Đề tài Thực trạng và những tồn tại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

MỤC LỤC

 

 

Chương I. Những cơ sở lý luận chung của doanh nghiệp vừa và nhỏ

1. Khái niệm của doanh nghiệp vừa và nhỏ

2. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

3. Ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ

4. Hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ

5. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ

6. Pháp luật chi phối doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Chương II. Thực trạng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

I. Quá trình hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực công nghiệp

2. Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực thương mại dịch vụ

3. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực nông thôn

II. Tác động của các chính sách vĩ mô đến sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

1. Tác động của chính sách thương mại

2. Tác động cảu chính sách tài chính tiền tệ

3. Tác động của chính sách đất đai

4. Tác động của chính sách công nghệ, giáo dục đào tạo

5. Tác động của chính sách hợp tác quốc tế về các doanh nghiệp vừa và nhỏ

III. Thực trạng và những tồn tại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

1. Vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

2. Tình hình thiết bị công nghệ

3. Trình độ nhân lực, lao động và quản lý

4. Tình hình và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ về sản phẩm, thị trường

 

doc55 trang | Chia sẻ: lynhelie | Ngày: 08/03/2016 | Lượt xem: 232 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thực trạng và những tồn tại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
gắt do sự tập trung quá đông các DNVVN tại cùng một địa điểm, cùng một lĩnh vực kinh doanh. 3. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực nông thôn. Với đặc trưng là một nền kinh tế nông nghiệp đi lên thì hiển nhiên là trong chiến lược phát triển DNVVN để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì vai trò của các DNVVN ở khu vực nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng. Bộ mặt của các DNVVN đã thay đổi phần nào qua dự án VIE/816 do UNDP tài trợ trong vòng 4 năm từ 11/1997 đến 2001.Hiện nay, các ngành nghề nông thôn thu hút hơn 5 triệu lao động nông nhàn và 11 triệu lao động phi nông nghiệp. Năm 2000, đã tạo ra hơn 4000 tỷ đồng giá trị sản lượng, 90% tiêu thụ nội địa và 10% xuất khẩu. Các DNVVN ở khu vực nông thôn với đại diện phổ biến là các doanh nghiệp hộ gia đình và các doanh nghiệp tư nhân Về vốn: Vốn bình quân rất thấp cả về tương đối và tuyệt đối so với các DNVVN nói chung.Theo báo cáo của Viện bảo hộ lao động và các vấn đề xã hội - NXB Khoa học và Kỹ thuật , Hà nội , 1998 thì :Với doanh nghiệp hộ gia đình vốn bình quân là 921 USD, với doanh nghiệp tư nhân thì là 2.153 USD, vốn thấp không chỉ hiểu là như cầu về vốn ở các DNVVN khu vực nông thôn thấp mà còn hiểu ở sự thiếu hỗ trợ tín dụng. Về thị trường và tiêu thụ sản phẩm: Thị trường chủ yếu được phân làm hai loại là thị trường địa phương và thị trường ở các thành phố lớn. Một điểm sáng trong quá trình phát triển các DNVVN ở nông thôn, nhằm bắt tay vào tìm tiếng nói chung cho các DNVVN khu vực này, ngày 16/8/2002 tại Hà nội, Đại hội thành lập “ Hiệp hội các DNVVN khu vực nông thôn Việt nam” do VCCI tổ chức đã khai mạc với sự tham gia của hơn 100 DNVVN khu vực nông thôn. “Hiệp hội các DNVVN khu vực nông thôn” ra đời nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, phát triển ngành nghề nông thôn, hỗ trợ bảo vệ lẫn nhau, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, thông tin kinh tế, thị trường, xúc tiến thương mại, đầu tư, thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại trong nước và quốc tế, giữ gìn và phát triển các làng nghề truyền thống, đầu tư thiết bị hiện đại, đổi mới công nghệ nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, góp phần xoá đói giảm nghèo, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Hiệp hội cũng đã thông qua nhiệm kỳ 2002-2007, tập trung vào một số lĩnh vực phổ biến như thông tin kinh tế, trao đổi góp ý về các cơ chế, chính sách, đào tạo và tư vấn, tổ chức phát triển DNVVN ở các địa phương, tạo nhịp cầu giao thương phát triển. II. Tác động của các chính sách vĩ mô đến sự phát triển của các DNVVN Một trong những yếu tố quan trọng nhất tác động đến sự tồn tại và phát triển của các DNVVN là vấn đề cơ chế chính sách, môi trường hành lang pháp lý cho hoạt động của các DNVVN. Dưới đây là những nét chính khái quát về ảnh hưởng của một số chính sách vĩ mô đến hoạt động và phát triển của DNVVN Việt nam. 1. Tác động của chính sách thương mại Trước hết, về vấn đề khởi sự tiến hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các DNVVN cũng đã được “cởi trói” qua quy định mới về việc tiến hành đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp được quy định tại Luật doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 20/6/1999, có hiệu lực từ 1/1/2000 đã luật hoá các quy định thành lập doanh nghiệp theo hướng bãi bỏ cơ chế xin phép thành lập, chủ đầu tư chỉ đăng ký kinh doanh với hồ sơ hết sức đơn giản, xoá bỏ mọi kiểm tra kiểm soát trước khi thành lập, tạo điều kiện cho phép chủ đầu tư nhanh chóng tiếp cận thị trường, việc giám sát kiểm tra của nhà nước chuyển sang giai đoạn sau đăng ký kinh doanh. Luật doanh nghiệp cũng xoá bỏ vốn pháp định ở hầu hết các ngành nghề ( chỉ còn áp dụng đối với một số ngành nghề như Ngân hàng, Bảo hiểm..) đã tạo điều kiện cho các DNVVN ra đời thuận lợi, giảm tối thiểu các chi phí cho việc thành lập doanh nghiệp. Kế đó, sự đổi mới chính sách thương mại theo hướng “mở cửa”, không ngừng đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài với chiến lược vốn đầu tư trong nước có vai trò quyết định, vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng đã là một trong những nhân tố quyết định trong đổi mới kinh tế, đóng góp đáng kể vào tình hình đổi mới kinh tế ở Việt nam trong những năm gần đây. Chính sách thương mại của Việt nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong suốt giai đoạn vừa qua, đặc biệt với sự ra đời của Luật Thương mại có hiệu lực từ 1-1-1998 và nghị định số 57/CP hướng dẫn thi hành Luật Thương mại ngày 31/7/1998 đã cải thiện đáng kể các điều kiện tiếp cận thương mại quốc tế của các DNVVN. Thêm vào đó là việc tham gia vào hàng loạt các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và thế giới như ASEAN(1995), APEC(1998)và đặc biệt là ký được Hiệp định thương mại song phương với Hoa kỳ vào 20/7/2001 và mở đường cho việc gia nhập WTO đã được cụ thể hoá bằng nhiều biện pháp cải tổ thương mại theo hướng tự do hơn, hội nhập hơn cũng là những thuận lợi và cũng là chứa đựng những thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng. a. Điều kiện tham gia xuất nhập khẩu của các DNVVN được cải thiện theo cơ chế thông thoáng hơn. Điều kiện tham gia hoạt động xuât nhập khẩu đã thực sự được mở ra cho tất cả các doanh nghiệp nói chung và các DNVVN nói riêng. Nghị định 57/CP đã cho phép tất cả các doanh nghiệp được tham gia hoạt động xuất nhập khẩu trong phạm vi kinh doanh đã đăng ký mà không cần phải có giấy phép xuất nhập khẩu. Có thể xem đây là một bước tiến tích cực của Việt nam trong quá trình tự do hoá thương mại. Trước đó, Theo quy định của Nghị định 33/TTG của Thủ tướng chính phủ về quản lí nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu ban hành ngày 19/4/1994, các DNVVN muốn tham gia hoạt động xuất nhập khẩu thì phải có giấy phép mà muốn có giấy phép thì phải đáp ứng các điều kiện như: Thứ nhất, phải là một pháp nhân có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành và hoạt động đúng theo phạm vi hoạt động kinh doanh đã đăng ký. Thứ hai, mức vốn lưu động không được dưới 200.000 USD vào thời điểm đăng ký kinh doanh, trừ những doanh nghiệp ở miền núi và ở những vùng kinh tế khó khăn khác, hoặc những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu được khuyến khích đòi hỏi mức vốn thấp. Trong những trường hợp đó, số vốn lưu động phải tương đương 100.000 USD. Thứ ba, có bằng chứng xác nhận rằng doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên có đủ khả năng thích hợp để ký kết và thực hiện hợp đồng ngoại thương. Thêm vào đó, trước khi Nghị định 57/CP được ban hành thì các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân muốn được thành lập như tổ chức xuất nhập khẩu thì phải có giấy phép của Thủ tướng Chính phủ theo Điều 11 của Luật công ty. Rất nhiều các DNVVN không đáp ứng được các điều kiện kể trên và chỉ có thể xuất khẩu các sản phẩm cuả mình thông qua một công ty được phép kinh doanh xuất nhập khẩu. Bên cạnh việc phải trả cho công ty xuất nhập khẩu trung gian này một khoản phí thông thường là từ 0,5% đến 1% giá trị hợp đông xuất nhập khẩu, Các DNVVN còn phải chịu thêm rủi ro khi tiết lộ thông tin quan trọng và bí mật về các hợp đồng ngoại thương và họ thậm chí còn bị các công ty chuyên doanh xuất nhập khẩu đó chiếm mất đối tác nước ngoài. Nghị định 57/CP chỉ yêu cầu các DNVVN phải tiến hành hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trong phạm vi hoạt động kinh doanh đã đăng ký.Với một số lượng lớn các công ty có khả năng tham gia trực tiếp vào thương mại quốc tế thì những chi phí và khó khăn trong giao dịch sẽ được giảm đáng kể. Đến ngày 2/8/2001 thì tất cả mọi pháp nhân ( doanh nghiệp và cá nhân) đã được xuất khẩu hầu hết mọi hàng hoá mà không phải xin phép qua việc Chính phủ ban hành sửa đổi nghị định thực hiện Luật thương mại theo Nghị định 44/2001/ND-CP, ngày 2-8-2001. Bên cạnh đó, cũng trong năm 2001 Chính phủ đã tiếp tục tăng cường hỗ trợ xuất khẩu cho các DNVVN qua Quyết định 133/2001/QD-TTg ngày 10/9/2001 về việc thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển nhằm hỗ trợ các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và các cá nhân tham gia xuất khẩu. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngoại thương của các DNVVN. Nhưng nó cũng có những thiếu sót, những tồn tại mà chưa thực sự hỗ trợ các DNVVN. Điển hình là việc Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan đã ban hành ngay sau nghị định 57/CP thông tư hướng dẫn quy định các doanh nghiệp muốn tham gia hoạt động xuất nhập khẩu thì phải có mã số hải quan, muốn có mã số hải quan thì phải nộp đơn đăng ký cho Bộ Tài chính, từ đó phát sinh thêm nhiều thủ tục khó khăn. b. Cơ chế tự do hoá thương mại qua việc nới lỏng kiểm soát phi thuế quan. Bên cạnh những giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho các DNVVN thể hiện trong điều kiện tham gia, Nhà nước cũng quản lí xuất nhập khẩu bằng cách ban hành các danh mục hàng hoá thương mại bị cấm, hoặc hạn chế nhập khẩu theo hạn ngạch, hoặc ban hành các danh mục hàng hoá bị tạm ngừng xuất nhập khẩu, quy định mới nhất về các loại hàng hoá xuất nhập khẩu được nêu rõ tại Nghị định 73/2002/NDCP ngày 20/8/2002 của Chính phủ về danh mục các loại hàng hoá trong kinh doanh xuất nhập khẩu phfu hợp với tinh thần nêu rõ trong Nghị định 57/CP về danh mục hàng hoá cấm xuất nhập khẩu, danh mục các hàng hoá xuất nhập khẩu quản lí bằng hạn ngạch, danh mục các hàng hoá xuất nhập khẩu cần có giấy phép đặc biệt( danh mục sẽ được điều chỉnh theo từng năm). Bên ngoài những loại hàng hoá nêu trên là các hàng hoá được phép xuất nhập khẩu. Như vậy, nguyên tắc ở đây là nguyên tắc không cấm( ngoài những mặt hàng cấm thì được tự do xuất nhập khẩu) chứ không như trước kia, chỉ ban hành các mặt hàng được phép kinh doanh xuất nhập khẩu. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các DNVVN trong việc tìm hiểu nguồn hàng, mặt hàng để kinh doanh xuất nhập khẩu thành công. Qua đó càng thấy rằng Nghị định 57/CP thực sự là một bước tiến quan trọng của chính phủ trong việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nói chung và các DNVVN nói riêng trong việc tiếp cận thị trường quốc tế. Điều nổi bật gần đây nhất là vào năm 2001, Chính phủ đã công bố kế hoạch quản lí xuất nhập khẩu trong 5 năm thay vì kế hoạch xuất nhập khẩu trong từng năm như các năm trước đó, điều này tạo điều kiện ổn định và thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng của các DNVVN. Quy định mới nhất đó là Quyết định 46/2001 ngày 4/4/2001 của Chính phủ về kế hoạch xuất nhập khẩu trong giai đoạn 2001-2005. Thủ tục kiểm tra Hải quan đã có một số cải tiến, lúc này doanh nghiệp tự kê khai tính thuế xuất nhập khẩu, tự chịu trách nhiệm, thời gian giải phóng hàng đã được rút ngắn, đã thực hiện hệ thống “hành lang xanh” với các nước ASEAN qua việc Tổng cục Hải quan hướng dẫn áp dụng tại Thông báo số 1184/TCHQ-GSQL ngày 20/1/1996 và 1599/TCHQ-KTTT ngày 13/8/1996). Để phù hợp với tiến trình tự do hoá thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và tiến trình hội nhập CEPT/AFTA nói riêng. Chính phủ đã phê chuẩn lộ trình tham gia giảm thuế AFTA trong giai đoạn 2001-2006, theo đó hầu hết các dòng thuế sẽ được giảm xuống còn 20% vào cuối 2003 và xuống còn 5% vào 2006. Ngày 4/9/2002, Bộ Thương mại đã ban hành Quyết định số 1062/2002/QĐ-BTM về việc bổ sung Phụ lục 3 quy chế cấp C/O hàng hoá ASEAN của Việt nam–Form D để hưởng các ưu đãi của Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung( CEPT). Đây thực sự là một bước tiến đáng kể vì như vậy hàng hoá của các doanh nghiệp Việt nam trong đó phần lớn là các DNVVN sẽ được hưởng thêm những ưu đãi để tăng tính cạnh tranh trên thương trường khu vực. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đang tiến hành xây dựng lại Biểu thuế xuất nhập khẩu để áp dụng cho tất cả hàng hoá xuất nhập khẩu vào Việt nam, chuẩn bị áp dụng “Danh mục thế quan áp dụng trong ASEAN”-AHTA (ASEAN Hamornised Tariff Nomenclature). Hai mặt hàng chủ chốt là gạo và phân bón trong hoạt động xuất nhập khẩu đã được Chính phủ công khai cho phép tự do hoá xuất nhập khẩu vào năm 2001. Trước đó, việc xuất nhập khẩu hai mặt hàng này chủ yếu được thực hiện qua các doanh nghiệp nhà nước được uỷ quyền. Đến năm 1998, Bộ Thương mại đã cho phép các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân tham gia xuất nhập khẩu phân bòn, và đến năm 1999, Bộ Thương mại đã công khai việc lựa chọn các doanh nghiệp để có thể tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu gạo qua Quyết định 273/1999/Qđ-TTg ngày 24/12/1999 cho phép các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.Và mới nhất là quyết định bãi bỏ phân bổ hạn ngạch xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón theo Quyết định 46/2001/QD-TTg ngày4/4/2001. Việc tự do hoá là một cơ hội rất lớn cho các DNVVN, xét về mặt hàng gạo , Việt nam là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới và gạo được xem như mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt nam. Còn về phân bón , có ý nghĩa rất quan trọng với một nước với 75% dân số làm nông nghiệp như Việt nam. Bên cạnh những động thái tích cực như vậy vẫn có một số vấn đề phát sinh như: Thứ nhất, hiện nay Việt nam vẫn áp dụng mức tính giá tối thiểu với 20 nhóm mặt hàng, chưa đáp ứng được yêu cầu của Hiệp định hợp tác Hải quan ASEAN và phương pháp xác định giá trị tính thuế nhập khẩu theo nguyên tắc của GATT. Thứ hai, việc Chính phủ ban hành danh mục các mặt hàng bị cấm hoặc hạn chế xuất nhập khẩu tạm thời quá bất ngờ mà không được báo trước hoặc nêu lí do một cách thoả đáng gây nên những cơn sốt về cầu ( như: xe máy...), đồng thời làm các DNVVN bị động trong công tác xuất nhập khẩu, mất uy tín trên thị trường thế giới. Thứ ba, việc quy định ngữ nghĩa của một số mặt hàng chưa được rõ ràng, gây khó hiểu, hiểu lầm thậm chí hiểu sai. Chẳng hạn như “đồ chơi trẻ em có ảnh hưởng xấu đến giáo dục và nhân cách”, “ hàng tiêu dùng đã qua sử dụng” gây ra sự bất đồng vì một số nhân viên hải quan coi một số hàng hoá đã qua tân trang là mới mặc dù chúng đã qua sử dụng. Đó là những vấn đề mà có thể nói sẽ không bao giờ hết . Nhưng nhìn chung thì mặt tích cực của Nghị định 57/CP vẫn là nổi bật, hỗ trợ đáng kể cho các DNVVN trong việc tiếp cận thị trường quốc tế. c. Việc kiểm soát ngoại hối theo hướng nới lỏng dần. Việc nới lỏng kiểm soát ngoại hối trong những năm gần đây phần nào đã tác động tích cực tới khả năng tiếp cận thị trường quốc tế của các DNVVN Việt nam. Cụ thể là theo quy định thi ngoại tệ vào Việt nam được chuyển đổi thành VND, hoặc giữ trong một tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng. Quyết định 173 yêu cầu các DNVVN bán 80% ngoại tệ cho ngân hàng, sau đó nếu yêu cầu cần ngoại tệ thì phải mua lại và thông thường với giá cao hơn đáng kể. Đến năm 1999, Tỷ lệ kết hối ngoại tệ đã được giảm xuống 50% thu nhập ngoại tệ theo Quyết định số 180/1999/QD-NHNN1 ngày 30/3/1999, tiếp đó là giảm xuống 40% thu nhập ngoại tệ vào năm 2001 theo Quyết định 61/2001/QD-TTg ngày 25-4-2001, đó thể hiện những nỗ lực của Chính theo hướng tự do hoá, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các DNVVN trong ngoại hối, nhưng điều đó vẫn còn phải được cải thiện hơn. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhỏ là để có ngoại tệ nhập khẩu, các DNVVN phải giải trình việc mình tham gia vào việc sản xuất các loại sản phẩm nằm trong danh sách các mặt hàng thay thế nhập khẩu hoặc cho các dự án cơ sở hạ tầng. Các doanh nghiệp có liên quan thì được phép còn những doanh nghiệp khác thì đương nhiên không đưọc phép mua ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu. 2. Tác động của chính sách tài chính tiền tệ: a. Chính sách đầu tư: Về đầu tư trong nước: Luật khuyến khích đầu tư trong nước( ban hành ngày 22/6/1994, sửa đổi ngày 20/5/1998) và Nghị định hướng dẫn Luật đã đề ra nhiều chính sách cụ thể hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước nói chung và các DNVVN nói riêng, là một đối trọng quan trọng đối với Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam. Luật đã có những quy định, những điều khoản khuyến khích đầu tư trong nước, tạo điều kiện cho các DNVVN tiến hành đầu tư như qua việc mở rộng chủ thể đầu tư sang cả người Việt nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu tại Việt nam (Trước đó, theo Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty 1990 giới hạn chủ thể chỉ là công dân Việt nam, tổ chức kinh tế xã hội; Luật hợp tác xã giới hạn chỉ là công dân Việt nam và hộ gia đình) hay là qua việc cho phép người nước ngoài, tổ chức kinh tế nước ngoài được phép góp vốn, mua cổ phần đầu tư vào doanh nghiệp Việt nam( không qúa 30% vốn điều lệ). Bên cạnh đó là việc thành lập các quỹ hỗ trợ như Quỹ hỗ trợ đầu tư cho vay với lãi suất ưu đãi ( hiện đã hoạt động trên 4 năm), Quỹ hỗ trợ xuất khẩu, quỹ hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ. Luật đã qui định rõ những lĩnh vực đầu tư, các vùng được ưu đãi kèm theo các chính sách ưu đãi như hỗ trợ mặt bằng kinh doanh, hỗ trợ vốn, ưu đãi thuế, đào tạo. Bước đầu các DNVVN đã tiếp cận được một số nguồn hỗ trợ để phát triển sản xuất. Năm 2000, khu vực này đã được cấp khoảng 1.600 giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, trên 1.100 dự án được vay tín dụng từ quĩ hỗ trợ phát triển, 400 dự án được giao đất, cho thuê đất, hơn 200 dự án được miễn giảm tiền thuế sử dụng đất hoặc giảm tiền thuê đất. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại như việc so với thực tế cần hỗ trợ của DNVVN thì còn nhỏ bé và dàn trải. Vẫn còn thiếu cơ chế pháp lý để khuyến khích đầu tư trong nước đối với thành phần kinh tế trang trại là các DNVVN ở nông thôn. Chính sách khuyến khích đầu tư trong nước chưa tạo cơ hội cho doanh nghiệp ít vốn, khả năng tài chính chưa cao mà chỉ quan tâm đến các chủ thể kinh doanh những ngành nghề mà nhàn nước khuyến khích, một số quy định tồn tại mà chỉ có DNNN và một số doanh nghiệp có điều kiện mới thực hiện được. Còn các DNVVN nói chung thì rất khó tiếp cận. Về đầu tư nước ngoài: Trong điều kiện phát triển kinh tế Việt nam hiện nay, việc khai thác và tận dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ bên ngoài như nguồn vốn đầu tư trực tiếp, nguồn vốn viện trợ phát triển của các tổ chức tài chính quốc tế... có vai trò rất quan trọng. Và Chính phủ cũng có những chính sách, những quan điểm khẳng định tầm quan trọng của nguồn vốn bên ngoài. Luật đầu tư nước ngoài được ban hành tại Việt nam vào năm 1989, được sửa đổi vào các năm 1992, 1994, 1996 và bên cạnh đó là rất nhiều văn bản, thông tư hướng dẫn mà mới nhất là Nghị định số 24/2000/ND-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi thành Luật đầu tư nước ngoài. Tất cả cũng đã tạo điều kiện khuyến khích, hỗ trợ tối đa để thu hút nguồn vốn từ bên ngoài. Bên cạnh đó không thể không nhắc tới nỗ lực của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc hợp tác với Tổ chức đảm bảo đầu tư đa biên (MIGA) để tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi hơn cho cả đầu tư trong và ngoài nước, thành quả có thể kể đến là trang web www.khoahoc.vnn.vn/mpi_website vào 1/2002 nhằm cung cấp những thông tin cần thiết, đầy đủ, cập nhật phục vụ các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đặc biệt, địa chỉ này còn cung cấp phương tiện xin phép đầu tư qua mạng. Nhưng thực tế cần xét tới ở đây là bên góp vốn liên doanh với các công ty liên doanh nước ngoài chủ yếu vẫn là nhà nước và rất ít các DNVVN góp vốn liên doanh. Thành phần kinh tế tư nhân-phần lớn là các DNVVN-chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong vốn liên doanh với bên ngoài và vẫn chưa có chính sách tích cực khuyến khích khu vực các DNVVN tham gia nhiều hơn vào các dự án liên doanh nước ngoài. b. Chính sách tín dụng Hoạt động hỗ trợ tín dụng của nhà nước đối với các DNVVN được quy định cụ thể tại Nghị định 43/1999/ND-CP ngày 29/6/1999 về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, đây chính là một bước tiến quan trọng trong việc thống nhất cơ chế, thể lệ tín dụng và đầu mối cho vay đầu tư phát triển Nhà nước, theo Nghị định này, tín dụng đầu tư phát triển cho DNVVN của nhà nước được thực hiện thông qua Qũy hỗ trợ phát triển( được Chính phủ thành lập theo Nghị định 50/1999/ND-CP ngày 8/7/1999) dưới ba hình thức đầu tư hỗ trợ DNVVN là : Cho vay đầu tư : Đối tượng được vay là các dự án phát triển có khả năng thu hồi vốn trực tiếp bao gồm những dự án đầu tư tại các vùng khó khăn theo danh mục ban hành kèm theo, các dự án nuôi trồng thủy sản, dự án về xã hội hoá y tế, giáo dục, văn hoá, các dự án có sử dụng vốn ODA.Thời hạn vay tối đa là 10 năm Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư : Là hình thức Nhà nước thông qua quỹ hỗ trợ phát triển hỗ trợ một phần lãi suất cho chủ đầu tư vay vốn để đầu tư dự án sau khi dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Đối tượng được hỗ trợ là các dự án được hưởng ưu đãi theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Bảo lãnh tín dụng đầu tư : Là cam kết của quỹ hỗ trợ phát triển với tổ chức tín dụng cho vay vốn về việc trả nợ đầy đủ, đúng hạn của bên đi vay. Quỹ hỗ trợ sẽ có trách nhiệm khi bên đi vay không trả được nợ. Đối tượng được bảo lãnh là các chủ đầu tư có dự án đầu tư thuộc diện được hưởng ưu đãi theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước nhưng không được hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, không được vay hoặc mới chỉ được vay một phần vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Tiếp cận của DNVVN với tín dụng cũng được cải thiện hơn thông qua việc tự do hoá lãi suất trong năm 2001. Vao tháng 6/2001, trần lãi suất cho vay đã được xoá bỏ và được phép vay trên mức lãi suất cơ bản áp dụng đã cải thiện việc tiếp cận tín dụng của các DNVVN. Dưới 3 hình thức đó, nhiều các DNVVN đã tận dụng có hiệu quả và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.Tuy nhiên một thực tế là dẫu rằng các DNVVN được quyền vay vốn tín dụng phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của mình nhưng trên thực tế thì các DNVVN ngoài quốc doanh có rất ít cơ hội để tiếp cận với những nguồn vốn tín dụng cho giai đoạn đầu mới thành lập vì theo các điều kiện, các thể lệ tín dụng thì họ phải có những tài sản cầm cố hoặc thế chấp cho những khoản vay này. Các DNVVN vẫn gặp những khó khăn trong việc chứng nhận quyền sử dụng đất, thủ tục định giá tài sản cầm cố, thế chấp. Trong khi đó những doanh nghiệp quốc doanh không hề phải ký quỹ cho những khoản vay tín dụng tương tự. Những thể lệ tín dụng này tạo sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh. Hơn nữa, khả năng đáp ứng nhu cầu tín dụng của ngân hàng còn hạn chế, hoạt động tín dụng của họ rất khó mở rộng trong khi các khoản nợ xấu đang ngày càng tăng lên. DNVVN cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài trong khi mà thị trường chứng khoán ở Việt nam còn chưa hoạt động. Các nguồn vốn hỗ trợ như khoản hỗ trợ từ Dự án hỗ trợ tài chính cho các DNVVN của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật bản(JBIC), Dự án hỗ trợ DNVVN do phía Italy, Dự án UNDP rõ ràng là có hiệu quả nhưng chưa có nhiều. Khả năng huy động vốn trong nước còn hạn chế, các khoản tín dụng trung và dài hạn dường như nằm ngoài tầm với của các DNVVN ngoài quốc doanh, các nguồn vốn tín dụng ngắn hạn cũng không hoàn toàn thuận lợi. Chính vì lí do đó mà nguồn vốn của các DNVVN chủ yếu lại đến từ các nguồn tín dụng không chính thức. c. Chính sách thuế. Sự đổi mới trong chính sách thuế của Chính phủ đối với doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng thể hiện rõ nhất ở việc thay thuế doanh thu bằng thuế giá trị gia tăng (VAT) kể từ ngày 1/1/1999. Theo đó, 1/3 số lượng hàng hoá dịch vụ chịu mức thuế suất 5%, 62% chịu mức thuế suất 10%, 5% chịu mức thuế suất 20%, tính bình quân trung bình thì mức thuế trung bình như vậy là khá hợp lý. Tại 2 kỳ họp của Quốc hội( kỳ họp 10-1998 và kỳ họp 4-1999), đã ra đời những nghị quyết xử lí kịp thời, tháo gỡ khó khăn cho các DNVVN là giảm 50% mức thuế suất cho ngành du lịch, khách sạn, ăn uống và 7 nhóm hàng hoá cơ bản khác và một số mặt hàng cơ khí phục vụ nông nghiệp. Việc áp dụng thuế VAT là cần thiết nhưng thời điểm bắt đầu áp dụng lại là lúc nền kinh tế đang chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoẳng tài chính khu vực 1997-1998, các doanh nghiệp nói chung lúc đó đang gặp khó khăn. Như vậy chưa hợp lý lắm và chưa tận dụng hiệu qủa triệt để của thuế VAT. Hơn nữa, sự chuẩn bị cho quy trình áp dụng thuế VAT chưa kỹ lưỡng ở cả 3 cấp độ là cơ quan ban hành, cơ quan hành thu và đối tượng chịu thuế. Mặc dù đã ban hành hơn 200 văn bản giải trình hướng dẫn nhưng cơ quan hành thu vẫn thực hiện khá vất vả, khó khăn vẫn chưa được giải quyết tận gốc. Đối tượng nộp thuế chủ yếu là các DNVVN, trình độ quản lí của hệ thống thuế và cả người tiêu dùng cũng thấp, nhưng thuế lại đưa ra yêu cầu quá cao, quản lí thu đối với toàn bộ cơ sở sản xuất kinh doanh, đa mục tiêu như thu ngân sách, thúc đẩy xuất khẩu, ưu tiên cho một số ngành và một số ưu tiên cho tiêu dùng mang tính xã hội... Sự phức tạp này khiến VAT chưa thực sự phù hợp với các doanh nghiệp nói chung và các DNVVN nói riêng. Hơn nữa, trong một số trường hợp thì thuế VAT còn cao hơn thuế doanh thu đối với các DNVVN do việc khấu trừ VAT đầu vào chưa đầy đủ. Vì vậy có khá nhiều DNVVN phải thu hẹp hoạt động sủa xuất kinh doanh do thiếu vốn vì phải nộp thuế VAT trước nhưng khâu hoàn thuế lại tiến hành quá chậm. DNVVN bị thiệt hại đáng kể do số vốn bị chiếm dụng này trong khi họ vẫn phải nộp lãi suất ngân hàng ( vốn vay ngân hàng chiếm tới 70%-80% tổng vốn của các DNVVN). Cụ thể như trường hợp quy định hàng nhập khẩu phải chịu thuế VAT ngay khi mới nhập về đã khiến cho giá thành sản xuất bị đội lên ở những mặt hàng có nguyên liệu nhập khẩu. Những nỗ lực về hỗ trợ thuế cho DNVVN còn phải nói đến các ưu đãi về thuế được quy định tại Nghị định số 51/1999/ND-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước( đã

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docV0396.doc
Tài liệu liên quan