Đề tài Một số biện pháp marketing nhằm mở rộng thị trường của công ty ứng dụng công nghệ kỹ thuật Hạ Long

Một số biện pháp Marketing nhằm mở rộng thị trường của công ty ứng dụng công nghệ kỹ thuật Hạ Long 1

Lời giới thiệu 1

Chương I 3

Khái quát quá trình hình thành 3

và phát triển của công ty Hạ long 3

1. Giới thiệu công ty và lịch sử hình thành công ty 3

2. Chức năng nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công ty Hạ Long 5

2.1. Chức năng và nhiệm vụ. 5

Công ty 6

Các C.ty TM khác 6

Người tiêu dùng 6

2.2. Cơ cấu, chủng loại mặt hàng kinh doanh hiện tại. 7

3. Tổ chức bộ máy quản lý của công ty 8

3.1. Sơ đồ bộ máy quản trị 8

giám đốc 9

3.2. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản trị 10

3.3. Nguồn nhân lực của công ty 11

3.4. Sơ đồ bộ máy sản xuất kinh doanh của công ty: 11

Chương II 13

Thực trạng hoạt động sản xuất 13

kinh doanh của công ty hạ long 13

1. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Hạ Long 13

2. Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty Hạ Long 15

3. Những đánh giá chung về hoạt động của công ty Hạ Long 15

3.1. Điểm mạnh 15

3.1.1. Thị trường tiêu thụ sản phẩm 15

3.1.2. Lợi thế doanh nghiệp nguồn hàng. 18

3.1.3. Nguồn nhân lực 18

3.1.4. Hậu mãi 19

3.2. Điểm yếu 20

3.3. Cơ hội 21

3.4. Thách thức 24

Chương III 27

phương hướng và biện pháp phát triển công ty Hạ long 27

1. Mục tiêu và phương hướng phát triển của công ty Hạ Long 27

2. Biện pháp 28

3. Tiền đề thực hiện 29

Kết luận 30

 

 

doc33 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 19/08/2015 | Lượt xem: 668 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Một số biện pháp marketing nhằm mở rộng thị trường của công ty ứng dụng công nghệ kỹ thuật Hạ Long, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
i hàng hoá tới các bạn hàng và tới tận tay người tiêu dùng. Điều này có thể khái quát theo sơ đồ sau: thành phẩm Công ty linh kiện Xuất Thành phẩm linh kiện + thành phẩm Các C.ty TM khác Người tiêu dùng Trên cơ sở phân phối hàng hoá như vậy, kết hợp với việc làm các hình thức dịch vụ đi kèm mà Hạ Long thu được lợi nhuận. Cơ cấu, chủng loại mặt hàng kinh doanh hiện tại. Công ty UDCNKT Hạ Long kể từ khi ra đời tập trung chủ yếu vào các mặt hàng thiết bị văn phòng trong đó chủ yếu là máy vi tính và gần đây đã bắt đầu phát triển sang lĩnh vực khác là cửa tự động (Autodoor), ta có thể phân loại lĩnh vực kinh doanh theo bảng sau: Bảng phân loại mặt hàng kinh doanh Thiết bị văn phòng (loại 1) Cửa tự động (loại 2) Máy tính và phụ kiện (a) Máy văn phòng (b) Máy nguyên chiếc + COMPAQ, MITAC + IBM +ARES + HP Máy lắp ráp + Từ các loại linh kiện máy tính Các thiết bị đi kèm: + máy in: HP, CANON +UPS: ARES, SUNTAC + Thiết bị Multimedia (phòng láp): Teacherwin Các linh kiện lẻ: + Monitor: Proview + HDD: Segate Máy fax: + PANASONIC + TOSHIBA Máy photocopy + TOSHIBA + RICOHL Điều hoà nhiệt bộ + NATIONAL + LG Cửa ra vào mắt cảm ứng, hàng ngoại (nguyên bộ) + Automaticdoor vbelt + Automaticdoor tbelt + Automaticdoor vbelt, tbelt with Multifution. Các bộ phận lẻ (linh kiện) + Day Coroa + Motor + day + Mắt thần (Sensor) + Micro computer điều khiển + Cổng tự động. + Cửa, cổng Gora... Sơ đồ do phân bố hoạt động và doanh thu theo biểu đồ sau: 80% Loại 1a - Loại 1b - Loại 2 3. Tổ chức bộ máy quản lý của công ty Công ty TNHH ứng dụng kỹ thuật và công nghệ Hạ Long là một công ty thuộc mô hình vừa và nhỏ, do vậy nó được tổ chức bộ máy quản trị tương đối gọn nhẹ. Trên thực tế, Hạ Long được tổ chức theo hình thức kết hợp giữa quản trị theo nhóm và theo phòng ban, bộ máy quản trị của công ty được chia ra các phòng ban chức năng như Kế toán, Kinh doanh, Vật tư, Tài chính. Trong đó công ty cũng được chia ra làm hai nhóm: nhóm thứ nhất chuyên về lĩnh vực thiết bị văn phòng, nhóm còn lại thực hiện dự án về cửa tự động. Các phòng ban như giám đốc, tài chính, kế toán, vật tư được thực hiện các công việc về chuyên môn còn các phòng kinh doanh thực hiện công việc theo nhóm. 3.1. Sơ đồ bộ máy quản trị Các phòng ban được bố trí như sơ đồ sau: giám đốc Kế toán Tài chính Kinh doanh vật tư kỹ thuật bộ phận bán TBVP AUTODOOR Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận Giám đốc: chịu trách nhiệm chung về mọi hoạt động kinh doanh của công ty. Kế toán: Tập hợp số liệu doanh thu, công nợ, xuất nhập hàng hoá hàng ngày. Tài chính: Cân đối vốn, tổng hợp số liệu hàng tháng. Kinh doanh: Mua bán hàng hoá, tìm kiếm, nghiên cứu và mở rộng thị trường. Vật tư (bao gồm cả kho): Kiểm soát sự xuất nhập hàng hoá nội bộ bên trong và bên ngoài công ty và số lượng, mẫu mã, chủng loại. Kỹ thuật : Chịu trách nhiệm về kỹ thuật, chất lượng của hàng hoá khi xuất nhập, cũng như bảo hành, bảo trì sản phẩm, hỗ trợ các dịch vụ sau bán hàng. 3.2. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản trị Phòng kế toán, phòng vật tư, tài chính tương đối đơn giản bao gồm trưởng phòng (phòng kế toán là kế toán trưởng). Phòng giám đốc bao gồm có giám đốc, phó giám đốc, thư ký. Phòng kinh doanh có theo sơ đồ ở trang sau, có thể nhạn thấy đây là một điểm đặc trưng ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trưởng phòng ngoài việc phụ trách các nhóm đồng thời cũng phụ trách một nhóm. trưởng phòng phó phòng Nhân viên bộ phận TBVP Nhân viên bộ phận Autodoor Với phương pháp bố trí như vậy có thể thấy rằng, bộ máy của công ty về quản trị đã kết hợp được nhiều ưu điểm của các phương pháp: Quản trị theo nhóm giúp có công ty đơn giản hoá được tổ chức, đồng thời với các phòng ban hiện tại công ty vẫn có một hệ thống các phòng chuyên môn hoá cao đảm bảo năng suất và hiệu quả. VD: Phòng ban Kế toán được chuyên môn hoá tạo một thế mạnh trong công ty trong hệ thống kế toàn tài chính. Sự kết hợp đồng thời với sự phối hợp giữa các phòng ban tạo nên một cơ cấu quản trị linh hoạt, hiệu quả. 3.3. Nguồn nhân lực của công ty Tỷ lệ nhân viên nữ trên tổng số là: 21% Tỷ lệ nhân viên được đào tạo đúng chuyên ngành là: 80% Tỷ lệ nhân viên đã tốt nhiệp đại học là : 80% Tỷ lệ những nhân viên hoạt động mùa vụ theo hợp đồng là 20% so với số nhân viên chính thức Tổng số nhân viên 25 người (kể cả giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng). Phân bố nguồn nhân lực của công ty trong ba lĩnh vực chính: hoạt động trong lĩnh vực thu hút tiền vốn marketting và trong hai bộ phận kinh doanh. Thu nhập của nhân viên công ty theo hai phương thức lương: nhân viên thuộc văn phòng (thư ký, kế toán, phòng tài chính) trả lương theo thời gian còn lại các phòng khác được trả lương theo doanh thu (điều này gắn doanh thu với người lao động dính liền giữa kết quả và thu nhập). 3.4. Sơ đồ bộ máy sản xuất kinh doanh của công ty: Sơ đồ 1. Cơ cấu bộ máy kinh doanh bộ phận sản xuất bộ phận nhập hàng bộ phận vật tư phòng kinh doanh bộ phận bán sỉ bộ phận bán lẻ Sơ đồ 2. Cơ cấu bộ máy sản xuất của công ty (bộ phận sản xuất) bộ phận sản xuất bộ phận nhập hàng Tổ trưởng Nhân viên Nhân viên Nhânviên Qua sơ đồ ta có thể thấy phương thức hoạt động của công ty đó: Phòng kinh doanh lập kế hoạch phương án sản xuất, kinh doanh đưa xuống các phòng ban hỗ trợ như bộ phận sản xuất, bộ phận nhập hàng của công ty từ đó hai bộ phận này cung ứng hàng cho bộ phận vật tư và từ bộ phận vật tư được chuyển vào bộ phận trực tiếp tiêu thụ. Trong đó bộ phận sản xuất được tổ chức theo nhóm. Từng nhóm có tổ trưởng và tổ trưởng chịu trách nhiệm toàn bộ một nhóm. Chương II Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hạ long Đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Hạ Long Công ty Hạ Long là một doanh nghiệp tư nhân mang tính chất thương mại theo mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên nó mang đầy đủ tính chất của loại hình doanh nghiệp này. + Cơ cấu vốnnhỏ, hiện tại số vốn lưu động theo đăng ký với cơ quan nhà nước mới lên đến con số 1 tỷ VNĐ. + Nhân lực không nhiều: với con số là 25 người, kể cả ban lãnh đạo của công ty, nó bầy tỏ đầy đủ cái quy mô hoạt động của một công ty theo mô hình vừa và nhỏ. + Sự điều hành mọi hoạt động của công ty cũng như việc ra các quyết định đều xuất phát từ giám đốc và không phải thông qua một hệ thống văn bản dài dòng mất thời gian. Nói chung Giám đốc toàn quyền quyết định. + Hoạt động sản xuất kinh doanh, hay doanh thu, sự phát triển của công ty phụ thuộc rất nhiều vào phòng kinh doanh, có thể nói đây là phòng quan trọng, cũng là phòng chịu áp lực nhiều nhất từ phía công ty cũng như phía khách hàng, đây chính là đặc điểm chính của hầu hết các công ty vừa và nhỏ nói chung. + Do mô hình hoạt động nhỏ tạo nên một mối liên hệ dễ dàng giữa các thành viên trong công ty, điều này tạo ra sự đoàn kết đồng nhất, sự hỗ trự tốt giữa các phòng ban trong việc giải quyết các vần đề hoạt động kinh doanh, cũng như việc thực hiện các chiến lược, chính sách do phòng kinh doanh vạch ra. + Vẫn có sự phân tích rõ ràng, chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban nhằm nâng cao trách nhiệm cũng như việc sử dụng đúng mục đích và hiêụ quả của mỗi thành viên. + Luôn coi vấn đề hậu mãi, các dịch vụ sau bán hàng là quan trọng bởi đó chính là niềm tin của khách hàng, đó chính là mục đích chính của Hạ Long cũng như công ty thương mại. + Có các biện pháp hỗ trợ Marketing đều đặn (quảng cáo) gửi thư, báo giá... để mở rộng thị trường, luôn tìm tòi các sản phẩm mới để mở rộng lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh. + Có các chế độ kích thích nâng cao trình độ của nhân viên (cả 2 lĩnh vực kỹ thuật và kinh doanh) nhằm nâng cao hiệu quả trong công việc. + Hoạt động sản xuất kinh doanh theo con đường chính thống và chắc chắn, mức liên tế không cao nhưng độ rủi ro không nhiều. Nói một cách chính xác hơn là Hạ Long ít mạo hiểm trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên Hạ Long lại có một mối quan hệ mật thiết với một số ngành (giáo dục) tạo nên một lượng khách hàng truyền thống và rất nhiều tiềm năng cho mình. + Trong quản lý luôn kích thích óc sáng tạo và sự làm việc tự chủ và chủ động của nhân viên, thúc đẩy hết tiềm năng con người nhằm tự giải quyết những công việc của bản thân, của công ty, đem lại hiệu quả lớn. + Tập trung chủ yếu vào việc phân phối thành phẩm, nâng cao hoạt động thương mại, giảm hoạt động sản xuất (lắp ráp). 2. Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty Hạ Long Công ty ƯDCNKT Hạ Long trên thị trường so về cơ cấu là một công ty nhỏ không thể so với một số công ty khác như FPT, CMC..., tuy nhiên tên tuổi và uy tín của nó rất được đảm bảo đối với khách hàng. Để tồn tại và có uy tín, đứng vững trên thị trường hiện nay nhất là thị trường máy tính với số lượng lên đến 200 công ty phải nói rằng Hạ Long có một sự phát triẻen tương đối ổn định trong vài năm trở lại đây. Những đánh giá chung về hoạt động của công ty Hạ Long 3.1. Điểm mạnh 3.1.1. Thị trường tiêu thụ sản phẩm Lĩnh vực thiết bị văn phòng: Thị trường của công ty trong lĩnh vực thiết bị văn phòng tập trung trong lĩnh vực máy tính văn phòng, máy in, các thiết bị hỗ trợ khác. Loại sản phẩm này nhằm vào các văn phòng, trụ sở làm việc của các cơ quan và sự tiêu dùng của nhân dân. Vì vậy khách hàng chủ yếu là các công ty nhà nước và các công ty liên doanh. Bên cạnh đó phải nói rằng công ty rất mạnh trong việc cung cấp máy tính phục vụ cho việc giảng dạy trong giáo dục đặc biệt là các khối trường phổ thông. Điều này được khẳng định qua việc cung cấp một khối lượng lớn máy tính hiệu Mitac cho các trường phổ thông hầu hết ở Hà Nội và một vài tỉnh lân cận trong năm 1998. Ngoài ra việc cung cấp máy tính cho cá nhân tiêu dùng của công ty cũng không phải là nhỏ. Hiện tại, qua quá trình phát triển công ty đã gây dựng được một uy tín nhất định, xây dựng một số mối quan hệ vững chắc đối với khách hàng kể cả cơ quan Nhà nước, tư nhân, liên doanh và người dân. Công ty cũng có kinh nghiệm và khả năng thực hiện cũng như đấu thầu các dự án của nhà nước trong lĩnh vực đổi mới trang thiết bị văn phòng, quản lý nằm trong chiến lược hiện đại hoá công tác quản lý của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Công ty cũng đã tham gia nhiều dự án về giáo dục và kiến trúc, đây cũng là hai thị trường ngách quan trọng, và là 2 thị trường chính vì hiện tại số lượng máy móc văn phòng dùng cho đào tạo tại Việt Nam là tương đối khan hiếm và nhà nước cũng có chủ trương tăng cường đầu tư cho giáo dục trong đó một phần kinh phí khá lớn dành cho hiện đại hoá các thiết bị giáo dục và dành cho các lĩnh vực mới như thông tin, viễn thông. v.v... Công ty Hạ Long vừa là công ty trực tiếp bán sản phẩm tới khách hàng, trực tiếp thực hiện các dự án lớn và đồng thời cũng tạo dựng một thị trường bán sỉ liên công ty giữa các công ty thiết bị văn phòng, họ có mối quan hệ tốt đối với các đối tác, tạo dựng được uy tín và thường xuyên có những hợp đồng bán sỉ các sản phẩm hoặc các linh kiện sang các công ty cung cấp thiết bị văn phòng khác. Ngoài một thị trường lớn về các dự án, công ty cũng có một thị trường bán lẻ, thông qua bộ phận bán hàng của công ty. Trong lĩnh vực này, mặc dù cạnh tranh gay gắt và không được công ty tập trung, nhưng Hạ Long vẫn có được một phần thị trường tương đối. Hơn nữa công ty còn có một mạng lưới đại lý cung cấp hàng hoá cho mình ở một số thành phố lớn tại Việt Nam như: TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và một số tỉnh, huyện lân cận. Lĩnh vực cửa tự động: Mặc dù cửa tự động đã xuất hiện từ những năm thập niên 80 ở Mỹ và các nước phương Tây, phổ biến trong các khách sạn hay các trụ sở của các công ty, tuy nhiên ở Việt Nam loại mặt hàng này mới thực sự xuất hiện và phát triển được chừng 2 năm, mặc dù loại hàng này chưa phổ biến nhưng nó hứa hẹn nhiều triển vọng bởi tiềm năng của chính sản phẩm. Đã có một số khách sạn và một số công trình xây dựng mới, các tổng công ty, văn phòng bộ và các toà nhà lớn đã đặt mua loại mặt hàng này và trong tương lai, khi nhu cầu xây dựng của Việt Nam có chiều hướng tăng so với năm trước và nhất là với tốc độ phát triển xây dựng đến chóng mặt về quy hoạch cũng như việc xây dựng cơ sở hạ tầng (... đầu tư xây dựng tăng.. Trong khi đó công ty Hạ Long là một trong những công ty tiên phong trong lĩnh vực này: Một trong năm công ty đầu tiên tham gia nhập và nghiên cứu thị trường về cửa tự động, đồng thời Hạ Long cũng là công ty đưa ra mức giá thấp nhất so với các đối thủ cạnh tranh khác. Về thực chất công ty đã biết đến mặt hàng này từ năm 1994, nhưng sự chuyên sâu nghiên cứu thì được đầu tư vào gần 2 năm khi mà thị trường cửa tự động bắt đầu có. Công ty có những thế mạnh mà các đối thủ không có đó là mối quan hệ với các công ty xây dựng lớn (VINACONEX, Tổng Công ty xây dựng Hà Nội và hơn lữa là trong hệ thống ngành xây dựng quân đội), đồng thời công ty cũng có được lợi thế khi là công ty đầu tiên xây dựng được mối quan hệ với công ty chuyên dụng về lĩnh vực cửa tự động của Đức, trở thành nhà độc quyền về sản phẩm cửa tự động mang nhãn hiệu DORTEX. Cùng với lợi thế này sự tiên phong và chính thống hơn các công ty cạnh tranh đem lại nhiều thuận lợi cho công ty. 3.1.2. Lợi thế doanh nghiệp nguồn hàng. Hạ Long có mối quan hệ tốt đối với các đối tác nước ngoài, đối với thị trường máy tính tên tuổi của công ty và giám đốc được nhiều bạn hàng biết đến kể cả thị trường cung cấp hàng hoá chính cho thị trường Việt Nam là Đài Loan. Họ là đại lý phân phối chính cho rất nhiều hãng trên thế giới (LEO, MITAC, ARES, DORTEX tiến tới là ACER...). Họ luôn luôn năng động tìm kiếm các chủng loại hàng, các công ty cung cấp và đồng thời cũng tạ ra những công ty cung cấp thường xuyên do vậy họ có khả năng cạnh tranh về giá cả, độ tin cậy về chất lượng sản phẩm cũng như sự yên tâm về số lượng. Đồng thời bộ phận lưu kho cũng không phải chịu chi phí quá lớn, hàng thường được lưu kho rất ít và dường như công ty hoạt động theo phương thức JIT (dự trữ gần như bằng không) vì họ có khả năng chuyển tiếp số hàng một cách nhanh chóng cũng như do sự tin cậy của nguồn cung cấp tạo cho họ khả năng nhập hàng bất kỳ khi nào và sự khả chuyển lớn trong kinh doanh. Sự hỗ trợ của đối tác trong việc quảng cáo, marketing, chế độ bảo hành của hãng..., họ được độc quyền. 3.1.3. Nguồn nhân lực Trước hết phải nói đến lãnh đạo của công ty Giám đốc của Công ty Hạ Long là người có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp ở Nga và hơn thế nữa lại xuất thân từ quân đội, đó chính là một lợi thế rất lớn trong việc quản lý và hoạch định những chính sách chiến lược cho công ty. Ông là người có tầm quan hệ rộng và có ảnh hưởng rất nhiều trong các hoạt động đầu vào và đầu ra. Ông còn là một trong số những người trong ban chấp hành, tổ chức và quản lý mọi hoạt động của Hội tin học Hà Nội ra đời năm 2000, nó đem lại lợi thế rất lớn cho công ty trong lĩnh vực tin học. Đội ngũ nhân viên: Một trong những nhân tố của thành công của công ty đó là đội ngũ nhân viên, trong 25 nhân viên của công ty có tới 80% tốt nghiệp đại học chính quy, trong số đó có 2 thạc sĩ, ngoài kiến thức thì những nhân viên của công ty còn có trình độ chuyên môn hoá cao, sự năng động trong công việc, cùng với những kinh nghiệm trong các lĩnh vực mà công ty đang tham gia. Hơn thế nữa nhân viên của công ty tương đối gắn bó với công ty, hầu hết là đội ngũ nhân viên từ khi mới thành lập. Ngoài ra công ty cũng có những chế độ ưu tiên cho việc học tập nâng cao trình độ, đồng thời cũng có xu hướng mở rộng về nhân lực cả về số lượng và chất lượng, nhất là lực lượng nhân viên trẻ và có trình độ. 3.1.4. Hậu mãi Hạ Long phải nói rằng có một dịch vụ sau bán hàng rất tốt được khẳng định bởi các yếu tố - Nhanh - Nhiệt tình - Hiệu quả Điều này tạo nên sự tín nhiệm của khách hàngvà độ tin cậy vào sản phẩm mà Hạ Long cung cấp. 3.2. Điểm yếu Một trong những điểm yếu của công ty đó chính là vốn, vốn của công ty tương đối nhỏ và hạn chế. Bởi dù sao, đây cũng là công ty tư nhân. mặt hàng của công ty không phải là phong phú, công ty chỉ kinh doanh trong hai lĩnh vực (trong đó lĩnh vực cửa tự động là mới được công ty đưa vào trong năm 2000 trong chiến lược đa dạng hoá lĩnh vực kinh doanh của công ty). Mà hai lĩnh vực này đều có rất nhiều hạn chế: Lĩnh vực cửa tự động là quá mới mẻ tại Việt nam, nó thuộc loại mặt hàng cao cấp, sự thành công của lĩnh vực là không thể nói chắc chắn được, doanh thu, chi phí, lợi nhuận là không thể đoán trước, tuy nó có nhiều triển vọng. Thị trường của nó thì chưa được mở rộng ra các tỉnh lân cận và các thành phố lớn khác. Lĩnh vực truyền thống của công ty là thiết bị văn phòng, máy tính có khá nhiều điểm hạn chế: Lĩnh vực này trong thời kỳ bão hoà, có nhiều đối thủ đã gia nhập thị trường trong khoảng hai năm trở lại đây dưới cả hai hình thức công ty và cửa hàng, làm tăng sự cạnh tranh đối với công ty. Đồng thời với sự cạnh tranh của các hãng trong nước thì không thể không nói tới các tập đoàn nước ngoài, các tập đoàn nước ngoài lớn (IBM, COMPAQ, HP, SUN...) với nhiều lợi thế (vốn, kinh nghiệm, uy tín) đưa ra các giải pháp tổng thể cạnh tranh trong các dự án mang tầm cỡ lớn và vừa, trên thực tế họ đã có được thị trường ở các ngành ngân hàng, tài chính, các tổng công ty lớn nơi mà sự tin cậy được đưa lên hàng đầu. Ngược lại sự kinh doanh mang tính chất không lâu dài chỉ với mục đích tồn tại là chủ yếu của các cửa hàng hay các công ty quá nhỏ, làm ảnh hưởng rất nhiều về giá cho thị trường nói chung và công ty nói riêng. Các yếu tố trên đã phần nào thu hẹp dần thị trường truyền thống của công ty cũng như làm cho giá cả giảm một cách tương đối (thu hẹp đáng kể lợi nhuận của công ty). Trong lĩnh vực có mức độ công nghệ thay đổi nhanh, giá cả của các loại mặt hàng chủ yếu có chiều hướng giảm hơn so với trước tăng sức cạnh tranh và nó không còn là một thị trường báo bở như những năm đầu thành lập công ty. Điểm yếu thứ ba của công ty đó là sự phụ thuộc tương đối nhiều của công ty trong việc thực hiện các dự án cũng như các hợp đồng lớn cung cấp hàng cho đối tác, mà công ty ký kết được các dự án này trong các năm trước đây có phần nhiều dự án ký kết được khi công ty nhanh nhậy và có mối quan hệ gây dựng được nên tìm được các dự án mới khi các đối thủ chưa biết, tuy nhiên trong thời điểm hiện tại, các dự án thường được đem ra đấu thầu và các thông tin thường là được công khai một cách rộng raĩ cùng với sự phát triển của các công nghệ thông tin, công ty phải chịu thêm một sức ép lớn từ các đối thủ khác trong việc tìm kiếm dự án. Điểm yếu thứ tư: Đó là địa bàn hoạt động của công ty tương đối nhỏ, hầu như chỉ trong địa bàn Hà Nội (công ty cũng có một số đơn đặt hàng ở các tỉnh khác) mà tiềm năng thị trường của cả nước là tương đối lớn. Điểm yếu thứ năm: Công ty tuy có một hệ thống đại lý cũng như nhà phân phối trong cả nước nhưng chưa nhiều nên chưa tạo ra được sự tiêu thụ hàng hoá mạnh mẽ cũng như sự cạnh tranh trực tiếp tại các địa bàn ngoài Hà Nội. 3.3. Cơ hội Lĩnh vực thiết bị văn phòng : Công ty vẫn còn có các mối quan hệ và uy tín với cả các đối tác, bạn hàng và với cả khách hàng. Chính nhờ mối quan hệ này mà công ty có một sự hỗ trợ rất lớn từ các bạn hàng lớn hay từ chính các hãng lớn. Về thực chất các hãng này đã tạo ra cho công ty một lợi thế độc quyền. Mặt khác sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thế giới dẫn đến tình trạng các hãng lớn bắt buộc phải tạo điều kiện cho các đại lý của mình để gìn giữ phần thị trường của mình tại các nước, điều này tạo ra cho công ty rất nhiều ưu thế trong quá trình cạnh tranh trong nước (quảng cáo, marketing, dịch vụ hậu mãi...), đồng thời còn các thế mạnh. Trong xu hướng hiện nay thì thị trường của công ty vẫn còn tương đối lớn không những thế mà còn có thể mở rộng, một số thị trường ngách của công ty tương đối vững chắc cho phép công ty có thể chú tâm tới mở rộng lĩnh vực của mình. Với thị trường máy tính công ty có một sản phẩm độc quyền mà sự cạnh tranh của nó không nhiều đó là teacherwin - một sản phẩm multimedia hỗ trợ lớn cho giảng dạy tại các trường học (đại học, phổ thông, tiểu học) đây là loại sản phẩm rất phù hợp với thị phần mà công ty đang nắm giữ. Hơn thế nữa loại sản phẩm này có thể phục vụ cho rất nhiều hoạt động khác của các loại hình công ty hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ, như hội thảo, trình bày, giảng dạy thông tin... Hạ Long là một công ty có uy tín và độ tin tưởng cao với các công ty nước ngoài, các nhà kinh doanh nước ngoài trong lĩnh vực máy tính với các tên hiệu lớn rất quan tâm đến Hạ Long với mục đích mở rộng thị trường tại Việt Nam, trong một thời gian ngắn nữa Hạ Long có thể chính thức là công ty lớn nhất đại diện cho sự phân phối sản phẩm máy tính mang nhãn hiệu ACER tại Việt Nam, chính điều này sẽ thúc đẩy hoạt động của công ty ở mọi mặt trong thời gian tới. Với kinh nghiệm hiện có và với những sản phẩm đã có và sẽ có, công ty có khả năng tăng cường chất lượng sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh trong các dự án truyền thống vì vậy có thể nói trong lĩnh vực thiết bị văn phòng sẽ vẫn là lĩnh vực chính của công ty trong vài năm kế tiếp. Lĩnh vực cửa tự động Có thể nói rằng, cửa tự động là tương đối mới và hiện tại doanh thu của công ty về cửa tự động trong năm ngoái là không cao (350 triệu VNĐ, doanh thu đem lợi lợi nhuận khoảng 150 triệu) đóng góp một phần khiêm tốn trong tổng doanh thu và tổng lợi nhuận của công ty nhưng đó là một lĩnh vực khá hứa hẹn. Cùng với sự đầu tư và đổi mới, các dự án vẫn tiếp tục được đầu tư ở Việt Nam, nền kinh tế có những tăng trưởng, đầu tư vào cơ sở hạ tầng cũng như các dự án đầu tư khác được dự đoán trong năm nay sẽ tăng trưởng mạnh. Nhiều văn phòng sẽ được mở ra đồng thời sự mở rộng địa bàn của công ty từ Hà Nội ra cả nước cũng hứa hẹn một thị trường lớn hơn và triển vọng hơn đối với lĩnh vực này. Đặc biệt hơn nữa, sự đầu tư của nhà nước vào các công trình mang tầm quốc gia với ý nghĩa là bề mặt của sự ngoại giao và của đất nước (như trung tâm thể theo Seagame 2003 tại Mễ Trì, hay trung tâm công nghệ cao tại Láng Hoà Lạc...) thực sự mở ra cho cửa tự động một hướng đi rất rộng rãi. Mặt khác sự phát triển của quốc gia về mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội dẫn đến nhu cầu của con ngươì cũng tăng lên theo chiều hướng tích cực, mặt hàng cao cấp thực sự có chỗ đứng trên thị trường. Người tiêu dùng đã đặt vào những vấn đề hiệu quả và thẩm mỹ của sản phẩm đó chính là yếu tố sẵn có của cửa tự động (Autodoor), đó chính là thứ mà công ty đặt mục tiêu vào khai thác trong thời gian không lâu để có thể đứng ngang hàng với lĩnh vực thiết bị văn phòng sẵn có ở công ty. Thị trường cửa tự động thực sự đang mở rộng, nhất là với những công ty đã đặt chân vào nó từ trước đây như Hạ Long (Từ năm 1994). 3.4. Thách thức Từ phía người tiêu dùng: Trong lĩnh vực cửa tự động, người tiêu dùng mặc dù có ít sự lựa chọn người cung cấp nhưng họ lại có nhiều sự lựa chọn thay thế trong khi đó giá của một bộ cửa tự động khoảng từ (1600-2400$/bộ). Cửa tự động vẫn chưa được biết đến nhiều hay cụ thể hơn là chưa thông dụng ở Việt Nam, nó bị giới hạn phần nào về trình độ hiểu biết của người tiêu dùng và thói quen đầu tư ngắn (vừa và nhỏ) của thị trường Hà Nội. Sản phẩm này còn bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các sản phẩm thay thế và cơ cấu mặt bằng hạ tầng hiện tại. Còn trong lĩnh vực thiết bị văn phòng thì các khách hàng là các doanh nghiệp họ thường rất quan tâm tới giá cả, chất lượng, sự hiệu quả, dịch vụ hậu mãi, họ có kiến thức tốt, có sự lựa chọn phong phú nên có một sức mạnh đáng kể. Trình độ của người dân ngày càng được nâng cao nên sự đòi hỏi về sản phẩm trong lĩnh vực này thực sự là vấn đề cần được quan tâm. Từ phía nhà cung ứng: Công ty Hạ Long thường có mối quan hệ tốt đối với các nhà cung ứng bên nước ngoài nhờ vào mối quan hệ tốt cũng như chiến lược hợp lý, tuy nhiên vì công ty cũng khá phụ thuộc vào các nhà cung ứng về giá cả, thời gian và nhất là mẫu mã mà sản phẩm và các dịch vụ sau bán hàng như bảo hành sản phẩm theo chế độ hãng. Từ phía đối thủ cạnh tranh: Đối thủ cạnh tranh của công ty trong lĩnh vực cửa tự động thì không nhiều nhưng không phải không đáng nói. Cạnh tranh trong thị trường này chủ yếu là cạnh tranh về quan hệ chứ ít có sự đối đầu trực tiếp từ các công ty. Các công ty khác không chính thống như công ty Hạ Long nên sản phẩm của họ cũng không rõ xuất xứ, chính điều này đôi lúc làm cho Công ty Hạ Long gặp khó khăn trong cạnh tranh giá cả. Ngoài ra Đây là loại sản phẩm mới trên thị trường cho nên tên tuổi và xuất xứ của sản phẩm đôi lúc cũng làm cho Hạ Long chịu nhiều áp lực của đối thủ cạnh tranh. Trong thị trường truyền thống thì công ty chịu sự cạnh tranh từ các đối thủ trong và ngoài nước trong đó có các công ty mạnh của trong nước và các tập đoàn xuyên quốc gia của nước ngoài. Một khó khăn nữa mà các công ty khác có thể cạnh tranh với Hạ Long trong lĩnh vực này đó là giá sản phẩm cùng loại mà hàng loạt các công ty làm ăn không theo con đường chính thống đưa vào thị trường. Tuy sản phẩm này nhiều lúc không được đảm bảo về chất lượng nhưng nó làm ảnh hưởng rất nhiều đến giá cả mặt bằng của thị trường nói chung điều này rất bất lợi cho các công ty làm ăn chính thống như Hạ Long. Đối thủ tiềm năng Ngành công nghệ, ứng dụng công nghệ là một trong những ngành có sự

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docF0009.doc
Tài liệu liên quan