Đề tài Quy định của pháp luật về việc phát hành chứng khoán ra công chúng

MỤC LỤC

 

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1

Những vấn đề cơ bản về pháp luật chào bán chứng khoán 3

1. Khái niệm chứng khoán 3

1.1. Định nghĩa chứng khoán 3

1.2. Đặc điểm của chứng khoán 3

1.3. Phân loại chứng khoán 4

2. Chào bán chứng khoán 6

2.1. Khái niệm về chào bán chứng khoán 6

2.2. Phương thức chào bán chứng khoán 6

3. Pháp luật về chào bán chứng khoán 8

3.1. Khái niệm pháp luật về chào bán chứng khoán 8

3.2. Nội dung pháp luật về chào bán chứng khoán 9

3.2.1. Pháp luật về chào bán chứng khoán của doanh nghiệp 9

3.2.2.Pháp luật về chào bán chứng khoán của Chính phủ và chính quyền địa phương 12

CHƯƠNG 2

Thực trạng pháp luật Việt Nam về chào bán chứng khoán 13

1. Chủ thể chào bán chứng khoán 13

1.1. Chính phủ 13

1.2. Chính quyền địa phương 13

1.3. Doanh nghiệp 14

1.3.1. Chủ thể chào bán chứng khoán vốn 14

1.3.2. Chủ thể chào bán chứng khoán nợ 16

2. Các quy định của pháp luật về chào bán chứng khoán của doanh nghiệp 17

2.1. Các quy định của pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng 17

2.1.1. Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng 17

2.1.2. Các quy định về thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng 20

2.2. Quy định về chào bán riêng lẻ 22

2.2.1. Quy định về chào bán cổ phiếu 22

2.2.2. Quy định về chào bán riêng lẻ trái phiếu 27

3. Chào bán chứng khoán của chính phủ và chính quyền địa phương 29

3.1. Trái phiếu Chính phủ 30

3.2. Trái phiếu Chính quyền địa phương 31

4. Quản lý Nhà nước về chào bán chứng khoán ở Việt Nam 32

KẾT LUẬN 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN 36

 

 

 

doc37 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 30/10/2013 | Lượt xem: 1436 | Lượt tải: 14download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Quy định của pháp luật về việc phát hành chứng khoán ra công chúng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Sau khi chào bán cổ phiếu thành công, các công ty Nhà nước sẽ chuyển thành công ty cổ phần, chịu sự điều chỉnh của pháp luật về công ty cổ phần. Là một chủ thể khá đặc biệt nên trong việc chào bán cổ phiếu của công ty Nhà Nước cũng có những đặc điểm riêng. Công ty Nhà nước cổ phần hoá thường có một tỷ lệ nhất định cổ phần do Nhà Nước nắm giữ, đồng thời tại đây, người lao động luôn được hưởng chính sách ưu đãi về giá khi mua cổ phần. Đây là những điểm không thể thấy được ở việc chào bán cổ phiếu của các chủ thể khác. Từ khi có Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004, đã có hàng loạt công ty Nhà Nước cổ phần hoá thành công với hình thức chào bán cổ phiếu như: công ty xi măng Hà Tiên, công ty nhựa Rạng Đông, công ty bóng đèn điện quang. Trong năm 2006 đã có khoảng hơn 100 công ty Nhà Nước chuyển đổi thành công ty cổ phần. * Công ty quản lý quỹ đầu tư. Theo quy định của Luật chứng khoán 2006, công ty quản lý quỹ đầu tư được chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư theo hình thức chào bán ra công chúng. Công ty quản lý quỹ đầu tư cũng là một chủ thể khá đặc biệt. Chủ thể này thực hiện việc thành lập các quỹ đầu tư chứng khoán- tập trung các nguồn vốn của các nhà đầu tư để chủ yếu đầu tư vào chứng khoán và tiến hành hoạt động đầu tư của quỹ. Do quỹ đầu tư chứng khoán không được huy động vốn vay để đầu tư chứng khoán nên việc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư là phương thức chính để thu hút vốn, đáp ứng mục tiêu của quỹ. Và hoạt động chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng do công ty quản lý quỹ thực hiện. Tại Việt Nam hiện nay, có khoảng 18 công ty quản lý quỹ đầu tư như công ty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Việt Long với số vốn điều lệ lên đến 40 tỷ đồng, công ty liên doanh quản lý quỹ đầu tư BIDV-Vietnam Partner vốn điều lệ là 32 tỷ đồng . * Công ty đại chúng. Việc quy định công ty đại chúng là một trong những điểm mới của Luật chứng khoán 2006. Luật đã đưa ra khái niệm công ty đại chúng, bao quát 3 loại hình công ty cổ phần là công ty đã thực hiện việc chào bán chứng khoán ra công chúng ( kể cả đã chào bán chứng khoán ra công chúng trước khi Luật chứng khoán 2006 có hiệu lực); công ty có cổ phiếu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán; công ty do phát hành riêng lẻ nhiều lần mà có cổ phiếu được ít nhất 100 nhà đầu tư sở hữu và có vốn điều lệ thực góp từ 10 tỷ đồng trở lên. Như vậy thực chất công ty đại chúng là những công ty cổ phần. Do đó công ty đại chúng được quyền chào bán cổ phiếu. Tuy nhiên đây là những chủ thể có số lượng lớn các nhà đầu tư đã thực hiện việc chào bán rộng rãi chứng khoán ra công chúng. Vì vậy gắn với việc quy định về công ty đại chúng, pháp luật cũng quy định một nghĩa vụ quan trọng của nó là nghĩa vụ công bố thông tin. Đây là quy định đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Trên thực tế trước đây rất nhiều công ty cổ phần hoạt động với số vốn điều lệ trên 10 tỷ đồng có trên 100 nhà đầu tư sở hữu cổ phần nhưng họ chỉ thực hiện chào bán chứng khoán riêng lẻ để lẩn tránh nghĩa vụ công bố thông tin. Vì vậy mà Nhà nước không quản lý được chất lượng chứng khoán cũng như thị trường chứng khoán. Do đó việc quy định về công ty đại chúng góp phần minh bạch hoá các thông tin trên thị trường chứng khoán, hướng đến một thị trường chứng khoán an toàn và hiệu quả, góp phần đắc lực vào việc phát triển nền kinh tế. 1.3.2/ Chủ thể chào bán chứng khoán nợ. Chứng khoán nợ là loại chứng khoán ghi nhận quyền chủ nợ của người sở hữu loại chứng khoán đó với tổ chức phát hành. Đó chính là các loại trái phiếu. Hiện nay, tư cách chủ thể chào bán trái phiếu được quy định tại hai văn bản pháp luật: - Nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2006 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. - Quyết định 02/2004/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng nhằm huy động vốn trong nước. Theo Nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2006 chủ thể có quyền phát hành trái phiếu doanh nghiệp bao gồm công ty cổ phần, công ty Nhà nước trong thời gian chuyển đổi thành công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật doanh nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên Nghị định đã không quy định một chủ thể mà theo Luật doanh nghiệp thì việc chủ thể này phát hành trái phiếu để huy động vốn không bị cấm, đó là công ty trách nhiệm hữu hạn. Chính điều này đã gây lúng túng trong việc áp dụng pháp luật về phát hành trái phiếu của nhiều công ty trách nhiệm hữu hạn. Từ đó làm hạn chế khả năng huy động vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh. Theo quy định của quyết định 02/2004/QĐ-NHNN ngày 04 tháng 01 năm 2004 chủ thể có quyền phát hành trái phiếu để huy động vốn trong nước bao gồm: các tổ chức tín dụng Nhà nước, tổ chức tín dụng cổ phần, quỹ tín dụng nhân dân trung ương, các tổ chức tín dụng liên doanh, các tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam. Có thể nói, phạm vi chủ thể được phép phát hành trái phiếu là rất rộng. Pháp luật đã có những quy định rất mở nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng được huy động vốn hết khả năng của mình, đáp ứng nhu cầu về vốn đang rất bức thiết hiện nay của các tổ chức tín dụng. Một khi nhu cầu về vốn của các tổ chức này được đảm bảo thì nhu cầu về vốn như một sự mong muốn của các doanh nghiệp sẽ được thoả mãn. 2./ Các quy định của pháp luật về chào bán chứng khoán của doanh nghiệp. 2.1/ Các quy định của pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng. 2.1.1/ Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng. Thị trường chứng khoán Việt Nam mới phát triển trong một vài năm gần đây nên đa số các nhà đầu tư là các nhà đầu tư nhỏ, không có kiến thức chuyên môn về phân tích và đầu tư chứng khoán. Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 1998 và Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 đã sử dụng khái niệm phát hành chứng khoán ra công chúng là chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế và trong thực tiễn đã tạo nên nhiều kẽ hở để các tổ chức chào bán lách luật thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng mà không công khai thông tin theo quy định với lý do khi chào bán họ chưa biết là có dẫn đến việc phát hành chứng khoán ra công chúng hay không. Khái niệm “Chào bán chứng khoán ra công chúng” điều chỉnh bất kỳ hành vi chào mời, bán hay phát hành chứng khoán ra công chúng. Điều này góp phần khắc phục một trong những trở ngại cơ bản đối với sự phát triển của thị trường chính thức hiện nay, đó là sự thiếu đồng bộ trong luật pháp điều chỉnh việc chào bán chứng khoán ra công chúng. Chào bán chứng khoán ra công chúng được hiểu là việc chào bán ra đông đảo công chúng đầu tư. Chính vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích của các nhà đầu tư, pháp luật nước ta quy định rất cụ thể điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng. * Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng. Được quy định tại khoản 1 điều 12 Luật chứng khoán 2006. Thứ nhất, về mức vốn điều lệ, doanh nghiệp phải có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ 10 tỷ đồng trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán. Trong đó vốn điều lệ thực có được tính bằng tổng số vốn kinh doanh trừ vốn vay. Quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu trên là hợp lý vì nó đảm bảo sự an toàn, tạo sự ổn định cho thị trường chứng khoán, tạo niềm tin cho nhà đầu tư, đảm bảo chất lượng chứng khoán. Tại hai văn bản pháp luật trước đây về chứng khoán và thị trường chứng khoán đều quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu để phát hành chứng khoán ra công chúng, nhưng dường như nó tỏ ra không hợp lý. Theo điều 6 Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 1998 mức vốn điều lệ tối thiểu là 10 tỷ đồng. Điều kiện về vốn cao sẽ hạn chế doanh nghiệp phát hành chứng khoán ra công chúng. Sau đó tại điều 6 nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 quy định về điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng, mức vốn điều lệ tối thiểu hạ xuống còn 5 tỷ đồng tại thời điểm đăng ký phát hành. Mục đích của quy định này là nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng chào bán chứng khoán ra công chúng. Tuy nhiên sau hơn hai năm, quy định này cũng tỏ ra không khả thi vì lượng doanh nghiệp chào bán cổ phiếu không tăng mạnh. Đồng thời do không có sự thống nhất về mức vốn điều lệ tối thiểu đối với tổ chức chào bán cổ phiếu và tổ chức chào bán trái phiếu nên quy định này khó áp dụng trên thực tế. Vì vậy đến Luật chứng khoán 2006, quy định về điều kiện mức vốn điều lệ tối thiểu một lần nữa được sửa đổi là 10 tỷ. Đồng thời xoá bỏ sự phân biệt của tổ chức chào bán cổ phiếu và tổ chức chào bán trái phiếu. Điều này là hoàn toàn phù hợp với tình hình tài chính hiện nay của các doanh nghiệp. Thứ hai, hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đang ký chào bán. Đây là quy định khá hợp lý thay vì quy định hai năm có lãi liên tục như trước đây. Lý do là để một số doanh nghiệp có lãi trong hai năm liên tiếp cần một khoảng thời gian khá dài. Trong khi đó có những doanh nghiệp đang rất cần chào bán chứng khoán để huy động vốn đầu tư. Vì vậy quy định như này là phù hợp, tạo cơ chế thông thoáng cho các doanh nghiệp chào bán chứng khoán ra công chúng. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng quy định trên là không cần thiết, đặc biệt là các doanh nghiệp do làm ăn thua lỗ rất cần vốn. Nhưng họ lại gặp phải rào cản là bắt buộc phải lãi trước khi chào bán chứng khoán ra công chúng. Thứ ba, có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được đại hội đồng cổ đông thông qua. Có thể nói, điều kiện này là rất cần thiết. Nó là cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư, tạo niềm tin cho họ. Bởi vì, đối với công ty cổ phần, đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất. So với Nghị định 144/200/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003, quy định này có sự cụ thể hoá hơn. Trước đây, pháp luật không yêu cầu phải có phương án sử dụng vốn của tổ chức chào bán phải được đại hội đồng cổ đông thông qua nên không đem đến một sự đảm bảo từ phía tổ chức chào bán cho nhà đầu tư và tạo niềm tin cho các nhà đầu tư vì vậy không khuyến khích họ mua cổ phiếu. Như vậy Luật chứng khoán 2006 đã khắc phục được điểm hạn chế này của Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 . * Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng. Theo quy định tại khoản 2 điều 12 Luật chứng khoán 2006, doanh nghiệp có đủ các điền kiện sau được chào bán trái phiếu ra công chúng. Thứ nhất, doanh nghiệp có mức vốn điều lệ tại thời điểm đăng ký chào bán từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán. Quy định này là sự kế thừa của nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003. Mức vốn tối thiểu mà pháp luật ấn định cho các tổ chức chào bán trái phiếu ra công chúng là hoàn toàn phù hợp. Mục đích là để đảm bảo chất lượng trái phiếu chào bán ra công chúng bởi vì mức vốn này đòi hỏi tổ chức chào bán phải là những doanh nghiệp có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính dồi dào. Đồng thời với mức vốn tối thiếu như vậy, doanh nghiệp vẫn có thể đảm bảo khả năng trả nợ cho người sở hữu trái phiếu. Thứ hai, hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có khoản nợ quá hạn trên một năm. Với bản chất là chứng khoán nợ, chủ thể sở hữu trái phiếu là chủ nợ của doanh nghiệp phát hành. Khả năng được hoàn trả số tiền đầu tư luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhà đầu tư. Vì vậy, Luật chứng khoán 2006 phần nào thắt chặt điều kiện này là hoàn toàn hợp lý. Thứ ba, có phương án phát hành phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán được hội đồng quản trị, hoặc hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu thông qua. Quy định này góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư vào tổ chức chào bán, từ đó doanh nghiệp nhanh chóng đạt được mục đích huy động vốn. Thứ tư, có cam kết thực hiện những nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, đảm bảo quyền và lợi ích của nhà đầu tư. Trên đây là những điều kiện để doanh nghiệp có thể chào bán trái phiếu ra công chúng. Những quy định này nhằm đảm bảo tính thanh khoản, chất lượng chứng khoán, đảm bảo tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư và khả năng thanh toán của tổ chức phát hành. So với quy định trước đây, các quy định bắt buộc phải có tổ chức bảo lãnh phát hành và việc xác định đại diện người sở hữu trái phiếu đối với việc phát hành trái phiếu ra công chúng không được đề cập trong Luật chứng khoán 2006. Việc loại bỏ các quy định bắt buộc này sẽ tạo ra một cơ chế mở thông thoáng hơn cho các chủ thể chào bán trái phiếu. * Điều kiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng. Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán không phát hành riêng lẻ mà chỉ có hình thức phát hành ra công chúng. Việc chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư có những điểm khác biệt so với chào bán cổ phiếu và trái phiếu. Đó là chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư lần đầu bao giờ cũng gắn với việc thành lập quỹ đầu tư chứng khoán. Nói cách khác, quỹ đầu tư chứng khoán chỉ được thành lập nếu đợt chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư kết thúc thành công với số lượng, tỷ lệ theo quy định của pháp luật. Chứng chỉ quỹ đầu tư do công ty quản lý quỹ đầu tư phát hành. Việc chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng được quy định tại khoản 3 điều 12 Luật Chứng khoán 2006. Thứ nhất, tổng giá trị chứng chỉ quỹ đăng ký chào bán tối thiểu là 50 tỷ đồng Việt Nam. Có thể nói, đây là bước thay đổi đáng kể theo hướng cụ thể hoá của Luật, nhằm một mặt tạo ra một khung pháp lý cần thiết cho nhiều tổ chức chào bán, mặt khác đảm bảo chất lượng của chứng chỉ quỹ được chào bán. Trước đây, tại điều 9 Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003, quy định về điều kiện phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng là: 1. Việc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán ra công chúng lần đầu thực hiện đồng thời với thủ tục xin phép lập quỹ đầu tư chứng khoán. 2. Việc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán để tăng vốn của quỹ đầu tư chứng khoán phải được uỷ ban chứng khoán chấp nhận”. Quy định chưa rõ ràng như trên gây lúng túng cho chủ thể phát hành, nhưng đồng thời lại là kẽ hở cho nhiều chủ thể khác lợi dụng. Thứ hai, có phương án phát hành và phương án đầu tư vốn thu được từ đợt chào bán chứng chỉ quỹ phù hợp với quy định của Luật chứng khoán 2006. Trên đây là toàn bộ những điều kiện mà pháp luật về chứng khoán đòi hỏi một tổ chức chào bán phải có khi muốn chào bán chứng khoán ra công chúng. Tuy mới có hiệu lực từ ngày 1/1/2007 nhưng những quy định này thực sự góp phần tạo ra một thị trường chứng khoán an toàn, có hiệu quả, thực hiện đúng chức năng đối với nền kinh tế. 2.1.2/ Các quy định về thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng. * Hồ sơ chào bán. Nếu như Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 chỉ dành một điều luật (điều 10) để qui định về hồ sơ chào bán thì Luật chứng khoán 2006 quy định về vấn đề này từ điều 14 đến điều 18. So với quy định trước, Luật chứng khoán đã có một số điểm mới. - Thứ nhất, Luật chứng khoán 2006 đã quy định cụ thể hồ sơ chào bán áp dụng đối với từng loại chứng khoán được chào bán ra công chúng, cụ thể là: hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng, hồ sơ đăng ký chào bán trái phiếu ra công chúng, hồ sơ đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng, trong đó những quy định đối với việc chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư mới được đưa vào. Điều này chứng tỏ Nhà nước đã thấy được những lợi ích thiết thực của chứng chỉ quỹ đầu tư đối với việc huy động vốn . - Thứ hai, nếu như trước đây, nội dung của bản cáo bạch, báo cáo tài chính chỉ được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành thì giờ đây nó đã được Luật hoá cụ thể nhằm xây dựng một thị trường chứng khoán lành mạnh công khai, đáp ứng tốt yêu cầu thông tin về từng tổ chức chào bán từ đó tạo niềm tin cho nhà đầu tư đối với từng tổ chức chào bán nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung. Đồng thời Luật chứng khoán cũng quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan đến hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng, đảm bảo cho nhà đầu tư yên tâm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Theo Luật chứng khoán 2006, hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng được qui định tại điều 14. Điều luật này có đưa ra những yêu cầu cụ thể đối với hồ sơ của từng loại cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ khi chào bán ra công chúng. Hồ sơ chào bán phải gồm các tài liệu sau: -Giấy đăng ký chào bán (của từng loại chứng khoán: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư) ra công chúng. -Bản cáo bạch. -Điều lệ của tổ chức phát hành (đối với chào bán cổ phiếu và trái phiếu) hoặc dự thảo điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán (đối với chào bán chứng chỉ quỹ). -Cam kết bảo lãnh (nếu có). Đối với từng loại chứng khoán khác nhau thì hồ sơ chào bán cũng đòi hỏi thêm một số giấy tờ khác. Như hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu cần có quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng; hồ sơ chào bán trái phiếu cần có quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty thông qua phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn và cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành; hồ sơ chào bán chứng chỉ quỹ cần có hợp đồng giám sát giữa ngân hàng giám sát và công ty quản lý quỹ đầu tư. Như vậy một bộ hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng gồm rất nhiều giấy tờ, nhưng quan trọng nhất là bản cáo bạch trong đó có báo cáo tài chính. Về bản cáo bạch, điều 15 Luật chứng khoán 2006 quy định cụ thể nội dung của bản cáo bạch. Bản cáo bạch phải đáp ứng yêu cầu là có đầy đủ thông tin cần thiết, trung thực rõ ràng như thông tin về tổ chức phát hành, về đợt chào bán, hay báo cáo tài chính nhằm giúp nhà đầu tư có thể đánh giá đúng tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh và triển vọng của tổ chức chào bán. Có thể nói, bản cáo bạch là bức tranh hoàn chỉnh về tổ chức chào bán. Riêng đối với chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng, có ý kiến cho rằng luật quy định quá chi tiết với nội dung như loại hình, quy mô quỹ; mục tiêu đầu tư chiến lược đầu tư, phương án phát hành, dự thảo điều lệ quỹ. Đây là những nội dung mang tính chất nghiệp vụ, không phải là biện pháp quản lý hay yêu cầu của thị trường. Ưu điểm của nó là tạo ra cơ sở pháp lý an toàn cho hành vi chào bán chứng chỉ quỹ từ đó quyền và lợi ích của nhà đầu tư cũng được đảm bảo. Tuy nhiên, chúng ta không thể không nhận thấy những bất cập của quy định này. Đó là việc đòi hỏi quá cao về những nội dung trong bản cáo bạch sẽ gây rất nhiều khó khăn cho chủ thể chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng, loại chứng khoán và phương thức đầu tư còn đang rất mới mẻ ở Việt Nam. Về báo cáo tài chính, theo quy định của pháp luật, báo cáo tài chính gồm bảng cân đối kế toán, các báo cáo về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính hàng năm phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp nhận. Việc đưa ra yêu cầu phải có xác nhận của tổ chức kiểm toán nhằm giúp cho công chúng đầu tư có được thông tin chính xác, cập nhật về tình hình tài sản và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây chính là yêu cầu gây nhiều khó khăn, thậm chí cản trở việc niêm yết chứng khoán của một số doanh nghiệp. Hiện nay việc kiểm toán do các đơn vị trong nước thực hiện. Chỉ có một số ít tổ chức kiểm toán của nước ngoài được phép kiểm toán các doanh nghiệp Việt Nam. Theo quy định của Luật chứng khoán 2006, báo cáo tài chính phải được xác nhận của tổ chức kiểm toán “được chấp nhận” nên việc lựa chọn tổ chức kiểm toán phải tuân theo quyết định số 76/2004/QĐ-BTC ngày 22 tháng 9 năm 2004, theo đó, hầu hết các công ty kiểm toán Việt Nam không đủ điều kiện tham gia. Chính những quy định khắt khe này sẽ dẫn đến một tất yếu là sự độc quyền và chi phí kiểm toán vượt quá sức của tổ chức phát hành mới lần đầu bước vào thị trường chứng khoán. * Thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng. Theo quy định của Luật chứng khoán 2006, việc phân phối chứng khoán chỉ được thực hiện sau khi tổ chức phát hành bảo đảm người mua chứng khoán tiếp cận bản cáo bạch của hồ sơ đăng ký chào bán. Tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành, tổ chức đại lý phải phân phối chứng khoán trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng có hiệu lực. Trong trường hợp tổ chức phát hành không thể hoàn thành việc phân phối chứng khoán trong thời hạn này, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước xem xét gia hạn nhưng tối đa không quá 30 ngày. Quy định này đã khắc phục được hạn chế của Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003. Nghị định quy định trong thời hạn 90 ngày mà tổ chức phát hành không phân phối hết chứng khoán thì có thể làm đơn đề nghị Uỷ ban chứng khoán Nhà nước gia hạn phân phối nhưng lại không giới hạn thời gian được phép phân phối tiếp vì vậy gây khó khăn cho người quản lý cũng như tổ chức phát hành. Sau khi phân phối hết chứng khoán, tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành phải báo cáo kết quả đợt chào bán cho Uỷ ban chứng khoán. Tiếp đó, sau 30 ngày kết thúc đợt chào bán chứng khoán, chứng khoán hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu chứng khoán phải được chuyển giao cho người mua. Như vậy, về cơ bản Luật chứng khoán 2006 đã quy định tương đối đầy đủ về trình tự thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng. Tuy nhiên trong mười bốn điều luật của chương “chào bán chứng khoán ra công chúng” hoàn toàn không có quy định về phương thức phát hành trong đó có một nội dung rất quan trọng là hoạt động bảo lãnh phát hành. Đối với chào bán chứng khoán ra công chúng, sự thành bại của đợt chào bán có ý nghĩa rất quan trọng. Để đảm bảo sự thành công cho một đợt chào bán, đòi hỏi tổ chức chào bán phải lựa chọn phương thức phát hành tối ưu nhất. Trong các phương thức chào bán chứng khoán ra công chúng thì bảo lãnh phát hành được xem là phương thức an toàn nhất. Hơn thế nữa một số trường hợp bắt buộc phải có tổ chức bảo lãnh phát hành thì luật lại không quy định. 2.2/ Quy định về chào bán riêng lẻ. 2.2.1/ Quy định về chào bán cổ phiếu. * Chào bán cổ phiếu của công ty cổ phần. Chào bán cổ phiếu là quyền cơ bản của công ty cổ phần. Hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty cổ phần chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp 2005. Cũng theo quy định của Luật, việc chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty cổ phần được thực hiện nhằm mục đích tạo lập vốn điều lệ hoặc để tăng vốn điều lệ. Thực chất của việc chào bán cổ phiếu của công ty cổ phần là việc công ty bán cổ phần để huy động vốn, kết quả của việc bán cổ phần sẽ làm tăng vốn điều lệ và tỷ lệ sở hữu cổ đông. Mặt khác, việc chào bán cổ phần có nghĩa là bán một phần quyền sở hữu công ty cho người mua cổ phần. Điều này cũng đồng nghĩa với việc thay đổi cơ cấu quản lý và kiểm soát của công ty. Vì vậy, việc quyết định số lượng cổ phần, giá trị cổ phần, loại cổ phần trong mỗi đợt chào bán cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Hiện nay, việc chào bán cổ phần của công ty cổ phần được quy định tại điều 87-Luật doanh nghiệp 2005. - Về quyền quyết định chào bán, Luật doanh nghiệp 2005 quy định Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giá chào bán. Theo quy định này, Hội đồng quản trị được trao thêm quyền năng mới. Nếu Luật doanh nghiệp 1999 chỉ quy định Hội đồng quản trị có quyền quyết định giá cổ phần được đưa ra chào bán thì theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005, Hội đồng quản trị được quyết định cả phương thức chào bán và thời điểm chào bán. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành lại không có quy định về quyền quyết định của cổ phần được đưa ra chào bán. Có thể nói, đây là một nội dung rất quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với các nhà đầu tư. Nó cho thấy khả năng về vốn của doanh nghiệp cũng như tiềm năng của các nhà đầu tư. - Về giá cổ phần, giá chào bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách tại thời điểm gần nhất. Luật doanh nghiệp 1999 cũng đưa ra qui định này, tuy nhiên về các trường hợp ngoại lệ, Luật doanh nghiệp 2005 bổ sung một số điểm mới sau: Thứ nhất, cổ phần chào bán lần đầu tiên cho những người không phải là cổ đông sáng lập. Đây là quy định khá hợp lý vì đây là cổ phần được chào “lần đầu tiên”, đây cũng là lần đầu tiên nhà đầu tư tiếp cận với cổ phần của công ty nên chưa xác định được giá thị trường của cổ phần. Như vậy, Hội đồng quản trị có quyền quyết định giá chào bán thất hơn giá thị trường. Điều này sẽ đảm bảo sự thành công của đợt chào bán cổ phần lần đầu, thu hút rộng rãi nhà đầu tư . Thứ hai, cổ phần chào bán cho tất cả các cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ ở công ty. Theo quy định này, các cổ đông đã nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp sẽ được quyền mua cổ phần theo tỷ lệ tương ứng, với giá bán không tham chiếu giá thị trường tại thời điểm chào bán. Khi đó, giá cổ phần áp dụng cho các cổ đông cũ có thể sẽ thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán. Tuy nhiên có một vấn đề đặt ra. Theo quy định của pháp luật, công ty cổ phần có nhiều loại cổ phần khác nhau. T

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docbai_tieu_luan_chinh__005.doc
Tài liệu liên quan