Đề tài Một số biện pháp mở rộng tín dụng có bảo đảm tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển trong thời gian tới

LỜI NÓI ĐẦU. 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG. 3

 

1.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng. 3

1.1.1. Khái niệm tín dụng. 3

1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng 3

1.1.3. Quy trình tín dụng ngân hàng: 4

 

1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng 15

 

1.3. Bảo đảm tín dụng và các hình thức bảo đảm tín dụng 17

1.3.1. Bảo đảm tín dụng 17

1.3.2. Các đặc trưng của tài sản bảo đảm 17

1.3.3. Các hình thức bảo đảm tín dụng 18

1.4. Cho vay thế chấp tài sản 21

1.4.1. Giám định tính chất pháp lý về quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng đất. 21

1.4.2. Định giá tài sản thế chấp 22

1.4.3. Xác định số tiền cho vay tối đa so với giá trị tài sản thế chấp. 22

1.4.4. Hợp đồng thế chấp tài sản 22

1.4.5. Thời hạn thế chấp và giải chấp. 23

 

1.5. Cho vay cầm cố tài sản. 23

1.5.1. Cầm cố hàng hoá 24

1.5.2. Chiết khấu ký hoá phiếu. 24

1.5.3. Cầm cố chừng khoán. 25

1.5.4. Bảo đảm bằng tiền gửi. 25

1.5.5. Bảo đảm bằng vàng 26

1.5.6. Bảo đảm bằng các khoản phải thu. 26

1.5.7. Bảo đảm bằng hợp đồng nhận thầu. 26

1.5.8. Bảo đảm bằng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. 27

 

1.6. Cho vay có bảo đảm bằng bảo lãnh. 27

 

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHO VAY CÓ BẢO ĐẢM TẠI SỞ GIAO DỊCH I - NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM. 31

2.1. Khái quát chung về Sở Giao Dịch I Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam: 31

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển: 31

2.1.2. Cơ cấu tổ chức: 32

 

2.2. Thực trạng cho vay có bảo đảm tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển. 35

2.2.1. Tình hình huy động nguồn và hoạt động tín dụng tại SGDI. 35

2.2.2. Tình hình cho vay có bảo đảm bằng tài sản tại Sở Giao Dịch I 46

2.2.3. Nghiệp vụ bảo lãnh 55

2.2.4. Cho vay cầm cố tài sản. 60

 

2.3. Đánh giá hoạt động cho vay có bảo đảm tại Sở Giao Dịch. 62

2.3.1. Thành tựu. 62

2.3.2. Một số mặt chưa đạt được trong năm qua. 64

2.3.3. Nguyên nhân 65

 

CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM MỞ RỘNG HÌNH THỨC TÍN DỤNG CÓ BẢO ĐẢM TẠI SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM. 67

 

3.1. Phương hướng, nhiệm vụ kinh doanh năm 2002: 67

3.1.1. Thuận lợi. 67

3.1.2. Khó khăn 67

3.1.3. Phương hướng: 69

 

3.2. Giải pháp. 71

3.2.1. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, quản lý điều hành và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ chi nhánh. 71

3.2.2. Xây dựng một chiến lược Marketing ngân hàng đúng đắn. 73

3.2.3. Nâng cao chất lượng thẩm định trước khi đưa ra quyết định cho vay. 78

3.2.4. Thu thập đầy đủ các thông tin về khách hàng. 80

 

3.3. Kiến nghị. 82

3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước 82

3.3.2. Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước. 83

3.1.1. Kiến nghị đối với NHĐT&PT Việt Nam 84

 

KẾT LUẬN 85

 

doc90 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 29/08/2015 | Lượt xem: 565 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Một số biện pháp mở rộng tín dụng có bảo đảm tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển trong thời gian tới, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chỉ nhận được lãi suất thấp hơn... Hiện nay Ngân hàng có quy định về lãi suất đối với các loại thẻ tiết kiệm, kỳ phiếu rút trước thời hạn là: Đối với các loại kỳ phiếu, tiền gửi tiết kiệm... nếu khách hàng rút trước hạn thanh toán thì chỉ được hưởng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn tính tại thời điểm rút tiền. Đối với kỳ phiếu 2, 3, 5 năm mà rút trước thời hạn thì được tính tròn năm và hưởng lãi suất tiết kiệm 12 tháng còn thời gian lẻ được hưởng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Đối với các loại kỳ phiếu thì có thể mang đến chiết khấu tại ngân hàng và chịu lãi suất chiết khấu cộng phụ phí của ngân hàng (chi phí chiết khấu). AGIO x 36000 LSCK = C x n AGIO = tiền chiết khấu (E) + tiền hoa hồng + thuế. C x t x n E = 36000 Trong đó LSCK là lãi suất chiết khấu AGIO là chi phí chiết khấu. t là lãi suất C là mệnh giá n là số ngày chiết khấu Với nguồn huy động khác (vay từ Ngân hàng trung ương, vay ngân hàng khác, vốn được tài trợ...) Trong năm 1999 Sở Giao Dịch huy động được 33 tỷ VND chỉ chiếm 0,8% trong tổng số nguồn vốn huy động của Sở Giao Dịch, tỷ trọng này sàng năm 2000 lại giảm xuống đáng kể chỉ còn 0,69% (tương đương với 32 tỷ VND) giảm 4% so với năm 1999. Nhưng sang năm 2001 lại có sự tăng mạnh từ nguồn huy động này tăng từ 32 tỷ VND năm 2000 lên 97 tỷ VND tăng 203% chiếm đến 1,85% trong tổng số nguồn vốn huy động của Sở Giao Dịch trong năm 2001. Với nguồn vốn huy động khá lơn Sở Giao Dịch I là nguồn cung cấp vốn lớn cho các doanh nghiệp, cho các dự án kinh tế lớn của đất nước. Tín dụng. Trên cơ sở nguồn huy động vốn như trên Ngân hàng cũng đã thực hiện hàng loạt danh mục đầu tư, cho vay theo đúng tính chất của một Ngân hàng hiện đại, đáp ứng phần nào nhu cầu vốn, của các doanh nghiệp, của nền kinh tế. Ví dụ tín dụng ngắn, trung, dài hạn, cho vay theo kế hoạch Nhà nước, cho vay uỷ thác, làm trung gian giải ngân vốn ODA, FDI, cho vay đồng tài trợ...nó thể hiện qua bảng 4. Bảng 4: Tình hình tín dụng của Sở Giao Dịch I Đơn vi: tỷ đồng. Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Tổng Chênh lệch (%) Tổng Chênh lệch (%) 1.Cho vay ngắn hạn 2 cho vay trung và dài hạn 3 Cho vay KHNN 4 Cho vay ủy thác ODA. 5 Cho vay tổ chức tín dụng khác. 6 Cho vay đồng tài trợ 565 547 2.147 409 10 381 939 726 2.491 357 43 342 374 179 344 -48 33 -41 166 133 116 87 430 90 1310 1.813 1.027 388 381 305 371 1.087 -1464 31 338 -37 140 250 41 109 888 89 Tổng 4.059 4.897 838 121 5.224 327 107 Nguồn: Báo cáo tài chính Sở Giao Dịch I. Với nguồn vốn huy động được tăng đều qua các năm. SGDI cũng đã thực hiện tốt công tác sử dụng và quản lý vốn, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng. Tính đên 31/12/2001, dư nợ tín dụng là 5.224 tỷ VND tăng 7% so với 31/12/2000 tương đương với 327 tỷ VND. Trong tổng số dư nợ đó thì lượng nội tệ đạt 2.677 tỷ VND chiếm 51,25% tổng dư nợ cho vay. Dư nợ bằng ngoại tệ (đổi sang VND) là 2.547 tỷ VND chiếm 48,75% tổng số dư nợ cho vay. Dư nợ tín dụng ngắn hạn trong năm 2001 tăng nhanh, nhất là nội tệ. Doanh số cho vay trong năm đạt gần 3.400 tỷ VND trong đó doanh số cho vay bằng VND là 2.400 tỷ VND. Đặc biệt chú trọng đến công tác Marketing, phục vụ tốt khách hàng sẵn có, mở rộng tìm kiếm khách hàng mới, chú trọng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đến 31/12/2001 dư nợ tín dụng ngắn hạn ngoài quốc doanh đạt 117 tỷ VND. Thực hiện chính sách khách hàng trên cơ sở các chỉ tiêu phân loại đánh giá khách hàng, xây dựng và thực hiện cho vay theo hợp đồng khung, hợp đồng hạn mức tín dụng thường xuyên cả bằng VND và ngoại tệ đối với các tổng công ty, các khách hàng có quan hệ thường xuyên, giảm thiểu hồ sơ thủ tục vay vốn nhưng vẫn bảo đảm an toàn tín dụng, áp dụng nhiều hình thức cho vay linh hoạt, cải tiến và nâng cao chất lượng giao dịch. Kết quả có nhiều khách hàng có doanh số và dư nợ thường xuyên lơn như: PETROLIMEX, Công ty dệt Hà nội, Công ty FPT, LILAMA, Tổng công ty cơ khí xây dựng, trung tâm kinh doanh VINACONEX, Công ty Cầu 12, Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ, công ty phá dỡ tàu cũ- XNK- VINASIN, Dệt Hà nội, các Công ty thuộc tổng công ty xây dựng Sông đà, Công ty đèn huỳnh quang ORION- HANEL... Tín dụng trung và dài hạn thương mại: Xác định đây là hoạt động chủ yếu của Sở Giao Dịch khi tín dụng KHNN giảm dần, ngay từ đầu năm 2001, Sở giao dịch đã triển khai tích cực công tác tín dụng đầu tư, chủ động tìm kiếm các dự án khả thi, tiếp xúc và làm việc với các doanh nghiệp nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ để có thể ký hợp đồng tín dụng. Doanh số cho vay trong năm 2001 đạt gần 2.000 tỷ VND, trong đó doanh số cho vay bằng đồng VND đạt gấp 3 lần và doanh số cho vay ngoại tệ đạt gấp 4 lần doanh số cho vay trong năm 2000 đưa số dư nợ tín dụng trung và dài hạn thương mại chiếm 42% tổng dư nợ. Trong năm Sở giao dịch đã ký kết được 44 hợp đồng tín dụng thương mại đầu tư trung và dài hạn với tổng số vốn 705 tỷ VND và trên 80 triệu USD, trong đó có một số dự án lớn với vốn vay đồng tài trợ như: nhà máy xi măng Chinfon Hải phòng, Tổng công ty Sông đà, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam- ký hợp đồng bổ sung 25 triệu USD, Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ, liên hiệp đường sắt Việt Nam, Tổng công ty xăng dầu... Tín dụng kế hoạch Nhà Nước. Ngân hàngn hanh chóng phối hợp với Tổng công ty điện lực hoàn thiện thủ tục &ký hợp đồng tín dụng đối với dự án IALY đã được ghi kế hoạch năm 2001, với tổng giá trị là 290 tỷ VND song chưa giải ngân được. Ta thấy rằng tín dụng theo kế hoạch Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tín dụng mà Ngân hàng cung cấp cho thị trường, nó chiếm đến hơn 50% vào các năm 1999, 2000 nhưng sang năm 2001 thì dư nơ tín dụng đối với kế hoach nhà nước chỉ còn 1.027 tỷ VND giảm 1464 tỷ VND hay giảm 59% so với năm 2000 và chiếm 20% có thể do một số nguyên nhân sau. Ngay từ ngày đầu được thành lập theo quyết định số 76QĐ- TCCB ngày 28/03/1991 của Tổng giám đốc Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam. Sở mang bản chất là Ngân hàng của Nhà nước (Ngân hàng Quốc doanh) trực thuộc Ngân hàng đầu tư và phát triển. Trong thời kỳ này thì dư nợ tín dụng theo KHNN của Sở giao dịch chiếm tỷ trọng rất lớn, còn phần tín dụng thương mại chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Những năm gần đây đặc biệt là khi có quyết định: Sở Giao Dịch I Ngân hàng đầu tư phát triển trở thành Ngân hàng thương mại với đúng nghĩa của nó (tách rời hoạt động tín dụng thương mại với tín dụng có chỉ định của Nhà nước) thì tín dụng kế hoạch Nhà nước đã giảm đi một cách đáng kể. Năm 2001 chỉ còn là 1.027 tỷ VND chỉ chiếm có 20% tổng tín dụng và nó giảm đến hơn một nửa so với năm 2000. Còn đối với khoản tín dụng kế hoạch Nhà nước đã và đang cấp cho doanh nghiệp Nhà nước đang trong quá trình giải ngân thì bây giờ chuyển dẫn sang Quỹ đầu tư. Quỹ đầu tư chịu trách nhiệm về khoản tín dụng kế hoạch nhà nước. Với các khoản tín dụng kế hoạch Nhà nước này thì các doanh nghiệp nhà nước được nhận, chỉ chịu lãi suất thấp (lãi suất thấp ở đây không có nghĩa là lãi suất ưu đãi của Ngân hàng đối với doanh nghiệp đó). Thấp ở đây có nghĩa là với lãi suất mà Ngân hàng áp dụng với thị trường là r% thì doanh nghiệp nhà nước chỉ chịu mức lãi suât thấp hơn r% = (r - a)%. Số a là chênh lệch, nó sẽ do Nhà nước chịu và bù đắp lại cho Ngân hàng. Trong năm 1999 lãi suất Sở Giao Dịch áp dụng tín dụng kế hoạch Nhà nước là 1,1%/tháng thì các doanh nghiệp nhà nước chỉ chịu 0,8%/ tháng còn phần chênh lệch 0,3%/tháng là do Nhà nước cấp bù. Sang năm 2000 thì Nhà nước bù đắp mức lãi suất lên đến 5,4%/năm. Bên cạnh đó thì phần tín dụng với các tổ chức tín dụng khác cũng tăng một cách đáng kể. Năm 1999 đạt 10 tỷ VND chiếm 0,25% trong tổng tín dụng sang năm 2000 dư nợ này tăng lên 43 tỷ VND tốc độ tăng đến 330% chiếm 0,88 %, sang năm 2001 dư nợ đạt 381 tỷ VND tăng 788% chiếm 7,3%. Với khoản tín dụng cho vay đồng tài trợ ta thấy: doanh số giảm liên tục qua các năm. Cụ thể năm 1999 đạt 381 tỷ VND, sang năm 2000 chỉ còn 342 tỷ VND giảm 10 % sang năm 2001 đạt 302 tỷ VND giảm 11% so với năm 2000. Nguyên nhân của sự giảm số dư cho vay đồng tài trợ này là: Tại Sở Giao Dịch khoản cho vay đồng tài trợ chỉ phát sinh năm 1999 tổng là 381 tỷ VND, các năm 2000, 2001 không thấy phát sinh thêm dự án cho vay đồng tài trợ nào khác cộng với khoản tín dụng đồng tài trợ năm 1999 trên thì sang năm 2000, 2001 cũng đến kỳ trả nợ nên các bên đi vay thanh toán gốc và lãi theo đúng hợp đồng ký kết. Kết quả là doanh số dư nợ tín dụng đồng tài trợ giảm liên tục qua các năm 2000, 2001. Với sự tăng trưởng ổn định và vững chắc nguồn vốn kinh doanh, cộng với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong tác xét duyệt cho vay, lựa chọn danh mục đầu tư tối ưu nhất để nâng cao hiệu quả sử dụng, quản lý vốn của ngân hàng. Mà mục tiều cuối cùng của bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Lợi nhuận của doanh nghiệp hoạt động trong năm sẽ là chỉ tiêu quan trọng để phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Các ngân hàng thương mại hoạt động cũng không nằm ngoài mục đích đó. Kết quả hoạt động kinh doanh của Sở được thể hiện qua bảng đánh giá qua bảng sau: Bảng 5: Tình hinh hoạt động kinh doanh của Sở Đơn vị: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) 1. Tổng thu nhập 431.312 100,00 541.598 100,00 552.430 100,00 - Lãi cho vay 332.426 77,06 417.425 77,07 425.774 77,08 - Lãi tiền gửi 46.611 10,08 58.529 10,81 59.700 10,81 - Thu dịch vụ 10.751 3,23 15.012 2,77 20.839 3,77 - Thu khác 41.516 9,63 50.632 9,35 46.117 8,34 2. Tổng chi phí 380.415 100,00 478.387 100,00 481.580 100,00 - Trả lãi tiền gửi 201.625 29,70 253.543 53,00 255.236 53,00 - Trả lãi tiền vay 113.001 53,01 142.099 29,73 143.047 29,73 - Chi phí khác 65.789 17,29 82.745 17,27 83.297 17,27 3. Lợi nhuận 50.897 63.202 70.850 Nguồn: Báo cáo tài chính của Sở Giao dịch. Qua kết quả tại Bảng 5 cho thấy thu nhập hàng năm của Sở tăng lên, tuy chi phí có tăng theo nhưng lợi nhuận vẫn tăng một cách rõ rệt. Điều đó đã chứng minh rằng tình hình hoạt động của Sở ngày càng hiệu quả. Ngoài ra, Sở đang cố gắng thay đổi tỷ trọng dịch vụ trong tổng thu nhập, tỷ trọng này tăng lên và trong năm 2001 chiếm 3,77% tương ứng với số tiền là 20.839 triệu đồng. Xu hướng chung trong tương lai, Sở sẽ cố gắng tăng thêm các dịch vụ tiện ích như ATM, Home Banking... để tạo thu nhập cho ngân hàng. Tình hình cho vay có bảo đảm bằng tài sản tại Sở Giao Dịch I. Trong những năm qua, khi nhà nước ta đã và đang thực hiện công cuộc sắp xếp lại các doanh nghiệp Quốc doanh. Các hình thức tổ chức doanh nghiệp, công ty được thành lập ngày một nhiều nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao, phong phú, đa dạng của người tiêu dùng như các công ty tư nhân, công ty cổ phần công ty trách nhiện hữu hạn, công ty liên doanh, công ty nước ngoài, hợp tác xã… Chính đà phát triển của nền kinh tế nó đã kéo theo nhu cầu về vốn để sản xuất, tiêu dùng ngày càng nhiều đòi hỏi hệ thống tài chính, ngân hàng phải nỗ lực tăng cường các nguồn cung cấp cả về vốn lưu động cũng như vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nước ta. Nền kinh tế ngày càng phát triển, các ngành nghề hoạt động kinh doanh ngày càng nhiều, cộng với tính chất cơ bản của nên kinh tế thị trường là cạnh tranh khốc liệt và mục tiệu cuối cùng là thu được lợi nhuận của các nhà sản xuất kinh doanh. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng không nằm ngoại lệ đó. Nhưng bên cạnh vấn đề về lợi nhuận của ngân hàng thì vấn đề an toàn trong hoạt động của ngân hàng luôn luôn được đặt lên hàng đầu. Vì hoạt động của ngân hàng mang tính đặc thù riêng biệt của mình, nó liên quan đến tất cả mọi ngành, mọi nghề trong nền kinh tế. Sự an toàn trong hoạt động ngân hàng cũng chính là sự an toàn trong nền kinh tế. Vì vậy, các biện pháp mà ngân hàng áp dụng để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh nhằm giảm thiều tổn thất khi có rủi ro xảy ra như lập quỹ dự phòng, nâng cao công tác thẩm định dự án đầu tư, mua bảo hiểm, cho vay có bảo đảm bằng tài sản… Trong các biện pháp trên thì biện pháp cho vay có tài sản bảo đảm la tối ưu hơn cả. Tài sản bảo đảm cho khoản tín dụng nó vừa mang tính chất ràng buộc người đi vay có tránh nhiệm hơn với khoản tín dụng của mình và mặt khác tài sản này sẽ là nguồn thu thứ hai khi mà khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc không trả nợ. Chính vì lý do này mà các ngân hàng thương mại hiện nay thường ưa thích hình thức này hơn và nó có xu hướng ngày một tăng. Tình hình cho vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp trong một số năm gần đây của Sở Giao Dịch I Ngân hàng Đầu tư & phát triển Việt Nam được thể hiện qua bảng 6 dưới đây. Bảng 6: Cơ cấu tín dụng phân theo có bảo đảm và không có bảo đảm. Đơn vị:Tỷ đồng. Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Tổng Tỷ trọng (%) Tổng Tỷ trọng (%) Tổng Tỷ trọng (%) - Không có tài sản bảo đảm. - Có tài sản bảo đảm 3329 731 82 18 3.867 930 81 19 4179 1045 80 20 Tổng 4060 100 4.897 100 5224 100 Nguồn: Báo cáo tài chính Sở Giao Dịch I. Căn cứ số liệu bảng trên ta thấy rằng tình hình tín dụng có bảo đảm tại Sở Giao Dịch I chiếm tỷ trọng trên dưới 20% so với tổng khoản tín dụng của Sở Giao Dịch. Đây là tỷ trọng khá nhỏ, nhưng trên thực tế thì các khoản tín dụng của Sở Giao Dịch I đối với khách hàng chủ yếu là đối với doanh nghiệp Nhà nước (chiếm tới hơn 90%) mà dư nợ tín dụng với doanh nghiệp Nhà nước hay với khách hàng theo chỉ thị 12 cũng chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng dư nợ của Sở Giao Dịch năm 1999, 2000 chiếm hơn 50% sang năm 2001 chỉ còn 1.027 tỷ VND chỉ chiếm 20% trong tổng dư nợ của Sở (do chuyển sang Quỹ đầu tư), các khoản tín dụng này được Nhà nước bảo đảm cho Ngân hàng. Tuy nhiên, không phải tất cả cac doanh nghiệp Quốc doanh được phép vay theo chỉ thị 12 tại Sở đều được vay vốn. Quy trình vay vốn của doanh nghiệp Quốc doanh đó phải qua các bước sau: Tại các bộ các ngành (Bộ xây dựng, bộ công nghiệp, Bộ giao thông vận tải...) phân tích và đánh giá các dự án của mình lựa chọn các dự án khả thi rồi trình lên Chính Phủ để phê duyệt. Khi Chính Phủ phê duyệt các dự án này và chỉ định cho ngân hàng xét duyệt và cấp tín dụng cho dư án. Đối với các doanh nghiệp Quốc doanh được cấp tín dụng để thực hiện dự án trên thì phải có đầy đủ tài liệu cần thiết trình cho ngân hàng để ngân hàng xem xét, phân tích và phê duyết, rồi ký hợp đồng tín dụng với doanh nghiệp đó. Sau đó ngân hàng thực hiện như cam kết ghi trong hợp đồng tín dụng đã ký với doanh nghiệp. Để thấy rõ hơn về thực trạng tín dụng có tài sản bảo đảm tại Sở trong thời gian qua ta có thể phân tín dụng có tài sản bảo đảm theo: Tin dụng có tài sản bảo đảm phân theo thành phần kinh tế. Bảng 7: Tín dụng có tài sản bảo đảm phân theo thành phần kinh tế. Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Tổng Tỷ trọng Tổng Tỷ trọng So sánh (%) Tổng Tỷ trọng So sánh (%) 1.Doanh nghiệp ngoài quốc doanh. 2.Doanh nghiệp Quốc doanh. 22 709 3 97 32 898 3,44 96,56 145 127 47 998 4,5 95,5 147 111 Tổng 731 100 930 100 127 1.045 100 112 Nguồn: Báo cáo tài chính Sở giao dịch. Qua bảng trên ta thấy được tình hình tín dụng có tài sản bảo đảm tại Sở đa phần tập trung tại các doanh nghiệp Quốc doanh nhưng tỷ trọng này lại có xu hướng giảm qua các năm như năm 1999 đạt 709 tỷ VND chiếm hơn 97%. Sang năm 2000 đạt 898 tỷ VND tăng 27% so với năm 1999 nhưng tỷ trọng lại giảm xuồng chỉ còn chiếm 96,56%. Sang năm 2001 đạt mức 998 tỷ VND tăng 11% so với năm 2000 và tỷ trọng giảm xuống 95,5% trong tổng dư nợ cho vay có tài sản bảo đảm tại Sở. Trong khi đó thì tín dụng có tài sản bảo đảm lại có xu hướng tăng lên và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng dư nợ tín dụng có tài sản bảo đảm tại Sở như năm 1999 đạt 22 tỷ VND chỉ chiếm 3%. Sang năm 2000 đạt 32 tỷ VND tăng 45% so với năm 1999 và chiếm 3,44%. Sang năm 2001 đạt 47 tỷ VND tăng 47% so với năm 2000 và chiếm 4,5% trong tổng dư nợ tín dụng có tài sản bảo đảm. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta thì các hình thức doanh nghiệp cũng ngày càng được mở rộng, đa dạng và phong phú hơn. Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì ngày càng phát triển và đang giữ một vai trò khá quan trọng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Nhưng các ngân hàng thương mại hiện nay vẫn chưa chú trọng nhiều đến loại hình doanh nghiệp này nên đôi khi điều kiện vay vốn vẫn còn khắt khe hơn so với các doanh nghiệp Quốc doanh vì vậy mà làm hạn chế phần nào sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này. Tình hình tín dụng có tài sản bảo đảm phân theo thời hạn cho vay: Bảng 8: Tín dụng có tái sản bào đảm phân theo thời hạn cho vay. Đơn vị: tỷ đồng. Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2000 Tổng Tỷ trọng Tổng Tỷ trọng So sánh (%) Tổng Tỷ trọng So sánh (%) 1. Tín dụng ngắn hạn. 2. Tín dụng trung và dài hạn. 139 592 19 81 200 730 21,5 78,5 144 123 248 797 23,7 76,3 124 109 731 100 930 100 127 1.045 100 112 Nguồn: Báo cáo tài chính Sở giao dịch. Qua bảng trên ta thấy tín dụng có tài sản bảo đảm trung và dài hạn luôn luôn chiếm một tỷ trọng lớn nhưng nó lại có xu hướng giảm trong những năm gần đây như năm 1999 đạt 592 tỷ VND chiếm 19%. Sang năm 2000 đạt 200 tỷ VND tăng 44% so với năm 1999 và chiếm 21,5%. Sang năm 2001 đạt 248 tỷ VND tăng 34% so với năm 2000 và chiếm Tất nhiên, không phải doanh nghiệp Quốc doanh nào cũng được vay vốn theo chỉ thị 12 với các doanh nghiệp này và đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì tuỳ loại hình doanh nghiệp, tuỳ khả nămg tài chính, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, tuỳ vào phương án sản xuất kinh doanh, phương án trả nợ ngân hàng (nếu vay được vốn của ngân hàng) và tuỳ theo mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp vơi ngân hàng mà sẽ áp dụng hình thức cho vay có tài sản thế chấp hay không có tài sản thế chấp. Với phương trâm mở rộng hình thức tín dụng có bảo đảm tại Sở giao dịch nhăm tăng khả năng hoạt động kinh doanh và đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì trong năm năm 2000 hình thức tín dụng có bảo đảm đạt 930 tỷ VND tăng 19% (tương đương với 199 tỷ VND) so với năm 1999, năm 2001 tăng lên 21% (hay tương đương 179 tỷ VND) so với năm 2000. Do nhu cầu vốn của thị trường ngày càng tăng cộng với sự hình thành và phàt triển của các doanh nghiệp ngoaì quốc doanh (các công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã... các hình thức doanh nghiệp này đã khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường) và trong giai đoạn Công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, nhu cầu sử dụng vốn tăng đòi hỏi các Ngân hàng, tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ đáp ứng, cung ứng kịp thời và đầy đủ vốn cho nền kinh tế tạo đà phát triển cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, đứng trước những yêu cầu trên Ngân hàng cũng không thể nhắm mắt bỏ vốn bừa bãi, không tính toán và không phân tích tình hình kinh doanh của tổ chức kinh tế muốn vay vốn Ngân hàng. Một mặt Ngân hàng cần phân tích khả năng tài chính, khả năng phát triển kinh doanh của doanh nghiệp cần vay vốn , phân tích mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhiều đối tác kinh doanh khác về sự sòng phẳng trong thanh toán, về độ tín nhiệm của bạn hàng với doanh nghiệp...Bên cạnh đó Ngân hàng khi cho vay vốn với các doanh nghiệp này cần có tài sản bảo đảm cho khoản vay, tài sản bảo đảm ở đây có thể là: Tài sản cố định: nhà xưởng máy móc trang thiết bị.. Các nguồn thu cố định của doanh nghiệp Các giấy tờ có giá mà doanh nghiệp sở hữu Tài sản được đầu tư bằng vốn vay. Thế chấp quyền sử dụng đất... Trừ trường hợp các doanh nghiệp cần vay vốn là bạn hàng lâu năm có quan hệ mật thiết gắn bó và có độ tín nhiệm cao đối với Ngân hàng thì việc cho vay có thể không cần tài sản bảo đảm mà lại có thể được lợi thế về lãi suất, thời gian trả nợ, thời hạn tín dụng ... so với các doanh nghiệp mới đặt quan hệ với Ngân hàng. Ngoài lý do ở trên còn thêm một nguyên nhân nữa cần phải có tài sản bảo đảm cho khoản tín dụng của Ngân hànglà: Tài sản bảo đảm cho khoản tín dụng tuy nó chưa phải là thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng trong thời hạn tín dụng nhưng khi mà khoản tín dụng này có vấn đề (không có khả năng hoàn trả cho khoản tín dụng này của doanh nghiệp) nó trở thành nợ quá hạn và nợ khó đòi thì tài sản bảo đảm lúc này chính là nguồn thu thứ hai của Ngân hàng. Ngân hàng có thể thu hồi lượng vốn tín dụng mình bỏ ra nhờ phát mại tài sản này. Nhưng khi phát mại thì Ngân hàng lại gặp một số trở ngại là: Thương số lượng vốn thu lại không thể bù đắp hoàn toàn được số vốn đầu tư cho khoản tín dụng với doanh nghiệp đó do: Ngân hàng không thể định giá một cách chính xác tài sản khi nhận thế chấp. Quá trình thanh lý, phát mại tài sản thế chấp rất kho khăn. Bất động sản thường mua không đúng giá trị của nó. Đối với doanh nghiệp nhà xưởng, trụ sở làm việc xây dựng trên đất thuê của Nhà nước nên càng khó thanh lý vì thủ tục rườm rà và khó tìm được người mua có nhu cầu về loại tài sản này. Đối với hình thức tín dụng có tài sản thế chấp thì trong quy trình tín dụng có đôi nét khác biệt so với cac hình thức khác là: trong quá trình xét duyệt ngân hàng cần phải phân tích, đánh giá, xác định thêm giá trị của tài sản thế chấp. Đây cũng là một bước khá quan trọng trong quy trình cho vay của ngân hàng. Nếu các nhân viên của phòng tín dụng hay nhân viên ngân hàng tự đảm nhận trách nhiệm đánh giá tài sản thế chấp thì cũng gặp một số trở ngại khó khăn như: do thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực bất động sản và chưa nắm vững được giá cả thị trường về tài sản thế chấp. Nên việc đánh giá giá trị còn lại của tài sản này không chính xác làm. Nếu nhân viên đánh giá giá trị tài sản thế chấp thấp hơn giá trị thực của nó thì nó sẽ ảnh hưởng đến khả năng vay vốn của doanh nghiệp mà có thể lượng vốn mà khách hàng vay được ít hơn nhiều so với nhu cầu của dự án kinh doanh mình đề ra và đây là một trong những nguyên nhân làm cho dự án thất bại do không đủ vốn đầu tư vào. Do đó, khách hàng không có nguồn thu để khi đến hạn trả vốn vay tín dụng ngân hàng thì không thanh toán được. Còn về phía ngân hàng thì do không thu hồi được khoản tín dụng đã cấp cho doanh nghiệp dúng hạn nên làm tăng dư nợ tín dụng quá hạn của ngân hàng và khoản tín dụng này có nguy có trở thành khoản tín dụng khó đòi. Và làm mất nguồn vốn kinh doanh của ngân hành. Nếu nhân viên đánh giá giá trị của tài sản thế chấp quá cao và ngân hàng chấp nhận cho vay với khoản tín dụng mà khách hàng yêu cầu (trong khi giá trị tài sản thế chấp thì nhỏ hơn nhiều so với mức tín dụng mà khách hàng được hưởng). Đây sẽ là một sự rủi ro lớn cho ngân hàng khi mà khoản tín dụng này có vấn đề có thể là do nguyên nhân: Do khách hàng làm ăn không hiệu quả, thua lỗ nên không có khả năng thanh toán cả gốc và lãi cho khoản tín dụng này đến hạn thanh toán. Cũng có thể là do nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng vay: do việc đánh giá tài sản thế chấp quá cao và lượng tiền mà khách hàng vay được cũng lớn hơn so với giá trị thực có của tài sản thế chấp, làm cho khách hàng nảy sinh những so đo tính toán (liệu trong kinh doanh minh có đem lại lợi nhuận lớn hơn phần chênh lệch này không, mà có thể mất cả chì lẫn chài do gặp rủi ro trong kinh doanh và dẫn đên tình trạng tay trắng). Và cái lợi trước mắt đã làm lu mờ đi lý trí của con người và thế là khách hàng không thanh toán cho khoản tín dụng này khi điến hạn, chấp nhận mất tài sản thế chấp cho ngân hàng... Khi khách hàng không thực hiện cam kết như đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp của khoản tín dụng này bằng cách phát mại, thanh lý... nhằm thu hồi lượng vốn mà khách hàng đã chiếm đoạt của ngân hàng. Nhưng dù có dùng biện pháp gì đi chăng nữa thì tài sản thế chấp khi đem bán sẽ không thể bù đắp được số vốn cho ngân hàng do: ban đầu ngân hàng đánh giá giá trị của nó quá cao và bây giờ khi bán nó thì theo giá cả thị trường lại cộng với chi phí thanh lý, phát mại tài sản này làm cho lượng vồn thu về nhỏ hơn nhiều so với lượng vốn mà ngân hàng đã cho khách hàng vay. Vì vậy, nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng phần nào bị giảm sút giảm khả năng kinh doanh, cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường hiện nay. Nếu ngân hàng đi thuê các chuyên gia trong lĩnh vực này để đánh giá giá trị còn lại của tài sản thế chấp, thì nó sẽ đem lại sự chính xác, an toàn cho ngân hàng nhưng nó lại gây trở ngại cho khách hàng vì những chi phí cho việc đánh giá tài sản thế chấp thì khách hàng là người phải gánh chịu cộng với lãi suất khách hàng phải chịu cho khoản tín dụng này nữa nên chi phí cho khoản vay này lớn và có thể làm cho việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể bù đắp lại chi phí đã bỏ ra. Đây là điều mà doanh nghiệp, ngân hàng và nên kinh tế không mong đợi. Xin đơn cử ra đây một ví dụ để minh hoạ thêm việc khó khăn trong khi định giá các tài sản thế chấp mà ngân hàng cần đánh giá: một chiếc ô tô được sản xuất tại Nhật trị giá 300 triệu VND (quy đổi từ JPY sang VND) một doanh nghiệp mua và sử dụng dự tính khấu hao trong 5 năm thì hết giá trị của chiết ô tô đó. Đến năm thứ 3 thì doanh nghiệp đó bán cho một doanh nghiệp Việt Nam với giá trị còn l

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docL0217.doc
Tài liệu liên quan