Đề tài Những quy định của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

MỤC LỤC

 

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I 3

MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TÍNH CẤP THIẾT 3

PHẢI CHUYỂN TỪ DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC SANG CÔNG TY CỔ PHẦN 3

1. Doanh nghiệp và Doanh nghiệp nhà nước 3

2. Khái quát chung về công ty CP 4

3. Cổ phần hóa - mục tiêu của CPH 5

4. Tính cấp thiết của việc chuyển từ DN 100% vốn nhà nước sang CTCP 5

CHƯƠNG II 9

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA 9

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 9

1. Mục tiêu cổ phần hoá 9

2. Quy định về đối tương cổ phần hóa 9

3. Quy định về đối tượng và điều kiện mua cổ phần 10

4. Hình thức cổ phần hóa công ty nhà nước 10

CHƯƠNG III 12

NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH 12

CỔ PHẦN HÓA 12

1. Tình hình cổ phần hoá các doanh nghiệp nước ngoài trong những năm qua 12

2. Những thuận lợi trong quá trình cổ phần hoá 13

3. Những khó khăn trong quá trình cổ phần hoá 14

4. Một vài kiến nghị để giải quyết những khó khăn 16

4.1. Về mặt lập pháp 17

4.2. Về mặt khác có liên quan 17

LIÊN HỆ THỰC TIỄN 19

1. Hình thức tiến hành cổ phần hoá 19

2. Khó khăn và thuận lợi khi tiến hành cổ phần hoá Vinaconex 21

3. Thành tựu sau khi cổ phần hoá 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

 

 

doc27 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 22/01/2014 | Lượt xem: 5261 | Lượt tải: 43download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Những quy định của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cầu bức thiết của công cuộc đổi mới DNNN nói riêng và nền kinh tế nói chung. Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận vai trò , đóng góp của DNNN cho nền kinh tế quốc dân với sắc lệnh số 10/SL ngày 1/1/1948 của CTN là cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc thành lập và hoạt động của DNNN. DNNN ở nước ta đã được thành lập từ cuối những năm 40 đầu những năm 50 của thế kỉ trước. trong từng giai đoạn lịch sử DNNN đã chứng minh được vai trò chủ đạo của mình dù trong cơ chế cũ hay trong cơ chế thị trường định hướng XHCN hiện nay. Trong thời kì trước năm 1985, DNNN đã phát triển với cơ cấu tương đối hoàn chỉnh, thể hiện vai trò chủ đạo: DNNN chiếm khoảng 85% vốn cố định của nền kinh tế, 90% lao động có trình độ. Hàng năm DNNN đã đóng góp 35-40% tổng sản phẩm xã hội và 28-30% thu nhập quốc dân, nộp ngân sách nhà nước với mức cao nhất so với các thành phần kinh tế khác. Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, theo sự chỉ đạo… Từ ĐHĐBTQ lần thứ VI (1986) Đảng xác định vai trò của kinh tế nhà nước vẫn là vai trò chủ đạo nhưng không giữ vị trí độc tôn trong nền kinh tế,chỉ nắm giữ những lĩnh vực then chốt. Trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2000 Đảng ta đã khẳng định: “Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển trong những ngành và lĩnh vực then chốt, nắm những doanh nghiệp trọng yếu và đảm đương những hoạt động mà những thành phần khác không có điều kiện hoăc không muốn đầu tư kinh doanh. Khu vực kinh tế quốc doanh được sắp xếp lại,đổi mới công nghệ và hỗ trợ các thành phần khác, thực hiện vai trò chủ đạo và chức năng của một công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước.” DNNN là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, gắn liền với vai trò quản lý của nhà nước đối với thị trường. Theo thống kê đến năm 1990, các DN đã tập trung vào các ngành, lĩnh vực then chốt, sức mạnh và hiệu quả kinh doanh tăng rõ rệt, tỉ lệ % do các DNNN tạo ra trong GDP tăng từ 36%(1991) lên 40,07%(1998), tỉ lệ nộp ngân sách cũng tăng từ 14,7% lên 27,9%. Bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực kinh tế nhà nước vẫn còn nhiều tồn tại: - Tốc độ tăng trưởng của DNNN chưa cao - Khả năng cạnh tranh của DNNN còn thấp so với DN có vốn đầu tư nước ngoài và chưa đủ sức hội nhập khu vực và quốc tế. Theo kết quả công bố của Bộ Thương Mại 18/10/2001, Việt Nam chỉ xếp 62/75 nước về chỉ số năng lực cạnh tranh. - Tình trạng trang thiết bị khoa học công nghệ còn lạc hậu, thiếu đồng bộ. - Quy mô DNNN còn nhỏ bé, nợ phải trả không có khả năng thanh toán lớn, lao động dôi dư còn nhiều, hơn nữa số lượng DNNN quá nhiều. Như vậy tình hình tài chính DN nhìn chung khó khăn, khó thích ứng với cơ chế năng động của nền kinh tế thị trường. Thực hiện sắp xếp lại DNNN, Đảng và nhà nước đã đưa ra nhiều giải pháp như: xác nhập, giải thể, phá sản những DN làm ăn thua lỗ, giao, bán, khoán, cho thuê DNNN, CPH, thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh… Trong đó, CPH được coi là giải pháp hữu hiệu nhất cho công cuộc cải cách DNNN ở Việt Nam. Lý do CPH được coi là quan trọng cần thiết được xem xét ở những khía cạnh sau: CPH với việc chuyển DNNN thành CTCP sẽ giúp DNNN sau khi chuyển đổi có thể đứng vững bằng chính khả năng của DN. Bởi lẽ CTCP là một loại hình DN tiến bộ với những ưu điểm nổi bật: + Thứ nhất, ưu điểm về sự phân tán rủi ro trong kinh doanh. CTCP có nhiều chủ sở hữu, số lượng cổ đông lớn, cộng với chế độ TNHH cho nên khả năng phân tán rủi ro cao hơn hẳn những DN khác. Đây là một ưu điểm thích hợp cho nền kinh tế thị trường. + Thứ hai, CTCP có khả năng huy động vốn nhanh với lượng vốn huy động thông qua phát hành chứng khoán. Đây là tính năng động cần có trong nền kinh tế thị trường. + Thứ ba, CTCP có nhiều ưu thế về quản lý và điều hành hoạt động DN. Cơ chế quản lý của CTCP tách biệt quyền sở hữu và quyền điều hành DN, loại bỏ sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan nhà nước. Đó là những ưu thế giúp CTCP thích nghi và kinh doanh đạt hiệu quả trong kinh tế thị trường. - Thông qua CPH với việc bán cổ phần của mình trong DNNN cho các đối tượng khác, nhà nước có thể thu hồi một lượng vốn nhất định vào các dự án khác khả thi và hiệu quả hơn, tháo gỡ khó khăn cho ngân sách nhà nước. - Thông qua CPH, với việc góp cổ phần của mình vào CTCP, người lao động sẽ có cơ hội làm chủ DN, nâng cao năng lực trách nhiệm của họ với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN bởi lúc này quyền lợi của họ gắn bó chặt chẽ với công ty hơn. - Thông qua CPH làm cho số lượng CTCP tăng, góp phần hình thành và phát triển thị trường chứng khoán. - Về phía nhà nước, cáí được lớn nhất thông qua CPH đó là điều chỉnh được cơ cấu nền kinh tế cho phù hợp với kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta, nâng cao sức mạnh cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế. CHƯƠNG II NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của đảng và nhà nước ta. Vì vậy để quá trình này được thực hiện thành công và đạt kết quả cần phỉa có khung pháp lý hoàn chỉnh và đầy đủ, vì vậy nhà nước đã ban hanh một loạt văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh các vấn đề liên quan đến cổ phần hoá hiện nay. Ví dụ như: Quyết định 143/HĐBT ngày 10/05/1990. về đổi mới hiện nay.Quyết định 202/TTG ngày 08/06/1992 về tiến hành thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.Thông tư36 ngày 07/05/1993 về tài chính trong doanh nghiệp được cổ phần hoá ….Và gần đây nhất là nghị định 109/NĐ-CP về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần. 1. Mục tiêu cổ phần hoá Nước ta ở từng giai đoạn ,từng thời kì mục tiêu được đặt ra ít nhiều mục tiêu khác nhau. Theo nghị định 109/2007/NĐ_CP ngày26/06/2007 có 3 mục tiêu cơ bản. Nội dung chính của ba mục tiêu đó là huy động vốn của các nhà đầu tư nuớc ngoài, và trong nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh; Đảm bảo hài hoà lợi ich của các đối tượng tham gia doanh nghiệp. Thực hiện công khai minh bạch, tránh tình trạng cổ phần hoá khép kín. 2. Quy định về đối tương cổ phần hóa Qua 15 năm thực hiện cổ phần hoá những quy định về cơ phần hóa cũng thay đổi khá lớn. Điều 2- quy định 202/1992/CT đã đưa ra đối tượng cổ phần hoá là: “ có quy mô vừa, đang kinh doanh có lãi hoặc trước mắt tuy gặp khó khăn, nhưng có triển vọng sẽ hoạt động tốt không thuộc diện những doanh nghiệp cần thiết phải giữ 100% vốn nhà nước”. Đây là quy định thí điểm nên việc lựa chọn như vậy phù hợp với tình hình thực tế và không quá mạo hiểm. Đến nay điều 2 nghị định 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần quy định cụ thể là:” công ty nhà nước thuộc các bộ ngành đối tượng công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước (kể cả ngân hàng thương mại nhà nước); công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ công ty con; công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc tổng công ty do nhà nước quy định dầu tư và thành lập; đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty nhà nước độc lập….”. Như vậy nhà nước chỉ nắm giữ 100% vốn đối với những công ty hoạt động trong ngành, lĩnh vực thực sự quan trọng như an ninh quốc phòng…. Việc ngày càng mở rộng cổ phần hoá các công ty được coi là tâm điểm và là điểm mới, ví dụ như lĩnh vực ngân hang tài chính 3. Quy định về đối tượng và điều kiện mua cổ phần Sau khi cổ phần hoá, điều đáng quan tâm là ai có thể nắm giữ cổ phần. Đó là điều được quan tâm kịp thời về mặt pháp luật cho các chủ thể nắm giữ cổ phần trong doanh nghiệp. Từ chỗ pháp luật chỉ quy định bán cổ phần cho cán bộ công nhân viên chức trong doanh nghiệp, cho các tổ chức kinh tế xã hội, cho các cá nhân trong nước. Cho đến nay, pháp luật cổ phần hoá đã mở rộng và công bằng cho các chủ thể tham gia vào tiến trình cổ phần hoá. Đến nay việc sở hữu cổ phần cổ phiếu không còn khó khăn đối với cá nhân tổ chức trong nước, và với cá nhân tổ chức nước ngoài, người việt nam định cư ở nước ngoài. Cụ thể hơn những quy định nay được quy định tại điều 6 nghị định 109/2007/NĐ-CP. Nội dung chính của điếu 6 chia đối tương mua cổ phần thành ba nhóm chính, đó là nhà đầu tư trong nước, nhà đầu nước ngoài, và nhà đầu tư chiến lược, Đồng thời cung quy định cụ thể quyền và điều kiện mua cổ phần 4. Hình thức cổ phần hóa công ty nhà nước Tại điều 4 NĐ 109/2007/NĐ-CP đã quy định cụ thể bằng 3 hình thức: - Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành them cổ phiếu để tăng vốn điều lệ - Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước, vừa phát hành them cổ phiếu để tăng vốn điều lệ. - Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành them cổ phiếu để tăng vốn điều lệ Theo giáo trình luật kinh tế của trưòng đai học quốc gia khoa luật có thể biểu diễn ba hình thức trên dưới dạng hình vẽ như sau: CHƯƠNG III NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA 1. Tình hình cổ phần hoá các doanh nghiệp nước ngoài trong những năm qua Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước được tiến hành thí điểm từ tháng 6 năm 1992. Tính đến ngày 31/12/2005 cả nước đã cổ phần hoá được 2945 doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, doanh nghiệp thuộc các nghành công nghiệp, giao thông, xây dựng chiếm 66%, ngành thương mại, dịch vụ chiếm 27,6%, ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp chiếm 6,4%. Phân theo chủ sở hữu, doanh nghiệp thuộc các tình thành phố trực thuộc trung ương chiếm 61,7%; thuốc cá bộ, ngành chiếm 29%, thuộc các tổng công ty 91 chiếm 9,3%. Phân theo quy mô vốn, doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm 54%, từ 5 tỷ- 10 tỷ đồng chiếm 23%, trên 10 tỷ đồng chiếm 23%. Đơn vị có nhiều doanh nghiệp được cổ phần hoá là các bộ : Bộ công thương, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ xây dựng, Bộ giao thông vận tải; các thành phố là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng; các tình Khánh Hoà, Quảng Ninh, Nam Định, Nghệ An, Thanh Hoá… Tuy nhiên có nhiều đơn vị triển khai cổ phần hoá chậm như các tình Cà Mau, Kiên Giang, Lai Châu Công tác sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh sau khi thủ tướng chình phủ phê duyệt đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước của các Bộ ngành, địa phương, tổng công ty 91 theo tinh thần Nghị quyết trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 9 ( khoá IX ). Giai đoạn này ( 2001- 2005 ), cả nước sắp xếp được 3590 doanh nghiệp nhà nước, trong đó đã cổ phần hoá được 2347 doanh nghiệp nhà nước, bằng gần 80% toàn bộ doanh nghiệp đã cổ phần hoá, hoàn thành kế hoạch cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước theo đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Nhìn chung các doanh nghiệp sau cổ phần hoạt động đều có hiệu quả hơn. Theo báo cáo của các Bộ, ngành địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hoá đã hoạt động trên 1 năm cho thấy: vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu bình quân tăng 23,6%; lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%; trên 90% số doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá hoạt động kinh doanh có lãi; nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%; số lao động tăng bình quân 6,6%; cổ tức bình quân đạt 17,11%. Cổ phần hoá tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ trong doanh nghiệp 2. Những thuận lợi trong quá trình cổ phần hoá Sau hơn 15 năm thực hiện quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện thí điểm từ 1992, có thể nhận thấy một số thuận lợi khi thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta: - Sự chỉ đạo kiên quyết của Đảng , Nhà nước và Chính phủ; - Công tác chỉ đaọ thực hiện sát sao cụ thể của Bộ, nghành, địa phương; - Văn bản hướng dẫn của Chính phủ , Bộ, Nghành đầy đủ, kịp thời nhất là sự đồng bộ của các loại văn bản trên đã tháo gỡ được khó khăn vướng mắc cho các doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hoá. Phải kể tới những nỗ lực của nhà nước để hoàn thiện khung pháp lý chuẩn xác và phù hợp hơn, thủ tục thuận lợi hơn. Cùng với đó là những chủ trưong kế hoạch đổi mới, cố phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã được Thủ tướng phê duyệt. Bên cạnh đó, những chính sách phát luật về các ưu đãi với doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa, các chính sách ưu đãi với người lao động trong các doanh nghiệp cũng là những thuận lợi để thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá. Đề ra các giải pháp xử lý các khoản nợ khi cổ phần hoá. - Phải kể tới những kinh nghiệm thu được sau 15 năm thực hiện quá trình cổ phần hoá. Nhà nước, các doanh nghiệp đã thu được những bài học quý giá để tiến hành cổ phần hoá thu được kết quả tốt hơn. - Cũng phải kể tới sự ra đời và phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán cũng là một trong những thuận lợi trong quá trình cổ phần hoá. Một lí do nữa để chúng ta thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá ở nước ta đó là việc Việt Nam gia nhập WTO cũng tạo bước đà tốt để chúng ta thực hiện có hiệu quả việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước. - Mô hình công ty cổ phần đã tồn tại ở nước ta từ rất lâu và phù hợp với Việt Nam. Các công ty cổ phần đã và đang hoạt động có hiệu quả cho thấy ưu điểm của mô hình doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hoá đã hoạt động có hiệu quả làm tiền đề để chúng ta tiếp tục thực hiện quá trình cổ phần hoá. - Các đối tượng để sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước và cố phần hoá đã tập trung hơn - Sự phối hợp có hiệu quả ngày càng tốt hơn giữa các Bộ, ngành địa phương trong quá trình tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. - Tinh thần làm chủ của những người lao động ngày càng lên cao cũng thúc đẩy quá trình thực hiện cổ phần hoá thực hiện và đạt được những kết quả tốt hơn. 3. Những khó khăn trong quá trình cổ phần hoá Trong quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước gặp rất nhiều khó khăn, các khó khăn đó có thể kể tới đó là: Thứ nhất là các khó khăn về tài chính : +) Việc xử lý tài chính, một số vấn đề tài chính vẫn chưa được xử lý dứt điểm gây khó khăn cho công tác cổ phần hoá cũng như hoạt động của công ty cổ phần sau khi đã được cổ phần hoá, đặc biệt đó là trong việc quyết toán cổ phần hoá. Đây chính là cản trở làm chậm tiến độ niêm yết trên thị trường chứng khoán của đơn vị cổ phần hoá. +) Ngoài ra còn có những khoá khăn, vướng mắc về chi phí cổ phần hoá, đào tạo lại người lao đông, giải quyết lao động dôi dư rất cần thêm những hướng dẫn chi tiết, cụ thể. +) Trong quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, vấn đề định giá doanh nghiệp cũng là một vấn đề nan giải. Dẫn tới ở nước ta, có tình trạng một số những doanh nghiệp nhà nước có giá trị lớn phải đi thuê những chuyên gia nước ngoài để tư vấn việc định giá doanh nghiệp +) Các doanh nghiệp cổ phần hoá chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ. Việc huy động vốn trong quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế +) Vốn nhà nước còn chiếm tỉ trọng lớn trong vốn điều lệ ở nhiều doanh nghiệp không thuộc diện cần giữ cổ phần chi phối +) Một khó khăn nữa là khi thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đó là thiếu nguồn tài chính để xử lý công nợ cho doanh nghiệp khi cổ phần hoá, hoạch định giá doanh nghiệp chưa phù hợp với cơ chế thị trường, thiếu công khai minh bạch trong cổ phần hoá làm cho tiến độ cải cách doanh nghiệp chậm hơn so với kế hoạch Thứ hai, bên cạnh những khó khăn liên quan tới tài chính cũng còn có những khó khăn trong việc thực hiện cổ phần hoá của nhà nước. Cụ thể: +) Một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra nhiều khó khăn và trở ngại trong quá trình cổ phần hoá. Đó chính là việc các văn bản quy phạm pháp luật về cổ phần hoá đã được sửa đổi bổ sung nhưng vẫn chưa theo kịp với yêu cầu và đòi hỏi của thực tế. Đây là nguyên nhân chính làm cho các doanh nghiệp trong diện cổ phần hoá còn băn khoăn, dẫn tới tình trạng các doanh nghiệp đã cổ phần hoá gặp không ít khó khăn vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh +) Bên cạnh đó các quy định về quản lý, giám sát thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện trực tiếp vốn nhà nước ở công ty cổ phần chưa đầy đủ +) Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong chỉ đạo hướng dẫn cổ phần hoá, giải quyết những tồn tại về tài chính, về quyền sử dụng đất… còn thiếu đồng bộ và kịp thời +) Hình thức cổ phần chưa đa dạng, hệ thống các quỹ đầu tư chứng khoán của công ty chứng khoán chưa phát triển +) Chưa chủ động xử lý dứt điểm các tồn đọng trước khi cổ phần hoá +) Do vừa làm vừa rút kinh nghiệm nên không rhể tránh khỏi việc “trả học phí”, chẳng hạn như việc cổ phần hoá “khép kín” +) Việc nhà nước thu phần lớn thặng dư từ phát hành thêm cổ phiếu trong khi vốn tại doanh nghiệp giữ nguyên đang khiến không ít đơn vị băn khoăn +) Một nguyên nhân có ảnh hưởng tới quá trình cổ phẩn hoá nữa chính là tình trạng can thiệp sâu của cơ quan quản lý nhà nước vào hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần, đã hạn chế quyền tự chủ của công ty và các cổ đông +) Quy trình cổ phần hoá chưa sát thực với thực tế +) Chính sách và quy trình cổ phần hoá ở nước ta vẫn dựa trên tư duy cũ +) Tốc độ cổ phần hóa còn chậm Thứ ba, việc cổ phần hoá doanh nghiệp cũng gặp những khó khăn do những nguyên nhân chủ quan gây ra, đó là: +) Tư tưởng nhận thức của cán bộ đảng viên và người lao động chưa thực sự quán triệt và quyết tâm thực hiện cổ phần hoá. +) Các doanh nghiệp được cổ phần hoá chưa xây dựng thành kế hoạch và chưong trình hoạt động của doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hoá +) Tâm lý hoài nghi, lo lắng chưa muốn sắp xếp, đổi mới, cổ phần hoá còn khá phổ biến trong cán bộ công nhân viên vì họ sợ thiếu việc làm, giảm thu nhập, không đủ tiền mua cổ phần +) Một bộ phận cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước, các cấp chủ quản còn chần chừ, do dự hoặc sợ mất quyền, lợi ích ở loại hình doanh nghiệp mới này, sợ không còn doanh nghiệp trực thuộc để chỉ đạo quản lý, sợ lệch hướng thành “Tư nhân hoá”. Nhất là đối với phần lớn các doanh nghiệp mà nhà nước không nắm giữ cổ phần hoặc các doanh nghiệp mà nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối. 4. Một vài kiến nghị để giải quyết những khó khăn Với những thuận lợi mà chúng ta đã tổng kết như trên, cần tiếp tục phát huy hơn nữa. Bên cạnh đó, cần nhanh chóng nhận diện những khó khăn và khắc phục những khó khăn ấy, nhằm mục đích phát huy hết tiềm năng vốn có của doanh nghiệp, tạo đà đưa kinh tế doanh nghiệp phát triển hơn . Chúng tôi trong quá trình nghiên cứu xin mạnh dạn đưa ra môt vài kiến nghị để góp một phần nào hoàn thiện doanh nghiệp sau cổ phần như sau : 4.1. Về mặt lập pháp Thứ nhất, cần có chính sách thoả đáng tròng vấn đế xử lý tài chính, một giải pháp chung tôi đề cập ở đây là quy định bắt buộc của nhà nước về vấn đế tài chính đối với doanh nghiêp nhà nước sau khi chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần. Nhà nước cần quán triệt chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đề cao trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp, đề phòng và khắc phục những lạc hậu tiêu cực trong cổ phần hoá.Nhà nước phải có những quy định chặt chẽ hơn trong định giá doanh nghiệp, quyết toán cổ phần hoá, quy định chi phí cổ phần hoá. Thứ hai, cần tiếp tục cải tiến quy trình cổ phần hoá gắn với quá trình cải cách hành chính Thứ ba, nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp lý, các chính sách thực hiện cổ phần hoá doạnh nghiệp nhà nước, xoá bỏ tình trạng cổ phần hoá khép kín, tăng lượng cổ phần bán ra ngoài doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư chiến lược tham gia với tỉ lệ, sở hữu vốn lớn hơn. 4.2. Về mặt khác có liên quan - Có những biện pháp kiên quyết đối với những người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị không thực hiện nghiêm chỉnh, có hành vi cản trở hoặc chậm trễ trong việc thực hiện cổ phần hoá - Đẩy mạnh, đa dạng hoá hình thức cổ phần hoá. - Khẩn trương ban hành mới và hoàn thiện các cơ chế quản lý doanh nghiệp sau khi cố phẩn hoá tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh tăng khả năng cạnh tranh, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước. - Cần phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội trong doanh nghiệp cổ phần hoá đối với quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp - Cần hoàn thiện cơ chế thị trưòng chứng khoán - Đẩy mạnh và tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến về chủ trương đổi mới, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, kết quả, kinh nghiệm của các doanh nghiệp làm tốt cổ phần hoá. KẾT LUẬN Qua những gì đã cùng bàn luận và phân tích về vấn đề chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang hình thức công ty cổ phần , chúng ta đã thấy rõ hơn phần nào về những lí do, những thuận lợi, hạn chế, cũng như thành tựu và hạn chế của vấn dề này. Cơ chế chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần ở Việt Nam (còn gọi là hình thức cổ phần hóa )còn rất nhiều hạn chế, tuy nhiên việc chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang hình thức công ty cổ phần đem lại những thành tựu to lớn. Cả thực tiễn và lý luận đều đã cho thấy cổ phần hóa là bộ phận cải cách doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả nhất: Thứ nhất, về lợi ích của Nhà nước: hạn chế sự can thiệp sâu của Nhà nước từ đó giảm chi phí cho Nhà nước, tạo được khả năng quản lý tốt và có hiệu quả cao hơn cho Nhà nước; thúc đẩy thị trường chứng khoán; thu hết vốn đầu tư nước ngoài. Thứ hai, về lợi ích doanh nghiệp: thu hút nhanh chóng vốn nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư kinh tế; nhanh chóng cấu trúc lại các doanh nghiệp về mọi mặt. Bên cạnh những thành tựu như trên, cũng phải nhận thức những khó khăn và hạn chế để đưa doanh nghiệp sau khi cổ phần thực sự lớn mạnh và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp, cho đất nước. Nếu không chú ý khắc phục nhanh chóng nhũng hạn chế thì hậu quả ngày càng trầm trọng, không tạo được đà cho nền kinh tế. Bằng nhiều phương pháp và công cụ, cả công cụ pháp lý từ phía Nhà nước, công tác quản trị nội bộ của bản thân công ty sau chuyển đổi thông qua các điều lệ lẫn hình thức kiểm soát doanh nghiệp. Tuy nhiên, luôn cần có sự hợp tác kết hợp từ nhiều phía để mang lại hiệu quả cao nhất, khắc phục những khó khăn nếu có; để đảm lợi ích không chỉ của cá nhân cổ đông, mà còn của bản thân công ty cổ phần và của nhà nước. LIÊN HỆ THỰC TIỄN Thực tế cổ phần hoá VINACONEX TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VÀ XÂY DỰNG VIỆT NAM – VINACONEXJSC - Toà nhà Vinaconex – Khu đô thị Trung Hoà Nhân Chính – Thanh Xuân – Hà Nội - Tel: 84.4.229250 / 84.4.2249210 - Fax: 84.42249208 - Email: vinaconex@fpt.vn - Được thành lập ngày 27 tháng 9 năm 1988 - Lĩnh vực hoạt động: Đầu tư kinh doanh bất động sản, xây lắp công trình, tư vấn thiết kế, sản xuất công nghiệp, xuất khẩu lao động, đầu tư tài chính, các lĩnh vực khác ( thương mại, du lịch, khách sạn…). - VINACONEX là một trong những doanh nghiệp nhà nước tiên phong trong việc cổ phần hoá doanh nghiệp. - VINACONEX được Chính phủ thí điểm thực hiện cổ phần hoá theo quyết định số 84/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ 1. Hình thức tiến hành cổ phần hoá - Bộ Xây dựng đã thống nhất để Vinaconex thuê hai công ty kiểm toán độc lập có uy tín vào kiểm toán tổng công ty trước khi xác định giá trị doanh nghiệp. Theo kết quả của hai công ty kiểm toán độc lập này, Vinaconex có tổng giá trị tài sản là 3.659,97 tỷ đồng, chêch lệch tăng so với sổ sách là 23,779 tỷ đồng, tổng giá trị phần vốn nhà nước là 601,233 tỷ đồng, chênh lệch tăng so với sổ sách là 28,953 tỷ đồng. Trong đó, giá trị lợi thế kinh doanh là 3,181 tỷ đồng, giá trị thương hiệu là 3,5 tỷ đồng. - Theo đề án, đối tượng bán cổ phần là rộng rãi,bao gồm cán bộ công nhân viên Tổng công ty, các đối tác chiến lược có quan hệ gán bó lâu dài, hợp tác có hiệu quả hoặc có tiềm năng hợp tác tốt. - Cơ cấu cổ phần được thực hiện theo nguyên tắc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối ( trên 51% vốn điều lệ ), cổ phần bán cho người lao động và các đối tượng khác là số cổ phần còn lại ( dưới 49% vốn điều lệ ). Giá bán cổ phần được thực hiện theo quy định của Nghị định 187/ 2004/ NĐ-CP: giá cổ phần bán cho cán bộ công nhân viên được hưởng ưu đãi giảm 40% so với giá đấu bình quân trên thị truờng, giá cổ phần bán cho các đối tác chiến lược giảm tối đa không quá 20% so với giá đấu bình quân trên thị trường, giá cổ phần bán rộng rãi cho các nhà đầu tư ( kể cả cán bộ công nhân viên Tổng công ty và đối tác chiến lược ) theo giá đấu thầu công khai. - Ngày 14 tháng 10 năm 2006, Vinaconex tổ chức bán đáu giá phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội với giá khởi điểm 11.000đồng/cổ phần. Vinaconex bán cổ phần cho cán bộ công nhân viên được hưởng ưu đãi giảm 40%, cho các đối tác chiến lược giảm 20%. - Ngày 1 tháng 11 năm 2006, tại trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội, Vinaconex đã tiến hành buổi bán đấu giá cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài đã mua được đến 62% trong tổng số 43 triệu cổ phần của Tổng công ty ( tương đương 28,67% vốn điều lệ của công ty ). Đã có hơn 2000 nhà đầu tư đăng ký tham gia phiên đấu giá với gần 159 triệu cổ phần được đăng ký mua, gấp 3,7 lần số lượng cổ phần được đưa ra đấu giá. Có 171 nhà đầu tư mua được cổ phiếu, mức giá thành công nhất là 53.000đồng, thấp nhất là 24.000 đồng. Các cổ phiếu đã được bán hết với giá bình quân 26.000đồng, cao gấp 2,3 lần mức khởi điểm. Vinaconex có tổng vốn điều lệ 1.5000tỷ đồng được chia thành 150 triệu cổ phần với mệnh giá 10.000 đồng / cổ phần. Sau khi cổ phần hoá, cổ phần nhà nước chiếm 63,53% vốn điều lệ ( tương đương 95.030.037 cổ phần ), các cổ đông khác chiếm 36,65% vốn điều lệ ( tương đươ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLDOCS (161).doc
Tài liệu liên quan