Đề tài Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển công nghiệp hóa và kinh tế tri thức ở Việt Nam

Đại hội lần thứ X của Đảng đã xác định mục tiêu và phương hướng tổng quát của giai đoạn 2006 - 2010 là: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển văn hóa, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội; tăng cường an ninh quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người. Đến năm 2010, GDP gấp hơn 2,1 lần so với năm 2000. Trong năm 2006 - 2010, mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5 - 8 %/năm, phấn đấu đạt trên 8 %/năm.

doc33 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 1074 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển công nghiệp hóa và kinh tế tri thức ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
kinh tế dựa vào viện trợ và vay nợ. Thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thiết lập chế độ tem phiếu, bao cấp, ngăn sông cấm chợ,… thêm vào đó nước ta bị cấm vận kéo dài nên nền kinh tế rơi vào suy thoái trầm trọng. Nhận thấy tình hình đất nước đang bên bờ vực thẳm, Đại hội Đảng năm 1986 quyết định đưa đất nước ta vào giai đoạn mới: đổi mới. Thực trạng phát triển công nghiệp hóa và kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Những con số cụ thể: Trong gần hai thập kỷ thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt nhiều thành quả rất đáng mừng, nhất là tốc độ tăng trưởng cao, tạo nền tảng quan trọng sự phát triển kinh tế tri thức cũng như công nghiệp hóa, thể hiện ở các mặt sau: Về cơ cấu kinh tế, bước đầu đã hình thành một số ngành công nghiệp có tính chất chủ lực, tạo tiền đề cho phát triển nhanh nền kinh tế với tốc độ cao. Chỉ tính trong 10 năm, sản lượng dầu thô tăng gấp 6,1 lần, điện gấp 3 lần, thép cán gấp 14 lần…Xuất hiện một số ngành mới sử dụng công nghệ tiên tiến, tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm như lắp ráp ô tô, chế tạo đèn hình ti vi, có giá trị xuất khẩu. Hình ảnh một khu chế xuất Về kết cấu hạ tầng cơ sở, hệ thống giao thông vận tải được mở rộng, các trục giao thông liên vùng đã cơ bản nâng cấp; cải tạo nâng cấp nhiều cảng biển, cả nước hiện có 92 cảng, tổng chiều dài là 24.000m cầu tầu, hơn 3,2 triệu m2 kho bãi; mở rộng sân bay quốc tế ở cả ba miền, cả nước có 52 sân bay với nhiều máy bay hiện đại như Boeing 767, 777… và các đường bay trực tiếp sang châu Âu, Hoa Kỳ, các nước châu Á… Đến năm 2002, cả nước có khoảng 5,7 triệu thuê bao điện thoại cố định, 19 triệu thuê bao di động, 92% số xã có điện thoại; số hộ sử dụng điện lưới quốc gia tăng từ 58,6% năm 1990 lên 77% năm 2001, đạt 100% số xã vùng nông thôn các tỉnh đồng bằng sông Hồng có điện. Về mặt giáo dục, đã hình thành được đội ngũ lao động có tri thức, một số lĩnh vực đạt trình độ quốc tế, số lao động có trình độ đại học cao đẳng tăng gấp 2,3 lần năm 1989. Về quan hệ quốc tế, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh APEC lần thứ 14; gia nhập OPEC, WTO, ký hiệp định thương mại song phương Việt Mỹ… đã có quan hệ trao đổi thương mại với hơn 60 quốc gia trên thế giới. Bước đầu hình thành những ngành sản phẩm có ý nghĩa chủ lực, năng lực cạnh tranh ngày càng rõ nét; việc chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm được xác định để phát triển công nghiệp và các ngành dịch vụ, các vùng kinh tế trọng điểm và các thành phố lớn. Xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Dương … Thế nhưng hiệu quả kinh tế, chất lượng tăng trưởng còn rất thấp, nhiều vấn đề bức xúc về xã hội chưa được giải quyết, đang tiềm ẩn nguy cơ phát triển không bền vững. Nền kinh tế nước ta đang còn là nền kinh tế dựa chủ yếu vào tài nguyên và lao động tay chân, năng suất thấp, giá trị do tri thức tạo ra không đáng kể. Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn chiếm trên 70%, tỷ lệ nguồn nhân lực lao động có trình độ cao còn rất thấp, chỉ có 5% lao động có trình độ đại học, trên 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chỉ có 1,5% lực lượng lao động được qua đào tạo. Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chủ yếu là do vốn với tỷ lệ là 64%, TFP chỉ đóng góp có 19%. Cơ cấu kinh tế vẫn còn nặng về nông nghiệp và khai thác tài nguyên, thuộc loại cơ cấu kinh tế kém hiệu quả của các nước đang phát triển. Năm 2006 trong GDP tỷ lệ nông nghiệp còn chiếm đến 20,36%, công nghiệp 41,56%, dịch vụ chỉ 38,08%. Trong khi đó, tính bình quân trên toàn thế giới năm 1998, tỷ lệ nông nghiệp là 5%, công nghiệp 34%, dịch vụ 61%. Sức cạnh tranh còn thấp, đầu tư kém hiệu quả. Theo đánh giá của WB, năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2001 xếp thứ 62, năm 2002 xếp thứ 60 trong 80 nước tham gia xếp hạng. Hệ số ICOR trong những năm gần đây lên đến 5,1; có xu hướng là nền kinh tế vay mượn. Giá thành một số sản phẩm còn cao, không có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực, chẳng hạn, giá xi măng sản xuất trong nước cao gấp 1,2 - 1,3 lần giá xi măng quốc tế; các ngành sản xuất giấy, da giầy, công nghiệp chế biến,… mẫu mã kém, thấp thua so các nước khác. Giá trị xuất khẩu tuy khá cao nhưng kém hiệu quả. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nông sản ít qua chế biến và nguyên liệu thô dẫn đến sản lượng nông sản tăng mạnh nhưng doanh thu xuất khẩu nông sản giảm. Năng suất một số cây trồng còn thấp, ví dụ: lúa đạt 55,3 tạ/ha (Trung Quốc: 62,5 tạ/ha, Hàn Quốc: 62 tạ/ha), ngô đạt 31,1 tạ/ha (Trung Quốc: 54 tạ/ha, Úc: 80 tạ/ha). Tỷ lệ sản phẩm chế biến chỉ chiếm 24%, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch lớn: lúa 13 - 15%, rau quả 25 - 30%, lương thực 13 %, đường thủ công 30-40 %... Bảng 2 - Số liệu về hệ thống đổi mới Các chỉ số G7 Hàn Quốc Trung Quốc Malai-xia Thái Lan Inđônêxia Việt Nam FDI/GDP, % - 0,67 4,09 5,53 4,08 1,71 7,17 Chỉ số tđ công nghệ - 0,67 0,3 0,4 0,34 0,3 0,2 TM CNchế biến/GDP% 33,9 56,0 36,1 166,0 81,5 83,2 24,3 Cán bộ R&D /1 vạndân 35 16 6,5 4 5 6 6 Tạp chí KH/ 1 vạn dân 6,15 4,6 2,11 2,65 1,94 1,15 0,6 CN cao/SP chế biến,% 22,1 32 17 59 32 59 - Tổng chi R&D/GDP,% 2,27 2,82 0,66 0,24 0,13 0,22 0,4 Bảng 3 - Số liệu về nguồn nhân lực Các chỉ số G7 Hàn Quốc Trung Quốc Malaixia Thái Lan Inđônêxia Việt Nam Tỷ lệ biết chữ, % 99,0 97,6 83,5 87,0 95,3 95,0 93,1 Tỷ lệ đi học Trung học, % 109 100 62 98 88 77 61 Tỷ lệ đi học ĐH,CĐ, % 59,6 66 6 11 30 28 11 Số SV ĐH, CĐ/1 vạn dân 2096 2981 404 Bảng 4 - Số liệu về chỉ số công nghệ thông tin và truyền thông Các chỉ số so sánh G7 Hàn Quốc Trung Quốc Malaixia Thái Lan Inđônêxia Việt Nam Số ĐThoại/1nghìn dân 7,2 6,94 5,15 6.02 4,87 4,8 3,3 Số TV /1 nghìn dân 6,48 5,89 5,68 5,16 5,67 4,7 5,21 Số báo chí/1 nghìn dân 5,48 5, 97   - 5,06 4,14 4,37 1,39 Số PC/ 1 nghìn dân 5,7 5,2 2,5 4,23 3,12 2,83 2,19 Số internet host/1nghìn dân 5,97 4,62 0,52 3,35 2,29 1,17 0,52 Chỉ số sẵn sàng điện tử 4,88 3,1 4,29 3,53 3,27 2,42 Nguồn WB (2001) Chỉ số phát triển kinh tế tri thức theo phương pháp đánh giá của WB là 1,9 rất thấp so với các nước trong khu vực. Lượng truy cập mạng viễn thông và Internet của Việt Nam còn thấp so với khu vực và thế giới. Mạng viễn thông đường trục và liên tỉnh, mạng viễn thông quốc tế… tuy đã được mở rộng nhưng giá cả còn khá cao so với thu nhập của người dân. Phần lớn các thuê bao Internet tập trung chính tại các thành phố, tốc độ và chất lượng mạng còn rất thấp, trang web tiếng Việt còn ít, không hấp dẫn. Công nghiệp phần cứng chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng kim ngạch thị trường công nghệ thông tin của Việt Nam nhưng phần lớn chỉ dừng lại ở lắp ráp máy tính sử dụng các linh kiện nhập khẩu nước ngoài, hầu như không có hoạt động nghiên cứu, sản xuất khác. Tỷ trọng nhóm ngành công nghệ cao của nước ta ước khoảng 20%, trong khi đó Thái Lan là 31%, Singapore 73%, Malaysia 51%, theo tiêu chí để đạt trình độ nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải 60%. Tốc độ đổi mới công nghệ của cả nước đạt khoảng 10%, so với các nước tiên tiến trên thế giới là rất thấp. Trong công nghiệp, tỷ lệ doanh nghiệp tự động hóa chỉ chiếm khoảng 1,9%, bán tự động là 19,6%, cơ khí hóa 26,6%, bán cơ khí hóa 35,7%, thủ công 16,2%. Đánh giá chung về thực trạng phát triển công nghiệp hóa và kinh tế ở Việt Nam: Những số liệu trên nói lên rằng, nền kinh tế nước ta chưa thật sự dựa vào tri thức, chưa phát huy được tiềm năng trí tuệ con người Việt Nam, truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, tính ưu việt của chế độ chính trị xã hội. Đáng lo ngại hơn là khoảng cách so với các nước xung quanh trong hơn một thập kỷ qua không rút ngắn được mà còn có xu hướng doãng ra. Thách thức lớn nhất đối với nước ta hiện nay là trình độ chung về hiện đại hóa nông nghiệp còn thấp, thiếu công nghệ hiện đại, năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp tương đối thấp, công nghiệp và dịch vụ tuy đã hình thành nhưng còn nhiều bất cập. Là nước đi sau, Việt Nam còn gặp phải bất lợi trong cạnh tranh quốc tế, do năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp, hàm lượng vốn và trí tuệ trong sản phẩm không cao, lại thường bị động trong việc tuân thủ luật lệ quốc tế… Bên cạnh đó, ta phải đối mặt với tình trạng tài nguyên và môi trường ngày một xuống cấp, dân số và việc làm ngày một gay gắt. Tuy nhiên, chúng ta cũng có những thuận lợi bước đầu như: vị trí địa lý nằm ở trung tâm Đông Nam Á, nguồn lao động dồi dào, nhân công thấp, siêng năng, tiếp thu nhanh các công nghệ hiện đại, đây là lợi thế cạnh tranh vô cùng to lớn trong thời đại công nghiệp hóa tiến tới xây dựng kinh tế tri thức. Xác định rõ tình hình đất nước Đảng và nhân dân ta quyết tâm thực hiện “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [1, trang 86] Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM Mục tiêu phát triển công nghiệp hóa và kinh tế tri thức ở Việt Nam từ nay đến năm 2020: Kinh tế tri thức là chiếc chìa khóa vàng để phát triển công nghiệp hóa. Đại hội lần thứ X của Đảng đã xác định mục tiêu và phương hướng tổng quát của giai đoạn 2006 - 2010 là: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển văn hóa, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội; tăng cường an ninh quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người. Đến năm 2010, GDP gấp hơn 2,1 lần so với năm 2000. Trong năm 2006 - 2010, mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5 - 8 %/năm, phấn đấu đạt trên 8 %/năm. [2, trang 76] Theo tinh thần đó, đến năm 2020, nền kinh tế tri thức sẽ bắt đầu hình thành ở Việt Nam. Khi đó, GDP đầu người chỉ khoảng 16.000 - 20.000 USD, nhưng trình độ của nền sản xuất là tiên tiến: khoảng 50% GDP là do tri thức tạo ra, khoảng 1/3 lực lượng lao động là công nhân tri thức, trình độ công nghệ hiện đại, năng suất lao động cao, tốc độ tăng trưởng cao, có nền văn hóa phát triển với nhiều bản sắc dân tộc; đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân không ngừng cải thiện, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, không có sự cách biệt quá xa về giàu nghèo. [9, phần 4] Cụ thể như sau: Về cơ cấu kinh tế, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP đạt 90% trở lên, trong đó tỷ trọng công nghiệp đạt khoảng 40 - 50% GDP, tỷ trọng nông nghiệp còn khoảng 10% trở xuống. Về hội nhập kinh tế quốc tế, đạt trình độ cao, tăng xuất khẩu gấp 2-3 lần hội nhập với thị trường thế giới về nhiều lĩnh vực. Về trình độ hiện đại hóa, năng suất lao động xã hội đạt khoảng 10.000 USD/lao động/năm; áp dụng công nghệ hiện đại khoảng 60%, tỷ trọng lao động phi nông nghiệp đạt 70 - 75%; tỷ trọng lao động có trình độ cao đạt khoảng 30%, áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và quản lý kinh tế (100% công sở và doanh nghiệp sử dụng công nghệ thông tin). Về mức sống và văn hóa xã hội, chỉ số HDI đạt nhóm 30-40, tỷ lệ lao động được đào tạo đạt trên 70%, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở trong phạm vi cả nước, tuổi thọ bình quân là 75, nhà ở đô thị đạt trên 20m/người, cả nước không còn hộ nghèo, hệ số GINI nhỏ hơn 0,4. Về thể chế, chính sách, môi trường kinh doanh: Hệ thống đổi mới quốc gia được xác lập, hoạt động hữu hiệu, thúc đẩy mọi hoạt động của xã hội theo hướng sáng tạo. Mạng lưới này bao gồm hệ thống sáng tạo tri thức, hệ thống truyền bá và ứng dụng tri thức; các hệ thống này liên kết chặt chẽ với nhau, hoạt động nhịp nhàng, thúc đẩy sự sản sinh ra nhiều tri thức, nhân nhanh vốn tri thức, biến tri thức thành giá trị, bảo đảm cho thị trường hoạt động thật sự có hiệu quả và nền kinh tế quốc gia hội nhập vững vàng vào quá trình toàn cầu hóa. Về giáo dục, trình độ học vấn trung bình của lực lượng lao động đạt trên lớp 12, tỷ lệ học theo chế độ học tập suốt đời đạt ít nhất 1/3. Số sinh viên bậc cao đẳng và đại học đạt 1500 - 2000 người trên một vạn dân. Về năng lực khoa học công nghệ: theo kịp trình độ tiên tiến của thế giới, làm chủ các lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nanô. Ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả các công nghệ trên, đặc biệt là công nghiệp công nghệ thông tin có tốc độ tăng trưởng 35 %/năm, đảm bảo máy tính cá nhân thương hiệu Việt Nam có chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh, đáp ứng 90% nhu cầu nội địa và bước đầu xuất khẩu. Đặt ra mục tiêu đến năm 2010, ngành công nghiệp phần mền Việt Nam phải đạt tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 35 - 40%/năm, tổng doanh thu từ phần mềm và dịch vụ đạt trên 800 triệu USD/năm, xây dựng được trên 10 doanh nghiệp phần mềm có quy mô nhân lực trên 1000 người và 200 doanh nghiệp phần mềm có quy mô nhân lực trên 100 người. Những giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp hóa và kinh tế tri thức ở Việt Nam từ nay đến năm 2020: Đối với công nghiệp hóa: Về nông nghiệp và nông thôn, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nông thôn và đổi mới các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn; phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần, đa dạng hóa các loại hình tổ chức sản xuất - kinh doanh trong nông nghiệp và nông thôn trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật; làm tốt công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này; đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ vào phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, nâng cao năng suất lao động và thu nhập của nông dân; nâng cao trình độ và đảm bảo tính đồng bộ các nguồn đào tạo nông thôn thông qua chính sách đào tạo và dạy nghề. Về công nghiệp, cần nhanh chóng xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp đến năm 2020; cải thiện vai trò của Nhà nước trong việc chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển công nghiệp hướng tới việc huy động hữu hiệu các nguồn lực và khai thác tốt các tiềm năng của đất nước; chú trọng phát huy lợi thế so sánh và dựa trên năng lực cạnh tranh của các ngành trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; đặc biệt cần chú trọng đến việc huy động nguồn lực tiềm tàng của các loại hình doanh nghiệp. Về dịch vụ, cần tiến hành cấp bách việc rà soát các ngành dịch vụ để đánh giá hiện trạng, năng lực cạnh tranh, tiềm năng và xu hướng phát triển của chúng, trên cơ sở đó xây dựng một chiến lược phát triển các ngành dịch vụ của Việt Nam từ nay đến năm 2020; tăng cường huy động các nguồn lực trong xã hội bằng cách mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân và nước ngoài vào đầu tư, kinh doanh các ngành dịch vụ, giảm thiểu độc quyền nhà nước, tăng cạnh tranh trên thị trường; nhà nước cần có các chính sách trợ giúp thích hợp những doanh nghiệp mới tham gia đầu tư và kinh doanh các ngành dịch vụ nhất là về phát triển nguồn nhân lực. Đối với kinh tế tri thức: Việt Nam đặt mục tiêu phát triển nhanh để rút ngắn khoảng cách với các nước xung quanh. Muốn vậy, một trong những biện pháp quan trọng là đẩy mạnh tiết kiệm, đầu tư để tích lũy tư bản, nhưng quan trọng hơn là ngay từ bây giờ phải nổ lực làm cho nền kinh tế phát triển có hiệu suất sơ bộ. Cụ thể như sau: Một là, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, tạo nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa dựa trên tri thức. Điều kiện để tạo được lợi thế cạnh tranh trong thời đại ngày nay là đầu tư phát triển nguồn nhân lực đi đôi với cấu trúc lại nền kinh tế, đổi mới hệ thống hành chính. Do đó, vai trò của giáo dục và đào tạo là cực kỳ quan trọng. Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi, phát huy năng lực của những cán bộ giỏi, đầu đàn trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, quản lý kinh doanh, thực hiện việc đánh giá đúng và thù lao xứng đáng với kết quả lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức; xây dựng và thực hiện cơ chế đánh giá, tuyển chọn, và sử dụng hợp lý; thường xuyên giáo dục chính trị, đạo đức, không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ trí thức. Có sử dụng tốt thì mới có giáo dục tốt Có trọng dụng người tài thì mới có nhiều người tài. Hồ Chí Minh Hai là, tăng cường năng lực khoa học và công nghệ, thiết lập hệ thống đổi mới quốc gia, nhằm tăng cường khả năng làm chủ các tri thức mới của thời đại, tăng cường khả năng sáng tạo và biến tri thức thành giá trị. Trước hết là đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế, chuyển mạnh sang kinh tế thị trường, tạo môi trường kinh doanh sôi động, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền; kiên quyết xóa bỏ tận gốc mọi hình thức biến tướng của cơ chế bao cấp, thúc đẩy sự hình thành thị trường công nghệ, khuyến khích sự liên kết giữa các doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học; có chính sách ưu đãi mạnh mẽ để thu hút đầu tư nước ngoài về lĩnh vực công nghệ cao; phát triển mạnh các dịch vụ tư vấn. Ba là, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, đây là động lực mạnh mẽ thúc đẩy đổi mới mọi lĩnh vực đi nhanh vào kinh tế tri thức. Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong tất cả các ngành, các lĩnh vực để đổi mới và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân truy cập thông tin, thực hiện hài hòa giữa việc kiểm soát với quyền tự do thông tin, giữ gìn và phát huy bản sác văn hóa dân tộc, khắc phục sự cách biệt về thông tin giữa các vùng. Bốn là, đổi mới cơ chế chính sách, cải cách hành chính, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, là khâu đột phá đi vào kinh tế tri thức. Nhanh chóng hình thành, và hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế tri thức định hướng xã hội chủ nghĩa, để có thể thực sự giải phóng mọi lực lượng sản xuất, phát huy mọi khả năng sáng tạo, tạo điều kiện cho mọi người dân, mọi thành phần kinh tế phát huy hết khả năng của mình đóng góp vào phát triển sản xuất. Tiến tới thực hiện chính phủ điện tử để cho bộ máy Nhà nước có hiệu lực hơn, nhanh nhạy hơn và có trách nhiệm hơn, để thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được sâu sắc và toàn diện hơn. KẾT LUẬN Ngày nay trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang phát triển như vũ bão, nhiều công nghệ mới ra đời, trong đó công nghệ thông tin phát triển rất nhanh, nó đã và sẽ tiếp tục giữ vai trò tổng hợp trong sự tác động của con người đối với quá trình sản xuất và các hoạt động khác, đồng thời nó cũng đóng vai trò chuyển đổi một thời đại phát triển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế dựa vào tri thức. Và nền kinh tế dựa vào tri thức đến lượt nó lại mở đường cho các nền kinh tế đang phát triển, khả năng tiếp nhận công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin để cơ cấu lại nền kinh tế coi phát triển công nghệ thông tin là hướng ưu tiên hàng đầu để hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện chiến lược phát triển rút ngắn thông qua các hoạt động tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, vốn và tri thức kinh doanh, kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Xu thế toàn cầu hóa kinh tế đang mở ra nhiều cơ hội đối với các quốc gia, dân tộc trong những thập niên đầu thế kỷ XXI. Tuy nhiên, cũng đem lại không ít thách thức đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Chính vì thế, phát triển công nghiệp hóa gắn liền với kinh tế tri thức đã và đang, đưa Việt Nam tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, đó cũng là con đường ngắn nhất để ta có thể đi tắt, đón đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, như lời Bác Hồ căn dặn: “Nước Việt Nam ta có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn công học tập của các cháu…” DANH MỤC SÁCH THAM KHẢO Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, 2006 Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, 2006 Đặng Hữu, Kinh tế tri thức - thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 2004 Đặng Hữu, Phát triển kinh tế tri thức để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, 2004 Lê Cao Đoàn, Kinh tế tri thức trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện sự phát triển định hướng hiện đại, rút ngắn, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, 2003 Mác-Ăngghen, Toàn tập, tập 46, Nxb Chính trị quốc gia, 2000 Ngô Qúy Tùng, Kinh tế tri thức - xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2001 Website Đảng Cộng Sản Việt Nam, Những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế tri thức, ngày 25/11/2004, cập nhật lúc 16h29' Website Việt Nam Net, Đến năm 2020: 50% GDP sẽ do kinh tế tri thức tạo ra, ngày 13/02/2004, cập nhật lúc 6h11' Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê. PHỤ LỤC Một số tên viết tắt trong đề án: APEC (Asia Pacific Economic Cooperation): Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương. GDP (Gross Domestic Product ): Tổng sản phẩm quốc nội. GINI: Hệ số dùng để biểu thị độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. HDI (Human develop index): Chỉ số phát triển con người. ICOR (Incremental Capital Output Ratio): Hệ số giá trị sản phẩm gia tăng. OECD (Organization For Economic Cooperation and Development): Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế. TFP (Total Factor Productivities) : Năng suất tổng hợp WB (World Bank): Ngân hàng thế giới. WTO(World Trade Organization): Tổ chức thương mại thế giới. WB (World Bank): Ngân hàng thế giới. Bức tranh toàn cảnh CNTT Việt Nam 2006 21/12/2006 Năm 2006 với những sự kiện CNTT lớn, có những tác động sâu sắc đến nền kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước đang sắp sửa đi qua. Giờ là lúc chúng ta cùng nhìn lại những sự kiện ấy, cùng ngắm lại toàn cảnh bức tranh CNTT Việt Nam 2006. Sau đây là 20 "nét bút" ấn tượng nhất trong "bức tranh" đa sắc ấy, 20 sự kiện CNTT tiêu biểu 2006, do các nhà báo thuộc CLB nhà báo CNTT Việt Nam bình chọn. 1. Bill Gates đến Việt Nam. Ngày 22/4/2006, Bill Gates - Chủ tịch kiêm Kiến trúc sư trưởng Tập đoàn Phần mềm khổng lồ thế giới Microsoft đã có chuyến thăm đầu tiên tới Việt Nam, theo lời mời của Thủ tướng Phan Văn Khải. Cho dù chuyến thăm của nhà tỉ phú giàu nhất hành tinh chưa thể tạo ra những đột biến về đầu tư của Microsoft tại Việt Nam, song với tầm ảnh hưởng của Chủ tịch Bill Gates, đây được coi là sự kiện có tác động hết sức quan trọng tới sự phát triển của CNTT Việt Nam nói riêng và hình ảnh của Việt Nam trong con mắt cộng đồng thế giới nói chung. 2. Đầu tư của Intel vào Việt Nam - giấy phép 605 triệu USD và giấy phép tăng vốn lên 1 tỷ USD. Ngày 28/2/2006, Intel - Tập đoàn sản xuất bộ vi xử lý hàng đầu thế giới – đã chính thức được Chính phủ Việt Nam trao giấy phép đầu tư xây dựng Dự án Nhà máy lắp ráp và kiểm thử chip (ATM) tại Khu Công nghệ Cao TP. HCM, với vốn đầu tư 605 triệu USD. Chỉ 9 tháng sau, Tập đoàn này đã quyết định mở rộng quy mô và nâng mức vốn đầu tư dự án lên 1 tỷ USD, đưa nhà máy ATM của Intel tại Việt Nam trở thành nhà máy lớn nhất trong hệ thống các cơ sở lắp ráp và kiểm định chip bán dẫn của Intel trên toàn cầu. Sự kiện này một lần nữa khẳng định: Việt Nam thực sự là một điểm đến hấp dẫn của cộng đồng các nhà đầu tư nước ngoài. Sự kiện đã gây một tiếng vang lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút sự quan tâm của giới đầu tư nước ngoài về môi trường đầu tư của Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao. 3. Thêm hai mạng di động CDMA 096 và 092 đi vào hoạt động. Hai mạng di động CDMA là 096 của EVN Telecom và 092 của Hanoi Telecom đã cung cấp dịch vụ trong năm 2006. Thế nhưng, hai mạng di động này chưa thể tạo ra được “cú sốc thị trường” như mạng Viettel Mobile đã từng làm. Hết năm 2006, thị trường di động Việt Nam đã điểm đủ mặt 6 mạng di động, chia đều cho 2 công nghệ với 3 mạng di động sử dụng CDMA và 3 mạng di động sử dụng công nghệ GSM. Mạng 092 của Hanoi Telecom nhập cuộc khá muộn vào cuối năm với chương trình thử nghiệm “Một thế giới Free” - gần như miễn phí sử dụng cho người dùng trong giai đoạn thử nghiệm, hứa hẹn một sự sôi động mới cho thị trường thông tin di động vào cuối năm âm lịch 2006 và năm mới 2007. 4. Chính thức cho phép đăng ký tên miền cấp 2 .vn Ngày 14/8, Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) chính thức cho phép tất cả các tổ chức trong và ngoài nước đều có thể đãng ký tên miền cấp 2 .vn. Ngay lập tức số người đến đãng ký tên miền cấp 2 .vn đã tăng đột biến. Tên miền cấp 2 .vn có ưu điểm ngắn gọn và dễ nhớ và là điều kiện rất quan trọng cho việc phát triển thương mại của các doanh nghiệp và góp phần thúc đẩy việc phát triển Internet ở Việt Nam. 5. Thử nghiệm công nghệ WiMax. Bộ BCVT đã cấp phép cho 4 doanh nghiệp là VNPT, Viettel, VTC và FPT được thử nghiệm công nghệ WiMax trong thời hạn 1 năm. Ngày 27/10/2006, VNPT và Intel đã chính thức khai trương dự án thử nghiệm dịch vụ mạng WiMAX tại Lào Cai. Ngày 11/12, Viettel cũng chính thức công bố đưa vào sử dụng thử nghiệm dịch vụ này cả tại 3 loại thiết bị đầu cuối:trong nhà, ngoài trời và di động. Theo Viettel, dự kiến với sự chấp thuận của Bộ BCVT, WiMax di độ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCông nghiệp hóa và kinh tế tri thức ở Việt Nam- thực trạng và giải pháp.doc
Tài liệu liên quan