả nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh. Điều này không chỉ làm tổn hại tới chính lợi nhuận của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trong hoạt động dịch vụ thanh toán, mà còn tổn hại tới sự gắn kết giữa chính bản thân ngân hàng và khách hàng, khi mà khách hàng không nhận thấy sự khác biệt giữa các sản phẩm của những ngân hàng khác nhau, vì vậy mà họ dễ dàng từ bỏ một sản phẩm dịch vụ mang thương hiệu này để đến với một sản phẩm có thương hiệu khác.  - Phí dịch vụ thanh toán còn khá cao và khó chấp nhận đối với những giao dịch thanh toán mức trung bình, đặc biệt đối với các giao dịch liên ngân hàng và liên tỉnh. Ngoài ra, một số phương tiện thanh toán khi sử dụng khách hàng còn phải trả thêm phụ phí so với việc sử dụng tiền mặt. - Hệ thống thanh toán cốt lõi là hệ thống thanh toán liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước, mặc dù được cải thiện rất nhiều sau khi hoàn tất giai đoạn I của Dự án hiện đại hệ thống thanh toán, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu gia tăng về hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng. Theo thiết kế ban đầu, hệ thống thanh toán liên ngân hàng có khả năng xử lý 4.500 giao dịch/ngày. Nhưng từ khi đi vào hoạt động đến này, hệ thống thường xuyên lâm vào tình trạng quá tải với số lượng giao dịch bình quân lên tới 10.000 giao dịch/ngày. - Đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn trong lĩnh vực thanh toán chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ chuyên môn, tác phong phục vụ và đạo đức nghề nghiệp. Nguyên nhân Xa hoi- Thói quen và nhận thức: Sau đổi mới ngành ngân hàng, toàn bộ những yêu cầu quản lý tiền mặt áp dụng trước đó được loại bỏ. Tiền mặt trở thành một công cụ thanh toán không hạn chế về đối tượng và phạm vi sử dụng. Hầu hết chi phí liên quan đến tiền mặt trong lưu thông như in ấn, phát hành, thu huỷ, vận chuyển, bảo quản, an ninh là chi phí xã hội và do Nhà nước phải chịu. Cá nhân người thanh toán chỉ phải chịu phần chi phí nhỏ trong đó (kiểm đếm, vận chuyển), trong khi đó tiền mặt có điểm ưu việt rất lớn là thanh toán tức thời và vô danh, thủ tục đơn giản. Vì vậy, tiền mặt đã trở thành một công cụ rất được ưa chuộng trong thanh toán và từ lâu đã trở thành thói quen khó thay đổi của người tiêu dùng và nhiều doanh nghiệp. Thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán hiện nay là lực cản lớn trong việc phát triển TTKDTM. - Thiếu động cơ kinh tế đủ mạnh để khuyến khích TTKDTM: đối với nhiều đối tượng giao dịch, các công cụ và dịch vụ TTKDTM không chứng tỏ có lợi ích hơn hẳn về kinh tế so với  tiền mặt. Ngược lại, TTKDTM còn phải trả phí cho ngân hàng, thậm chí còn bị tính giá cao hơn (đối với một số đơn vị chấp nhận thẻ), không được chào đón tại các quầy thanh toán... - Kinh tế không chính thức phát triển: nước ta có một nền kinh tế xuất phát từ đặc điểm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo quy mô nhỏ, lẻ, với loại hình này thì khả năng tiếp nhận phương tiện TTKDTM là rất khó khăn. Ngoài ra, một bộ phận rất lớn của nền kinh tế không chính thức là kinh tế ngầm liên quan tới hoạt động buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại, tham nhũng..., luồng luân chuyển tiền tệ phục vụ các hoạt động này có thể rất lớn. Đối với những người tham gia các giao dịch này, cho dù phương tiện TTKDTM có thuận tiện thì đó vẫn không phải là phương tiện thanh toán được lựa chọn, xuất phát từ nhu cầu che dấu nguồn gốc giao dịch và danh tính của đối tượng tham gia.  - Hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán chưa hoàn thiện, mặc dù trong thời gian vừa qua hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán đã cải thiện nhiều, song vẫn được đánh giá là chưa đầy đủ và đồng bộ, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến thanh toán điện tử và thương mại điện tử. Ví dụ như đối với giao dịch điện tử, chưa đủ cơ sở để các ngân hàng tổ chức triển khai các kênh giao dịch điện tử vì chưa tạo được một cơ chế tổng hợp điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử trong ngành ngân hàng, chưa có sự chấp nhận đồng bộ giao dịch điện tử, chứng từ điện tử giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan (như Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan,…). Ngày 19 tháng 11 năm 2005 vừa qua Luật Giao dịch điện tử đã được Quốc hội thông qua, đây là một bước tiến mới mang tính đột phá của Việt Nam trong ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển kinh tế xã hội. Nó tạo nên một nền tảng hành lang pháp lý cho các nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tạo điều kiện cho ngân hàng tham gia sâu rộng vào các hoạt động thương mại điện tử, cung cấp các dịch vụ thanh toán cho các chủ thể tham gia kinh doanh trực tuyến trên mạng trong phạm vi toàn xã hội. Tuy nhiên, để luật này đi vào cuộc sống là cả một quá trình phấn đấu không chỉ của riêng ngành ngân hàng mà của toàn xã hội. Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến lĩnh vực thanh toán vẫn còn những điểm cần phải tiếp tục được chỉnh sửa, thay thế để có thể phù hợp với thông lệ quốc tế và nhu cầu của người sử dụng. Một số văn bản còn thể hiện nhiều bất cập và chưa phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, với tốc độ phát triển mạnh mẽ về công nghệ thông tin và sự ra đời của hàng loạt các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, nền tảng pháp lý cần được hoàn chỉnh gấp để bao hàm cả các loại hình tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không phải là ngân hàng, các tổ chức công nghệ thông tin cung ứng những sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ cho các ngân hàng, các tổ chức làm dịch vụ thanh toán, chẳng hạn như những công ty cung cấp giải pháp công nghệ qua mạng Internet, các công ty kinh doanh dịch vụ thẻ, các tổ chức chuyên làm dịch vụ thanh toán bù trừ... - Thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành hữu quan, chính quyền địa phương các cấp trong việc tạo ra môi trường kinh tế, xã hội thuận lợi cho việc phát triển TTKDTM. -ngan hang Vốn đầu tư vừa thiếu, vừa được sử dụng kém hiệu quả: từ giác độ các ngân hàng thương mại, vấn đề lớn nhất trong phát triển hoạt động thanh toán là những hạn chế về vốn đầu tư. Vốn đầu tư đòi hỏi phải rất lớn và thời gian thu hồi vốn dài hạn. Vì vậy, chỉ có những ngân hàng lớn, có tiềm lực mạnh về tài chính, chủ yếu là các ngân hàng thương mại Nhà nước hiện nay mới có khả năng tập trung đầu tư lớn về trang thiết bị phục vụ cho hoạt động thanh toán. Các ngân hàng nhỏ chủ yếu chọn cách chia sẻ mạng lưới với các ngân hàng lớn. Tuy nhiên, khả năng chia sẻ mạng lưới và hạ tầng kỹ thuật khác giữa các ngân hàng còn hạn chế, do các ngân hàng chưa tìm được tiếng nói chung để đi đến thoả thuận kết nối thống nhất nhằm chia sẻ hạ tầng kỹ thuật. - Cơ cấu tính phí dịch vụ thanh toán còn bất hợp lý, thể hiện ngay cả các giao dịch thanh toán qua ngân hàng nhà nước, cũng như trong nội bộ tổ chức tín dụng. - Trình độ cán bộ phục vụ cho hoạt động thanh toán rất bất cập, chủ yếu do công tác đào tạo cơ bản cũng như chuyên sâu trong lĩnh vực thanh toán chưa đáp ứng được yêu cầu. Thực tế này không chỉ phổ biến ở các ngân hàng thương mại, mà ngay cả ở Ngân hàng Nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý Nhà nước trong thanh toán; - Thông tin tuyên truyền chưa được định hướng đúng đắn: công tác thông tin tuyên truyền chưa được quan tâm, chú trọng. Những mục tiêu chiến lược, định hướng và các chính sách lớn để phát triển hoạt động thanh toán chưa được công bố đầy đủ cho công chúng. Vì vậy, không chỉ người dân mà thậm chí nhiều doanh nghiệp còn rất ít hiểu biết hoặc hiểu biết mơ hồ về các dịch vụ thanh toán và phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Ngoài ra, các phương tiện thông tin đại chúng đôi khi còn phản ánh thiên lệch, khai thác những yếu điểm, lỗi kỹ thuật hoặc những yếu tố tiêu cực mang tính cá biệt để đưa lên công luận, khiến cho thông tin đến với những người tiêu dùng thường một chiều, thậm chí sai lạc, gây mất lòng tin vào một công cụ thanh toán nào đó ngay từ khi mới bắt đầu phát triển cac don vi chap nhan the con han che do phai ke khai tinh trang tai chinh cua doanh nghiep, su lien ket giua cac ngan hang chua duoc nang cao trong viec Thực trạng của từng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt Tình hình thanh toán bằng Séc Ngày 9/5/1996, Chính phủ đã ban hành nghị định 30 về phát hành và sử dụng Séc. Ngày 27/12/1996 Ngân hàng nhà nước đã ban hành thông tư 07 hướng dẫn thi hành nghị định trên của chính phủ. Những văn bản pháp quy về phát hành và sử dụng Séc có hiệu lực hơn 5 năm nay. Nhưng Séc vẫn chưa đi vào cuộc sống. Ta có thể thấy rõ điều này qua các con số thống kê về TTKDTM tại thành phố Hồ Chí Minh Thành phố HCM là một thành phố lớn có tốc độ phát triển và thu nhập bình quân đầu người cao nhất cả nước. Nhưng các hình thức TTKDTM cũng phát triển rất ì ạch. Thanh toán bằng ủy nhiệm chi được ưa chuộng nhất trong khâu thanh toán do thủ tục đơn giản, hiện đang chiếm vị trí tuyệt đối trong khâu thanh toán giữa các thể nhân và pháp nhân khác nhau trong nền kinh tế. Tính hết 6 tháng đầu năm nay, thể thức này chiếm tỷ trọng 90,97% tổng doanh số TTKDTM. Trong khi đó, tỷ trọng thanh toán bằng Séc qua ngân hàng còn rất khiêm tốn, tỷ trọng này chỉ là 0,31% trong tổng doanh số TTKDTM tại Tp. HCM tính đến 6 tháng đầu năm nay. Còn ủy nhiệm thu, tỷ trọng thanh toán cũng rất thấp, chỉ bằng 2,07% tổng doanh số không dùng tiền mặt. Vậy vì sao các công cụ TTKDTM ở một đô thị lớn như thành phố HCM lại phát triển chậm và lệch lạc như vây? dẫu rằng không phải chúng ta không thấy được tác động tích cực của nó. Thanh toán bằng séc thuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch mua bán. Nhưng, ra đời đã lâu mà séc vẫn chưa phát triển được như mong đợi ở Việt Nam. Ở các ngân hàng thương mại, hình thức thanh toán bằng séc chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 2%) trong tổng thanh toán phi tiền mặt; trong đó chủ yếu là thanh toán giữa các doanh nghiệp với nhau, còn thanh toán giữa doanh nghiệp với cá nhân, giữa cá nhân với cá nhân rất ít. - Những khó khăn khi thực hiện thanh toán bằng Séc Việc thanh toán séc gặp không ít phiền phức. Hiện nay, khách mua và khách bán hàng có tài khoản ở cùng một ngân hàng thì khi khách bán đến ngân hàng để nộp séc, ngân hàng sẽ ghi có trên tài khoản khách bán và ghi nợ trên tài khoản khách mua. Nhưng khi khách mua và khách bán không có tài khoản ở cùng một ngân hàng, các ngân hàng thương mại phải thông qua hệ thống thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước. Mỗi ngày chỉ có 2 phiên thanh toán bù trừ (vào lúc 10 giờ sáng và 15 giờ) và việc kiểm tra séc ở Ngân hàng Nhà nước vẫn chủ yếu là thủ công. Nếu các ngân hàng phát hành vài chục nghìn tờ séc mỗi ngày thì việc thanh toán bù trừ trong ngày gặp rất nhiều khó khăn. Thêm vào đó, tâm lý của người bán nhận séc thường lo ngại trên tài khoản của người mua không còn tiền, séc giả, dễ dẫn đến rủi ro trong giao dịch nên hay từ chối việc thanh toán séc. Hiện nay, số khách hàng sử dụng séc không tốt, séc giả tăng lên rất nhiều. Công nghệ khoa học càng hiện đại thì hình thức và cách thức sử dụng séc giả càng tinh vi hơn, thủ thuật hơn. Đây là một bất lợi cho thị trường séc vì nó không chỉ ảnh hưởng đến doanh số mà còn ảnh hưởng đến cả lòng tin của khách hàng vào hình thức thanh toán vẫn còn chưa phổ biến này. Nhiều khi nó còn ảnh hưởng đến cả uy tín của ngân hàng phục vụ người trả tiền cũng như uy tín của ngân hàng phục vụ người thụ hưởng. Đây là mối hiểm hoạ lớn nhất cho thị trường séc. Thanh toán bằng thẻ thanh toán Một số thành tựu nổi bật trong thanh toán bằng thẻ thanh toán tại Việt Nam thời gian qua - Mục tiêu đưa ra trong đề án phát triển TTKDTM đến năm 2010 là: phát hành 15 triệu thẻ trên cả nước, 70% các trung tâm thương mại, siêu thị, nhà hàng, khách sạn... có thiết bi chấp nhận thanh toán thẻ. Đạt mức 20 triệu tài khoản cá nhân, 70% cán bộ hưởng lương ngân sách và 50% người lao động trong doanh nghiệp tư nhân nhận lương qua tài khoản. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong những năm gần đây, thị trường thẻ ngân hàng tại Việt Nam đã có bước phát triển rất mạnh mẽ. Và có thể nói rằng thanh toán thẻ của chúng ta đã về đích sớm so với mục tiêu mà đề án đưa ra. Chúng ta có thể thấy rõ được điều này thông qua một số các số liệu được thu thập trong thời gian gần đây. Tính đến tháng 12/2007 đã có 29 tổ chức phát hành thẻ, trong đó có 5 NHTM nhà nước; 19 NHTM cổ phần; 4 ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 1 tổ chức phát hành thẻ phi ngân hàng. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động thẻ  không ngừng lớn mạnh, với 4280 máy ATM; 22.959 thiết bị ngoại vi (POS, EDC). Số lượng thẻ phát hành là 8.282.783 thẻ (tăng gần 4 triệu thẻ so với năm 2006), trong đó có 7.771.494 thẻ ghi nợ nội địa (94%); 25.637 thẻ tín dụng nội địa (0.3%); 302.046 thẻ ghi nợ quốc tế (3.65%) và 183.616 thẻ tín dụng quốc tế (2.2%). Chủng loại thẻ hết sức đa dạng với 120 thương hiệu thẻ, trong đó phân theo phạm vi thì thẻ nội địa 71 loại (chiếm 59%), thẻ quốc tế 49 loại (41%); phân theo nguồn tài chính, thẻ ghi nợ 73 loại (chiếm 61%), thẻ tín dụng 44 loại (chiếm 37%) và sự xuất hiện của loại thẻ trả trước 3 loại (2%). Năm 2008, tổng số thẻ phát hành đã lên tới con số 10 triệu thẻ với 6000 máy ATM Hiện nay, hệ thống thanh toán thẻ hiện nay có được sự phát triển vượt bậc về mạng lưới, hệ thống kỹ thuật cũng như sự tăng trưởng về tổng lượng giao dịch, thanh toán qua thẻ. Chỉ tính đến hết tháng 3/2010 mới đây, tổng lượng thanh toán không dùng tiền mặt đã chiếm tới 85% tổng doanh số thanh toán qua NH với lượng thanh toán bằng điện tử chiếm trên 60%. Lượng thẻ mà 47 tổ chức cung ứng dịch vụ thẻ thanh toán phát hành hiện lên đến 22 triệu thẻ (vượt mục tiêu đưa ra là 15 triệu thẻ) với trên 9.000 ATM và hơn 35.000 thiết bị chấp nhận thẻ trên cả nước. Những con số trên phần nào thể hiện được thị trường thẻ Việt Nam đã và đang “phát triển nóng” như thế nào. Đây là một tín hiệu tích cực cho nền kinh tế, nhất là trong định hướng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam. - Cùng với sự phát  triển không ngừng về mặt khoa học kỹ thuật và công nghệ, nhu cầu đòi hỏi của khách hàng ngày càng tăng. Nắm bắt được xu thế đó, để thu hút được khách hàng về phía mình trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, các ngân hàng trong nước ngày càng chú trọng nhiều hơn đến việc phát triển mảng dịch vụ, đặc biệt các dịch vụ tiện ích đi kèm với thẻ. Giờ đây, thẻ không chỉ đơn thuần là một phương tiện rút tiền mặt mà đã trở thành phương tiện đa mục đích, giúp người sử dụng có thể tiếp cận được nhiều dịch vụ giao dịch thông qua thẻ ngân hàng. Các dịch vụ tiện ích cơ bản của thẻ cung cấp cho khách hàng như: thanh toán hàng hóa; rút tiền mặt; chuyển khoản; thanh toán hóa đơn; mua sắm hàng hóa trực tuyến… cho đến  nhiều dịch vụ mới khác cũng đang được các ngân hàng chú trọng phát triển như: yêu cầu phát hành sổ séc; yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản tiết kiệm có kỳ hạn; chi lương qua tài khoản; gửi tiền trực tiếp tại ATM; nhận tiền kiều hối; bảo hiểm… Ngoài việc thiết lập nhiều tiện ích cho khách hàng, các ngân hàng còn tạo sự riêng biệt bằng các chương trình và sản phẩm thẻ mang thương hiệu của mình như: Ngân hàng Sài Gòn Thương tín với thẻ Sacom VISA Debit chú trọng vào lớp trẻ năng động; VCB ngoài việc giữ một số lượng lớn thẻ các đơn vị nhờ dịch vụ trả lương, còn một loại thẻ đưa logo của kênh ca nhạc MTV vào chiếc thẻ, được giới trẻ đón nhận như thể hiện một phong cách; thẻ của Techcombank lại khuyến khích bằng cách liên kết với các đối tác thương mại khác như trung tâm mua bán, siêu thị, với hãng Pacific Ariline giảm giá mua hàng, giá vé máy bay; hay thẻ của ACB được phát hành rộng rãi ở các khu vực người nước ngoài tập trung đông, thiên về thanh toán hơn là rút tiền vv... - Trả lương qua tài khoản cũng là một ứng dụng nổi bật của TTKDTM. Kể từ khi có Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg ngày 24/8/2007 của Ngân hàng nhà nước, dịch vụ thẻ lại ngày càng đóng vai trò quan trọng để thực hiện những mục tiêu kinh tế-xã hội đã được đặt ra, và là cơ hội cũng như thách thức đối với các NHTM Việt Nam. Số liệu mới nhất đến đầu tháng 7.2009 cho thấy, số đơn vị thực hiện trả lương qua tài khoản đạt trên 26.600 đơn vị với số người nhận lương đạt gần 1,32 triệu người, tương đương mức tăng hơn 2 lần so nửa đầu năm 2008. - Một sự kiện nổi bật nhất trong thời gian gần đây trong lĩnh vực thanh toán thẻ là việc kết nối thành công hệ thống thanh toán thẻ Banknetvn và Smartlink vào tháng 5/2008. Trên thị trường hiện nay tồn tại 4 hệ thống thẻ. Trong đó, hệ thống  thẻ của Smartlink chiếm 25% thị phần với 29 ngân hàng  thành viên, hệ thống của Banknetvn gồm 7 ngân hàng  thương mại, trong đó có 3 ngân hàng  lớn như Agribank, BIDV, Incombank và 4 ngân hàng  thương mại  cổ phần  khác, chiếm xấp xỉ 70% thị phần, 5% thị phần còn lại là của vài hệ thống  khác. Thống kê đến tháng 03/2008, tổng số máy ATM của 2 hệ thống (5 ngân hàng thành viên) là 3.614 máy, chiếm khoảng 64% tổng số máy ATM tại thị trường Việt Nam. Số lượng thẻ thanh toán phát hành của 5 ngân hàng này là 8,6 triệu thẻ, chiếm 80% thị phần thẻ thanh toán trong cả nước. Sau hơn 05 tháng tích cực phối hợp triển khai với các ngân hàng thành viên, dưới sự chỉ đạo sát sao của Ngân hàng Nhà nước, Banknetvn và Smartlink chính thức hoàn thành giai đoạn kết nối kỹ thuật liên thông giữa 2 hệ thống, bao gồm 5 ngân hàng thành viên của Banknetvn và Smartlink: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VietcomBank), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Công thương Việt nam (Vietinbank) và Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank). Như vậy, sau thời gian thử nghiệm, tất cả các chủ thẻ của 5 ngân hàng thành viên nói trên có thể giao dịch với bất kỳ máy ATM nào của cả 5 ngân hàng. Sự liên kết này sẽ tạo nên một sức mạnh mới, thúc đẩy các dịch vụ  thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện tiền đề để hình thành một hệ thống thanh toán thẻ lớn mạnh có khả năng kết nối toàn quốc, giữa tất cả các ngân hàng  phát hành thẻ sau này, đồng thời duy trì được sự độc lập tương đối của các bên tham gia nhằm đảm bảo động lực cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, cũng như an toàn về hệ thống khi hệ thống của hai bên có thể làm dự phòng lẫn nhau trong trường hợp có sự cố. Tuy nhiên, việc triển khai cung cấp dịch vụ và đem tiện ích của việc kết nối tới đông đảo bộ phận dân cư và doanh nghiệp đòi hỏi nỗ lực của từng ngân hàng thành viên trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ và phát triển mạng lưới chấp nhận thẻ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng dịch vụ thẻ ngân hàng. Một số hạn chế trong thanh toán bằng thẻ thanh toán Bên cạnh những tín hiệu khả quan nêu trên, việc phát triển thị trường thẻ ở Việt Nam còn một số hạn chế. Điều này được thể hiện ở những mặt sau: - Doanh số hoạt động chủ yếu vẫn tập trung chủ yếu vào hai ngân hàng lớn là Vietcombank VCB và Ngân hàng Á Châu ACB. Thị phần thẻ của VCB được giữ vững, chất lượng được nâng cao qua việc cung ứng dịch vụ gia tăng thẻ. Năm 2009, VCB phát hành thêm được trên 36.340 thẻ tín dụng quốc tế (TDQT) - bao gồm cả số lượng chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip. Doanh số sử dụng thẻ TDQT do Vietcombank phát hành đạt trên 1.900 tỷ đồng; Doanh số thanh toán thẻ TDQT là 567 triệu USD. Thẻ ghi nợ, phát hành được 156.490 thẻ đạt trên 105,5% so với kế hoạch. Thanh toán đạt 90.654 tỷ đồng, đạt trên 137% kế hoạch. Những kết quả đạt được này trong một năm đầy những biến động vì khủng hoảng thực sự là thành công rất lớn của Vietcombank, xứng danh là một trong những Ngân hàng hàng đầu của Việt Nam. - Trong thời gian gần đây chúng ta cũng thấy tình trạng sử dụng và thanh toán thẻ giả mạo có chiều hướng gia tăng và đã gây ra những tổn thất về tài chính đối với nền kinh tế, đặc biệt là về tài chính đối với các ngân hàng - Tính cạnh tranh trên thị trường dịch vụ thanh toán vẫn ở mức thô sơ và phát triển dưới mức tiềm năng. Chưa phổ biến cạnh tranh bằng thương hiệu, chất lượng dịch vụ. Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, thay vì sáng tạo ra sản phẩm mới hoặc tạo ra giá trị gia tăng trên sản phẩm cùng loại trên thị trường (đó là gia tăng các tiện ích đi kèm dịch vụ, phương tiện thanh toán hiện đại, dần thay thế dịch vụ đơn mục đích bằng những dịch vụ đa mục đích như: sử dụng thẻ cho nhiều mục đích như thanh toán, chi trả hóa đơn định kỳ, vấn tin, rút tiền mặt…thay cho việc sử dụng thẻ chỉ để rút tiền mặt) thì lại chỉ tập trung vào yếu tố giá cả (phí) nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh. Điều này không chỉ làm tổn hại tới chính lợi nhuận của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trong hoạt động thẻ, mà còn tổn hại tới sự gắn kết giữa chính bản thân ngân hàng và khách hàng, khi mà khách hàng không nhận thấy sự khác biệt giữa các sản phẩm của những ngân hàng khác nhau, vì vậy mà họ dễ dàng từ bỏ một sản phẩm dịch vụ mang thương hiệu này để đến với một sản phẩm có thương hiệu khác. Thanh toán bằng các hình thức khác Thư tín dụng là một phương thức được sử dụng rất phổ biến trong thanh toán quốc tế. Theo số liệu thống k

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNganHang 28.doc
Tài liệu liên quan