Đề tài Phát triển kinh tế trang trại ở nông thôn Việt Nam

MỤC LỤC

 

LỜI MỞ ĐẦU 0

NỘI DUNG CHÍNH 1

I. Định nghĩa và thao tác hoá những khái niệm cơ bản 1

1. Khái niệm “ phát triển” 1

2. Khái niệm “ trang trại” 1

3. Khái niệm “ kinh tế thị trường” 1

II. Đặc trưng của kinh tế trang trại và tiêu chí để phân biệt kinh tế trang trại với các loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp khác 2

1. Đặc trưng của kinh tế trang trại 2

2. Tiêu chí để phân biệt kinh tế trang trại với các loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp khác 2

III. Phân loại kinh tế trang trại 2

1. Phân loại theo cơ cấu thu nhập 2

2. Phân loại theo cơ cấu sản xuất 3

3. Phân loại theo hình thức tổ chức quản lý 3

4. Phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất 3

5. Phân loại theo phương thức điều hành sản xuất 4

6. Phân loại dựa vào quy mô sản xuất 4

IV. Điều kiện hình thành và phát triển trang trại 4

1. Điều kiện khách quan 4

2. Điều kiện chủ quan 4

V. Thế mạnh của kinh tế trang trại 5

VI. Thực trạng của kinh tế trang trại nước ta 6

1. Nguồn gốc kinh tế trang trại ở nước ta 6

2. Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở nước ta hiện 6

VII. Nhận xét, đánh giá chung về kinh tế trang trại ở nước ta 10

KẾT LUẬN 15

1. Những yếu tố đảm bảo sự phát triển hiệu qủa của KTTT 15

2. Những bước đi cơ bản ban đầu trong việc gây dựng và phát triển trang trại 16

3. Huy động các thành phần kinh tế khác, huy động đầu tư nước ngoài 22

4. Đa dạng hoá các loại hình tổ chức trang trại - đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi và tác động của thị trường 22

5. Thể chế học và kinh tế trang trại 22

6. Thanh niên với sự phát triển kinh tế trang trại 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

SƠ ĐỒ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA TRANG TRẠI 27

 

 

doc30 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 25/01/2014 | Lượt xem: 8199 | Lượt tải: 67download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phát triển kinh tế trang trại ở nông thôn Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ời quản lý. 6. Phân loại dựa vào quy mô sản xuất Trang trại nhỏ Trang trại vừa Trang trại lớn IV. Điều kiện hình thành và phát triển trang trại 1. Điều kiện khách quan Tác động của nhà nước Ruộng đất và chính sách ruộng đất Chế biến nông sản Hạ tầng cơ sở Sản xuất vùng chuyên môn hoá Liên kết kinh tế Môi trường, hành lang pháp lý 2. Điều kiện chủ quan Chủ trang trại Quy mô trang trại Quản lý sản xuất kinh doanh ( hạch toán + phân tích kinh doanh) V. Thế mạnh của kinh tế trang trại Được nhà nước khuyến khích phát triển bảo hộ Diện tích đất trồng, đồi núi trọc, đất hoang hoá còn nhiều ( nhất là các vùng trung du, miền núi, ven biển) Lao động nông thôn còn rất dồi dào Một số trang trại có thuận lợi về thị trường khi trực tiếp sản xuất và cung cấp giống tốt làm dịch vụ kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm cho nhân dân trong vùng. Huy động được lực lượng vố đầu tư rất lớn trong dân Hiện nay ở các nước phát triển trên thế giới, hình thức kinh doanh nông nghiệp phổ biến là trang trại, hàng năm sản xuất từ 60 - 90% khối lượng nông sản cả nước. ậ các nước dang phát triển, số hộ trang trại đã xuất hiện ngày càng nhiều thay thế dần các hộ tiểu nông. Ở nước ta số hộ tiểu nông hiện nay đang chiếm tỷ lệ tới 99%, số trang trại gia đình chỉ mới chiếm 1% ( 113.000 trang trai gia đình / 12 triệu hộ dân) Theo nghiên cứu của một số nhà khoa học nước ngoài thì quá trình phát triển ở các nước thường trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn tự cung tự cấp, giai đoạn kinh doanh tổng hợp và giai đoạn cách mạng hoá. Sản xuất hàng hoá là đặc điểm cơ bản trong sự khác biệt giữa kinh tế tiểu nông và kinh tế trang trại. Thì quy luật chung của nông nghiệp thế giới, ở nước ta tất yếu phải diễn ra quá trình chuyển biến từ hình thức sản xuất hộ nông dân sang hình thức sản xuất và kinh doanh của các trang trại. Dự báo về sự phát triển trang trại ở nông thôn nước ta, các nhà kinh tế cho rằng 20 năm tới, Việt Nam sẽ trở thành một cường quốc nông nghiệp, lúc đó nông dân chỉ còn dưới 50%, khoảng 30 triệu người. Có thể nói: Kinh tế trang trại như là hình ảnh của nền kinh tế hộ nông dân trong tương lai. Các nhà khoa học của nước ta đã viết: “Chúng tôi dự đoán đến thời kỳ 2010 - 2020 số trang trại gia đình sẽ chiếm khoảng 50 - 60% tổng số hộ nông dân. Khi đó kinh tế trang trại sẽ giữ vị trí quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp, chiếm tới 70 - 80% giá trị sản lượng toàn ngành nông nghiệp”. VI. Thực trạng của kinh tế trang trại nước ta 1. Nguồn gốc kinh tế trang trại ở nước ta Với chính sách đổi mới của nhà nước, kinh tế hộ nông dân dã phát huy mọi tiềm nănmg để vươn lên dần hoà nập vào nền kinh tế thị trường. Dưới tác động của các quy luật của các thị trường hàng hoá, một số bộ phận nông dân đã không chịu sống cảnh no đủ gia đình mà có ý chí vươn lên làm giàu bằng cách khai thác các ưu thế của đất đai, đồng vốn quay vòng. Sự hấp dẫn của lợi nhuận thị trường khiến họ đã sản xuất dư thừa để cung ứng cho thị trường. Chính đó là con đường xuất hiện và hình thành các trang trại, lúc đầu mới chỉ là lẻ tẻ bộ phận trong một số vùng, địa phương, sau nhanh chóng kan toả nhân rộng ra thành phong trào làm kinh tế trang trại. Nghị quyết 06 ngày 10/ 11/ 1998 của bộ chính trị đã viết: “ ở nông thôn hiện nay đang phảt triển mô hình trang trại nông nghiệp, phổ biến là các trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Một bộ phận trang trại ngoài lao động của gia đình có thể thuê thêm lao động để sản xuất kinh doanh quy mô diện tích đáat canh tác xung quanh mức hạn điền ở từng vùng theo quy định của pháp luật”. Từ đó cho thấy kinh tế trang trại nước ta bắt nguồn từ kinh tế hộ nông dân “ đây là sự nối tiếp và phát triển của hộ nông dân, phù hợp vơi sự chuyển đổi về kinh tế hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn nước ta thời gian tới” ( Bùi Tất Tiếp - Phó vụ trưởng vụ chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn). 2. Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở nước ta hiện Các yếu tố sản xuất của trang trại Đất đai của trang trại Đất đai của trang trại ở nước ta tính bình quân cho một trang trại là 6,663 ha. Trong đó có những tỉnh quy mô đất đai của một trang trại cao hơn như: Nghệ An (12,96 ha), Yên Bái (10,17 ha). Đất đai đã được giao cho trang trại chiếm 71,83% tổng quý đất, số còn lại 28,17% chưa được giao với nguồn gốc rất đa dạng và phong phú. Đất đai có được có thể do nhà nước cấp, các nông, lâm trường khoán cho công nhân và nông dân, do viêc chuyển nhượng đất đai để làm kinh tế trang trại, do thuê đất hoặc do tự khai phá... Nguồn vốn Vốn là một yếu tố cơ bản để phát triển sản xuất, phát triển kinh tế hàng hoá. Trong nông nghiệp, nhất là vùng đồi núi, các hộ nông dân sản xuất theo phương thức thự cấp, tự túc, muốn chuyển lên sản xuất hàng hoá phải có vốn. Trên thưc tế đang tồn tại một vòng luẩn quẩn: Thu nhập Sản xuất phát triển chậm Sức mua thấp Đầu tư thấp Thiếu vốn, đầu tư sẽ thấp, sản xuất kém phát triển và cứ thế sẽ tiếp nối vòng tuần hoàn luẩn quẩn. Từ vai trò của vốn trong quá trình tái sản xuất, nhiều nhà kinh tế thế giới đã rút ra hệ số gia tăng tư bản_ đầu ra (hệ số ICOR) liên quan đến tăng trưởng sản xuất nông nghiệp như sau: ICOR nằm giữa 1 - 2,5: Tăng trưởng chủ yếu dựa vào lao động, chưa chủ yếu dựa vào vốn. Đây là đặc trưng cho các nước nghèo, kinh tế hàng hoá ở giai đoạn sơ khai, chưa phát triển. ICOR nằm giữa 2,5 - 4,5: Là mức dùng tư bản đã bắt đầu tăng lên và thuộc các nước đang phát triển. ICOR cao hơn 4,5: Khi sử dụng công nghệ hiện đại, vốn đầu tư lớn và nguồn lao động hạn chế, thiếu lao động, tiêu biểu của các nước công nghiệp phát triển. Đối với hệ số ICOR trong những năm qua, nước ta mới ở ranh giới từ nghèo bước sang giai đoạn sử dụng mạnh mẽ vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế: 1990 ... 1,15 1996 ... 3,05 1991 ... 2,06 1997 ... 3,12 1992 ... 1,58 1998 ... 3,11 ... ... ... 1999 ... 2,98 1995 ... 2,93 2000 ... 2,58 Bình quân về vốn của trang trại là 291,43 triệu đồng. Cao nhất là Đắc Lắc (619,5 triệu đồng) và thấp nhất là Yên Bái (96,33 triệu đồng) Nguồn vốn của trang trại chủ yếu là vốn tự có ( bình quân vốn tự có chiếm 91,3%), vốn vay chiếm 8,7%, trong đó vay trực tiếp của ngân hàng chiếm 48,08%. Về lao động của trang trại Chủ trang trại có bằng từ sơ cấp trở lên chiếm 31%, chủ trang trại có trình độ văn hoá cấp II chiếm 69%. Lao động làm thuê: Số trang trại thuê lao động thường xuyên chiếm 33%, số trang trại thuê lao động theo thời vụ chiếm 67%. Mỗi trang trại nếu biết cân đối đúng giữa lao động và máy móc thì lợi nhuận thu về sẽ tối đa. Trong các trang trai hiện nay thường có 2 hình thức sử dụng lao động: một là sử dụng lao động tiềm năng ngay trong nội bộ gia đình, hai là thuê mướn nhân công ở ngoài. Hầu hết các trang trại đều thuê mướn nhân công, số này tuỳ thuộc vào quy mô trang trại lớn hay nhỏ và tính chất các khâu công việc của trang trại. Trang trại có quy mô từ 10 ha trở lên thường thuê từ 1-3 lao động thường xuyên, vào lúc thời vụ khẩn trương thuê từ 10-20 lao độn. Ở 2 tỉnh Bình Dương và Bình Phước, trang trại 20 - 30 ha canh tác phải thuê mướn vài ngàn ngay công từ bên ngoài. Trang trại Lâm nghiệp Đỗ Thập (Yên Bình) kinh doanh 300 ha rừng đã từng thuê thường xuyên từ 100 lao động trở lên Tổ chức hoạt động của trang trại Các loại hình sản xuất kinh doanh: có 9 loại hình sản xuất kinh doanh của trang trại: loại hình trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm chiếm 50%, còn lại là các trang trại trồng cây lâu năm, cây ăn quả,... Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất của trang trại Giá trị sản xuất bình quân của một trang trại là 5,4triệu đồng. Cao nhất là Đồng Nai (224,9 triệu đồng), thấp nhất la Quảng Ninh (22,5 triệu đồng) Cơ cấu giá trị sản xuất bình quân một trang trại đIều tra cho thấy: Trồng trọt chiếm tỷ lệ tương đối cao (57%), chăn nuôi chiếm 27%, thuỷ sản chiếm 14%, lâm nghiệp chiếm 2%. Kết quả và hiệu quả sản xuất của trang trại Quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá của trang trại bình quân 92 triệu đồng, tỷ suất hàng hoá 87%. Cơ cấu giá trị hàng hoá của trang trại khác nhau giữa các vùng, giữa các chủ hộ và giữa các trang trại có hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau. Thu nhập bình quân của trang trại là 46 triệu đồng chiếm 44% tổng thu. Thu nhập bình quân hàng năm của một lao động là 16 triệu đồng, của một nhân khẩu là 8 triệu đồng. Chỉ tiêu cho đời sống bình quân một trang trại là 24 triệu đồng/ năm (trong đó ăn uống chiếm 55%) Tổng giá trị tài sản phục vụ cho đời sống, bình quân một trang trại là 84 triệu đồng. VII. Nhận xét, đánh giá chung về kinh tế trang trại ở nước ta Về sản xuất hàng hoá: Kinh tế trang trại đã phát triển mạnh ở nhiều địa phương, nhiều vùng, nhất là vùng trung du miền núi và ven biển Kinh tế trang trại đã thực sự trở thành đơn vị tổ chức sản xuất hàng hoá. Chủ trang trại từ nông dân chiếm tỷ lệ rất lớn (71%). Họ là những người ít nhiều có kinh nghiệm sản xuất, gắn bó vớ xóm làng, đồng ruộng. Nông dân trở thành nguồn lực làm ăn giỏi với trang trại gia đình là loại hình chủ yếu. Tuy nhiên, phần lớn chủ trang trại xuất thân từ người sản xuất nhỏ hiểu biết về thị trường, khoa học kỹ thuật và quản lý còn hạn chế, lại thiếu vốn nên sản xuất quảng canh, hiệu quả thấp. Khi có biến động về thị trường, giá nông sản xuống thấp, tiêu thụ sản phẩm gặp kho khăn, thu nhập của các chủ trang trại bị ảnh hưởng. Một số trang trại lâm vào cảnh nợ nần phá sản, phải chuyển nhượng đất đai. Diện tích đất trống, đồi núi trọc còn nhiều. Quy mô trang trại ngày càng được mở rộng. Khi phát triển yếu tố quy mô trang trại trong quá trình phát triển nông nghiệp TBCN, Lênin nhận xét: “Con đường phát triển chủ yếu nông nghiệp TBCN chính là ở chỗ ấp trại nhỏ, tuy vẫn là nhỏ nếu tính theo diện tích, nhưng lại hoá thành ấp trại lớn, nên xét quy mô sản xuất, xét theo sự phát triển của việc sử dụng máy móc… là có những ấp trại “lớn” hơn về diện tích nhưng lại loại trừ bởi những ấp trại “nhỏ” về diện tích, nhưng có năng suất cao hơn, có trình độ thâm canh cao hơn…”. v Về vấn đề vốn của trang trại: Các ông chủ trang trại muốn thực hiện mục đích của mình cần phải có vốn ban đầu, có tích lũy ban đầu. Trong khi đó việc phân bố vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp và nông thôn chưa tương xứng với vị trí của nó trong nền kinh tế quốc dân.Vì vậy,để đạt được mục tiêu tăng trưởng hàng năm cần phát triển cây công nghiệp xuất khẩu, vườn rừng dạng chuyên canh, chăn nuôi ( kể cả đặc sản ),tăng trưởng trên mức trung bình .Các tiểu ngành này đang là ưu thế của mô hình kinh tế trang trại. Một thực trạng đáng lo ngại là tuy mức đầu tư tuyệt đối của ngân sách Nhà Nước vào nông nghiệp vẫn tăng lênn nhưng tỉ lệ đầu tư trực tiếp vào nông nghiệp trong tổng đầu tư lại giảm từ 20% năm 1990 xuống mức 10% năm 1995. Trong thực tế, tỉ lệ đầu tư vào nông nghiệp lớn hơn nhưng cho đến nay chưa có nguồn thống kê nào phản ánh được tổng khối lượng vốn đầu tư của Nhà Nước và của mọi thành phần kinh tế vào nông nghiệp nông thôn. Rõ ràng , nhân tố quyết định để tăng năng suất ,đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp là phải đầu tư vào nông nghiệp nhiều hơn ( cả về mức tuyệt đối và tỉ lệ ) tập trung cho cơ sở hạ tầng sản xuất , thúc đẩy việc nghiên cứu và ứng dụng kĩ thuật, công nghệ mới nhất là công nghệ sinh học. Cần có chính sách hỗ trợ vốn ( trung và dài hạn ) cho trang trại.Chính sách đó có vai trò quan trọng đối với việc khuyến khích và phát triển kinh tế trang trại. v Về mô hình sản xuất: Phần lớn các trang trại có phương hướng kinh doanh phù hợp với các vùng chuyên canh. Phương hướng đó góp phần quan trọng vào việc hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa lớn gắn liền với các trung tâm chế biến nông, lâm, sản. Tuy nhiên ở hầu hết các địa phương có trang trại phát triển chưa chủ động triển khai quy hoạch sản xuất , không có hệ thống thủy lợi, giao thông, điện nước, thông tin liên lạc, thị trường kém phát triển.Tình trạng an toàn xã hội không được đảm bảo nhất là các vùng sâu,vùng xa nên trang trại chưa phát triển được hết sức mạnh kinh tế của vùng. Mối quan hệ giữa quy mô đất đai và quy mô sản xuất mà Lênin phân tích trên đây hoàn toàn biện chứng khi quá trình sản xuất xã hội đã đi vào chiều sâu và nhằm vào mục đích hàng hóa lớn. ở Việt Nam, chừng nào sản xuất còn phát triển theo chiều rộng thì các quan hệ tương tác giữa quy mô đất đai với quy mô sản xuất ( so cùng một loại sản phẩm ) nhiều lúc lại theo tỉ lệ thuận. Vì thế lợi nhuận thu được sẽ không cao. Vấn đề nữa đặt ra là việc giao đất và tích tụ đất để làm kinh tế trang trại có phải là nguyên nhân làm trầm trọng thêm tình trạng phân hóa giàu nghèo ở nông thôn và làm tăng thêm số nông dân không có đất sản xuất hay không? Ví dụ ở Yên Bình: Nhà Nước giao quyền sử dụng lâu dài, ổn định đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp cho hộ. Đất nông nghiệp chiếm tỉ lệ thấp ( 28.3% ở Yên Bình so với 26.48% ở Yên Bái ),đất lâm nghiệp chiếm tỉ lệ 70% - 80% diện tích.Do không có chủ cụ thể nên đất nông nghiệp chia theo bình quân nhân khẩu, còn đất lâm nghiệp chia theo khả năng của hộ. Vì vậy mà 9.8% số hộ đã có cơ may tích tụ đất đai với quy mô lớn đủ làm kinh tế trang trại. Nếu giao đất lâm nghiệp theo khả năng các hộ trong điều kiện các huyện , các tỉnh miền núi còn rất nghèo thì khó thu hút được đông đảo dân nghèo làm kinh tế trang trại.Phần lớn tập trung vào các hộ giàu và khá,loại hộ trung bình trở xuống chiếm 83%.Cơ may xóa đói giảm nghèo bằng con đường làm nông nghiệp bị hạn chế hơn. Cũng vì thực hiện giao đất theo khă năng mà hiện nay những vùng đất gần, tiện đi lại đã giao hết còn những vùng sâu, vùng xa, vùng cao rất khó giao.Muốn đưa thêm bộ phận nông dân nghèo và trung bình vào nhận loại đất này thật không đơn giản. Thêm vào đó, do chủ trương của Đảng, Nhà Nước chưa được thể chế hóa,việc giao đất và cho thuê đất đai chưa được thực hiện chu đáo, nhiều trang trại chưa thực sự yên tâm đầu tư phát triển sản xuất.Còn khoảng 30% trang trại chưa được giao đất, thuê đất ổn định lâu dài. VII Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà Nước đối với Kinh tế trang trại. Kinh tế trang trại ( KTTT) có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta. Trong hội nghị lần 4 của BCHTW ( 12/1997) tiếp đó là nghị quyết 6 BCT ( lần 1) ngày 10/11/1998 đã nêu rõ “Nhà Nước khuyến khích phát triển KTTT hộ gia đình khai thác đất trồng, đồi núi trọc, mặt nước và đất hoang hoá để phát triển sản xuất” Căn cứ vào chủ trương của Đảng đối với KTTT, CP đã ban hành Nghị quyết số 03/2000/NQCP ngày 02/02/2000 về KTTT. Nghị quyết đã khẳng định về các tính chất ưu việt và vị trí của KTTT trong nền KT hàng hoá của ta hiện nay và về sau, đề ra một số chính sách lâu dàI của Nhà Nước đối với KTTT, xác định chính sách cụ thể về đất đai, thuế, đầu tư, tín dụng, lao động, khoa học, công nghệ, môI trường, thị trường, bảo hộ tàI sản đã đầu tư của trang trại, nghĩa vụ của chủ trang trại. Thi hành nghị quyết trên của chính phủ, liên bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN và PTNT), tổng cục thống kê đã ra thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT ngày 23/06/2000 hướng dẫn tiêu chí để xác định KTTT. Bộ NN và PTNT ra thông tư số 61/2000/TT ngày 06/06/2000 hướng dẫn lập quy hoạch phát triển KTTT. Về yêu cầu vay vốn của các chủ trang trại thì ngân hàng Nhà Nước được thực hiện quy định của thủ tướng chính phủ số 67/1999/ QĐ-TT ngày 30/03/1999 về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn. Đảng và Nhà Nước còn đưa ra kênh đầu tư vốn vào KTTT. Có thể xem xét 3 kênh: # Chương trình 327 ( xuất phát từ quyết định 327 ngày 15/9/1992 của chính phủ ) với nhiều dự án có hình thức, quy mô, nội dung rất đa dạng để sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng, bãI bồi ven biển và mặt nước.Tính đến cuối 1996, tổng số vốn đầu tư qua chương trình 327 đã thực hiện là 1.385 tỉ đồng. # Chương trình tạo việc làm theo NQHĐBT số 120 ngày 11/4/1992 từ vốn của ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn viện trợ quốc tế lập thành một quỹ quốc gia để hỗ trợ các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế và người lao động tự giảI quyết việc làm tạo việc làm mới, thu hút được nhiều lao động. Tổng số vốn hỗ trợ từ 1968 đến 1995 là 488.547 triệu đồng. # Thực hiện luật khuyến khích đầu tư trong nước, Nhà Nước đã thành lập quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia để giúp thực hiện những dự án đầu tư của các thành phần kinh tế vào những vùng, những sản phẩm…thuộc diện được hưởng ưu đãI của luật khuyến khích đầu tư trong nước. Ví dụ : Doanh số cho vay của ngân hàng nông nghiệp qua các năm đều tăng nhanh 1994/1993 1995/1994 Tổng số cho vay lĩnh vực NN và NT 103.6% 129.9% Trong đó Miền núi và trung du phía Bắc 106.7% 111.7% Đông Nam Bộ 141.2% 146.4% Tây Nguyên 170.9% 166.1% # CP còn có nghị quyết số 09/2000/ NQCP ngày 15/06/2000 về một số chủ trương , chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. KẾT LUẬN 1. Những yếu tố đảm bảo sự phát triển hiệu qủa của KTTT Các trang trại phát triển có hiệu qủa kinh tế phảI đảm bảo sự hợp lý và bền vững về phương hướng sản xuất, có kế hoạch ngắn hạn và dàI hạn hỗ trợ nhau trong 1 nội dung tổng thể trên cơ sở những điều kiện ngoại cảnh và nội tại nhất định. a, Điều kiện về môI trường kinh tế, pháp lí, và xã hội. - Sự tác động tích cực và kịp thời của Nhà Nước: Nhà Nước đưa ra những đường lối, chính sách có tính chất quyết định sự hình thành và tồn tại KTTT. Đồng thời Nhà Nước còn quản lý, điều tiết nền KT phát triển đúng hướng, khắc phục những biến động bất ổn của thị trường tự do gay thiệt hại cho xã hội và người sản xuất. - Sự hình thành các trung tâm, đơn vị thu mua, chế biến nông sản: Đây là những cơ sở sản xuất công nghiệp, tiêu thụ thường xuyên một khối lượng lớn nông sản để tạo ra những sản phẩm hàng hoá có giá trị hơn. - Sự phát triển kết cấu hạ tầng cơ sở hợp lí bao gồm đường giao thông, điện, thuỷ lợi, mạng lưới thông tin, và hệ thống thương mại, dịch vụ. - Sự tiến bộ của KHKT và công nghệ. b, Điều kiện nội tại của trang trại: - Phẩm chất và năng lực của người chủ trang trại : chính là ý chí vươn lên thắng nghèo nàn, có khát vọng lập nghiệp, làm giàu cho gia đình và quê hương, có khả năng quản lý và có ý thức học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, có khả năng tiếp thu và áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất. - Sự tích tụ đất đai, tiền vốn, lực lượng lao động có kỹ năng sản xuất để thực hiện sản xuất kinh doanh. - Sự thực hiện quản lý sản xuất kinh doanh trên cơ sở hạch toán và phân tích kinh doanh: Nội dung hoạt động của trang trại là sử dụng đất đai, tiền vốn, tạo việc làm cho người lao động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá , thu lợi nhuận cho trang trại. Do vậy nhất thiết phảI hạch toán và phân tích kinh doanh. Đây là nội dung cơ bản trong quá trình điều hành sản xuất kinh doanh của chủ trang trại, nắm vững hoạt động tàI chính: thu, chi và điều tiết một cách hợp lý, khoa học để chi phí sản xuất ở mức thấp nhất, đạt mức doanh thu và lợi nhuận cao nhất (chi phí chính là yếu tố cùng với doanh thu quyết định mức lợi nhuận). 2. Những bước đi cơ bản ban đầu trong việc gây dựng và phát triển trang trại a) Khởi sự kinh tế trang trại. - Chọn mô hình, lập quy hoạch sản xuất: + Cơ sở để chọn mô hình: dựa vào điều kiện tự nhiên, nguồn vốn, nguồn lao động, khả năng tiêu thụ sản phẩm, sở trường của chủ trang trại. + Lập sơ đồ quy hoạch: cần phù hợp yêu cầu về kinh tế, môI trường sinh tháI, đạt hiệu quả cao, bảo vệ môI trường tự nhiên. - Xây dựng kế hoạch sản xuất, quy trình kỹ thuật, lịch canh tác: + Kế hoạch sản xuất bao gồm: chỉ tiêu sản xuất, chỉ tiêu vật tư, chỉ tiêu lao động. + Quy trình kỹ thuật cụ thể cho tong loại cây trồng, vật nuôi. + Lịch canh tác, trồng trọt và lịch sản xuất trong chăn nuôI giúp cho chủ trang trại điều hành sản xuất một cách có kế hoạch, hiệu quả. - Tổ chức thực hiện và quản lý sản xuất: + Quản lý sản xuất: phải đảm bảo sử dụng đất đai hợp lý; quản lý chu trình sản xuất từ khâu khởi sự đến hoàn thành tiêu thụ sản phẩm một cách nghiêm ngặt, tiết kiệm, tránh thất thoát vốn, sản xuất kinh doanh theo hợp đồng kinh tế trên cơ sở luật pháp quy định, quản lí tài sản tổng thể theo niên hạn rõ ràng. + Quản lý tài chính: Là nội dung quan trọng và phức tạp. Do vậy việc hạch toán kinh tế cần đảm bảo: đầu tư chi phí ở mức cần thiết thấp nhất, hiệu quả sản xuất cao nhất, lãi suất cao nhất, chi phí hợp lý. + Quản lý nhân lực: Vấn đề này đòi hỏi chủ trang trại phải có kế hoạch chọn lựa, bồi dưỡng lao động của mình, cần đặt ra chế độ thưởng phạt hợp lý để kích thích tinh thần người lao động. + Quản lý thị trường, nguồn tiêu thụ sản phẩm: Muốn thực hiện tốt nội dung này, chủ trang trại phải nắm vững nhu cầu của thị trường bằng cách tiếp cận trực tiếp và thường xuyên, dự báo được những khả năng diễn biến và nhu cầu của thị trường, tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh lớn, đáp ứng được nhu cầu trước mắt và lâu dài của thị trường, bảo đảm tín nhiệm với khách hàng và có chế độ tiếp thị, khuyến mại hợp lý. b) Phát triển sản xuất kinh doanh: - Kinh doanh (KD) là gì: Kinh doanh là hoạt động diễn ra thường xuyên với mục đích thu lợi nhuận – KD là sản xuất hoặc thu mua hàng hoá để bán cho khách hàng hoặc cung cấp cho dịch vụ. Việc KD tạo ra cho mọi người công việc và thu nhập. - Ở nông thôn Việt Nam hiện nay có thể phát triển các hình thức KD sau: + Sản xuất chuyên canh để có hàng hoá + Thu mua, tích tụ sản phẩm để có nhiều hàng hoá. + Tổ chức sản xuất chế biến để tăng giá trị sản phẩm. + Mở quầy dịch vụ nông nghiệp và các dịch vụ dân dụng. + Phát triển nghề thủ công truyền thông hoặc nghề thủ công phục vụ nhu cầu trong vùng. - Đánh giá khách hàng: họ là ai, họ yêu cầu sản phẩm gì, sức mua của họ như thế nào, mua vào những thời điểm nào thì người sản xuất kinh doanh có thể lựa chọn cho mình 1 loại hình KD thích hợp, hiệu quả. - Đánh giá yếu tố cạnh tranh và yếu tố rủi ro: dù không thể xác định một cách chính xác về thời điểm, mức độ, thời gian. Song phải dự tính đầy đủ trong kế hoạch của mình để có những biện pháp giảm nhẹ ảnh hưởng xấu của những yếu tố đó. ðTrên những cơ sở đó lựa chọn loại hình sản xuất KD. - Hạch toán kinh tế trong sản xuất kinh doanh. + Yêu cầu vốn sản xuất KD: Sau khi tính toán toàn bộ chi phí cần thiết cho các loại sản xuất trong trang trại, chủ trang trại phải lên kế hoạch về vốn: số lượng vốn yêu cầu theo thời gian cụ thể trong năm và nguồn vốn. + Dự tính KD: thường căn cứ vào năng suất của sản xuất và giá trị kinh tế khi bán ra. Doanh thu là kết quả cuối cùng của sản xuất KD. Những chỉ tiêu cơ bản cần phải tính được. £ Năng suất, sản lượng của từng loại sản xuất. £ Giá bán sản phẩm từng loại, theo từng thời điểm trong năm, và ở một số khu vực tiêu thụ khác nhau. £ Sức tiêu thụ ở một số thị trường gần, cơ sở dịch vụ hoặc thương nhân.Với mỗi chỉ tiêu đó phải tính được1 tỷ lệ biến động có thể xảy ra. £ Công đoạn chế biến: Từ khối lượng sản phẩm ban đầu, công lao động để tính được giá thành sản phẩm đã chế biến. £ Những chi phí khác. + Hạch toán kinh tế, doanh thu là kết quả thu được song mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Để lập được kế hoạch doanh thu và chi phí, chủ trang trại cần có: Số liệu doanh thu (đã dự tính) Tổng cộng Tháng 1 ....Tháng 12 Tổng cộng Số lượng Đơn giá Thành tiền 1.Mía 2.Ngô 3.Lạc 4.Gà 5.Lợn ..... Tổng cộng - Số liệu chi phí cho sản xuất: Loại chi phí Tháng 1 ... Tháng 12 Tổng cộng Số lượng Đơn giá Thành tiền Giống Phân bón Lao động Thuốc trừ sâu Thuốc trừ dịch Thức ăn gia súc ... 10. Tổng cộng Từ đó thiết lập bản kế hoạch doanh thu và chi phí: Chi phí Tháng Cả năm 1 ... 12 Chi phí sản xuất Khấu hao Trả lãi vay vốn Sửa chưa dụng cụ Tiếp thị, quảng cáo Doanh thu bán hàng: Lợi nhuận: - Kế hoạch lưu chuyển tiền mặt: Căn cứ vào kế hoạch doanh thu và chi phí, thiết lập kế hoạch lưu chuyển tiền mặt: Thu tiền mặt Chi tiền mặt Vốn có sẵn Tiền vay Thu từ bán sản phẩm +Trồng trọt: Mía: Ngô: +Chăn nuôi: Gà: Lợn: Mua cây giống Mua con giống Mua phân bón Mua thuốc trừ sâu Mua thuốc trừ dịch Thuê lao động Thuê máy cày Trả lãi tiền vay Trả gốc tiền vay Chi sinh hoạt gia đình Tổng số: Tổng số: Dư tiền mặt cuối tháng Suy nghĩ xung quanh vấn đề kinh tế trang trại Trên cơ sở lý thuyết hệ thống, thuyết phát triển,..., chúng tôi đã tập trung đi sâu tìm hiểu những vấn đề cơ bản về phát triển kinh tế trang trại ở nước ta. Xoay quanh vấn đề này, chúng tôi có đưa ra một vài suy ngĩ, nhìn nhận dưới góc nhìn xã hội học. Bức tranh toàn cảnh về kinh tế trang trại Kinh tế trang trại đâu chỉ có ở nững vùng đồi núi đất rộng người thưa mà từ vùng đồng bằng ven biển, ven đô, tiềm năng kinh tế trang trại không phải ít. Những vùng bình quân diện tích thấp lại thích hợp với một loại hình nông nghiệp ít đất ( ở Pháp gọi là “ e’levage hors-sol”) ở đó phát triển nhiều loại trang trại Mini chăn nuôi lợn, gia cầm, đặc sản, nguồn thức ăn do công nghiệp cung cấp. Kinh tế trang trại không chỉ xuất hiện đơn độc trong một vùng mà đó là một bức tranh toàn cảnh nhiều vùng, giữa các vùng đều có mối liên hệ với nhau.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docXHH (45).DOC
Tài liệu liên quan