Đề tài Tìm hiểu tình hình sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở trường THCS Phạm Hữu Lầu

 

MỤC LỤC

Trang

A.PHẦN MỞ ĐẦU

I.Lý do chọn đề tài 2

II.Mục đích nghiên cứu 3

III.Nhiệm vụ nghiên cứu 3

IV.Đối tượng nghiên cứu 4

V.Phương pháp nghiên cứu 4

B.PHẦN NỘI DUNG

Chương I. Cơ sở lý luận của dạy học tích cực trong hoá học

I. Định nghĩa phương pháp dạy học tích cực 5-6

II Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 6-9

III.Áp dụng phương pháp dạy học tích cực 9-10

IV. Các phương pháp dạy học tích cực trong hoá học 10-15

Chương II. Thực trạng và giải pháp 16

C.PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

I. Kết luận 27

II. kiến nghị 28

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

doc28 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 28/09/2013 | Lượt xem: 4598 | Lượt tải: 36download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Tìm hiểu tình hình sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở trường THCS Phạm Hữu Lầu, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
của mỗi học sinh và của cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm của giáo viên. Trong nhà trường, phương pháp học tập theo nhóm được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4-6 người. Học tập theo nhóm làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc giải quyết những vấn đề gây cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quan tâm dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh. d. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò Trong hoạt động học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều khiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trước đây quan niệm giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá tự điều chỉnh cách học. Liên quan điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tự đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là một năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh. Theo hướng phát triển của phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học, phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Với sự trợ giúp của cá thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là công việc nặng nhọc đối với gióa viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Từ dạy và học thụ thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Trên lớp học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẽ nhàn nhã hơn nhưng trước đó khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động, mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong hoạt động tìm tòi hào hứng tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên. III. Áp dụng dạy học tích cực trong hóa học Đây là việc nghe rất trừu tượng nhưng khi áp dụng rất dễ hiểu, và một điều đặc biệt là mang lại kết quả tốt trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh. Tập cho học sinh thói quen phân tích bài tập: tìm hiểu kĩ nội dung của bài tập, xác định dạng bài tập (đâu là ẩn đâu là dữ liệu…) khai thác triệt để các dữ kiện, giả thuyết của bài tập, tìm hiểu được phương pháp giải và các kiến thức công cụ thích hợp, phân tích được mối quan hệ hình thành giả thuyết và kết quả…. Rèn luyện cho học sinh tự xây dựng bài tập chương trình giải: phải phác thảo dự kiến con đường chung để giải, xây dựng lập luận cụ thể (diễn dịch, quy nạp, chặt chẽ theo nguyên tắc logic học….), định hướng trước rồi mới giải, học sinh tự rút ra sơ đồ giải các loại bài cùng loại… Sau khi giải xong giáo viên đặc biệt chú ý đến khâu lời giải: chẳng hạn khi giải một phương trình, học sinh đối chiếu nghiệm tìm được các điều kiện đã cho hoặc thay vào phương trình đó để đánh giá kết quả. Việc kiểm tra lời giải thường tiến hành theo hai bước: + Xác định lại tính đúng đắn của bước một và hai (định tính). + Rà soát lại quá trình thao tác đã sử dụng để giải toán (định lượng). Rèn cho học sinh khả năng nghiên cứu lời giải: nghiên cứu – khai thác – phân tích và tìm tòi lời giải khoa học nhất bài tập sẽ giúp học sinh có thói quen tập dượt nghiên cứu khoa học, nắm được bản chất cách giải quyết vấn đề trong giải bài tập. Việc làm trên đây rất quan trọng để rèn luyện tư duy giải bài tập cho học sinh. Đặc biệt cần hướng dẫn cho học sinh các bài tập có liên quan và sáng tao các bài tập mới. Học sinh phải phân tích bài tập để nắm vững đặc điểm và bản chất, các yếu tố thuộc bài tập, thấy được mối quan hệ giữa các bài tập khác nhau. Có thể thay đổi điều kiện hoặc các yếu tố đã cho để đi đến một bài tập mới. IV. Các phương pháp dạy học tích cực trong Hóa học. Dạy học đặt và giải quyết vấn đề. Đây không phải là phương pháp hoàn toàn mới với giáo viên. Từ những năm 1960 chúng ta đã làm quen với một thuật ngữ “phương pháp nêu vấn đề”, quan tâm đến việc cải tạo tình huống có vấn đề để thu hút học sinh vào qua trình nhận thức tích cực. Cho đến nay đa số giáo viên chưa vận dụng thành thạo và chỉ ở trình độ thấp. Để đáp ứng yêu cầu tăng cường rèn luyện năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh và sự đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực là tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học, ta cần xây dựng kế hoạch (Giáo án) theo hướng dạy học trong hoạt động. Vậy cấu trúc và quá trình thiết kế giờ học theo hướng này như thế nào ta hãy xem xét nội dung cụ thể của nó: Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo dạy học Đặt – giải quyết vấn đề như sau: Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức Tạo tình huống có vấn đề Phát hiện nhận dạng vấn đề nảy sinh Phát biểu vấn đề cần giải quyết Giải quyết vấn đề đặt ra Đề xuất cách giải quyết Lập kế hoạch giải quyết Thực hiện kế hoạch giải Kết luận Thảo luận kết quả và đánh giá Khẳng định hay bác bõ giả thuyết nêu ra Phát biểu thảo luận Đề xuất vấn đề mới Trong dạy học Đặt – giải quyết vấn đề có thể phân biệt 4 mức trình độ: Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cáh giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của giáo viên Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá. Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp thực hiện cách giải quyết vấn đề. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá. Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc của cộng đồng, lựa chọn vấn đề phải giải quyết. Học sinh giải quyết vấn đề tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc. Hiện nay nhiều giáo viên đã áp dụng ở mức 1 và 2. Cần phấn đấu để ngày càng có nhiều bài học thành công ở mức 3 và 4. Trong dạy học Đặt – giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.Dạy học Đặt – giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù phương pháp dạy học, nó đòi hỏi cải tạo nội dung đổi mới cáh tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với phương pháp dạy học. 2.Vấn đáp tìm tòi: là phương pháp giáo viên đặt câu hỏi dể học sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt 3 loại vấn đáp: Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt những câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại những kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Vấn đáp tái hiện không dược xem là 1 phương pháp có giá trị sư pham. Vấn đáp giải thích – minh họa:nhằm mụcđích làm sáng tỏ 1 đề tài nào đó. Giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh họa để giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn. Vấn đáp tìm tòi(đàm thoại Owrixtic): giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng dẫn học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích swj ham muốn hiểu biết. Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận giữa giáo viên với cả lớp, có khi giữa trò với trò nhằm giải quyết một vấn đề xác định. Trong phương pháp tìm tòi giáo viên giống như người tổ chức sự tìm tòi còn học sinh như là người phát hiện kiến thức mới. Vì vậy khi kết thúc cuộc đàm thoại học sinh có niềm vui của khám phá, trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy. HIện nay đa số giáo viên dừng lại ở phương pháp tái hioeenj kiến thức hoặc vấn đáp giải thích minh họa. →Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt, thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực bảo đảm sự thành đạt trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh. Vì vậy tập dượt học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt ra như một mục tiêu giáo dục và đào tạo. 3.Dạy học theo nhóm nhỏ: phương pháp này cho phép các thành viên trong nhóm nhỏ chia sẻ những băn khoăn kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng phương pháp nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang suy nghĩ, mỗi người có thể nhận thức rõ trình độ hiểu biết của mình, thấy được mình cần học hỏi thêm những gì.bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp thu thụ động từ giáo viên. Dạy học theo nhóm nhỏ dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên, học sinh được chia thành từng nhóm nhỏ liên kết lại với nhau trong một hoạt động chung, với phương thức tác động qua lại giữa các thành viên và bằng trí tuệ tập thể để hoàn thành các nhiệm vụ học tập. Học tập hợp tác theo nhóm nhỏ trong dạy học hóa học được thực hiện khi: - Nhóm học sinh nghiên cứu tiến hành thí nghiệm để rút ra kết luận về tính chất của chất. - Thảo luận nhóm để tìm ra lời giải, nhận xét, kết luận cho một vấn đề học tập hay một bài tập hóa học cụ thể. - Cùng nhau thực hiện nhiệm vụ do giáo viên nêu ra. Để phát huy tính tích cực của phương pháp này cần đảm bảo một số yêu cầu sau: Phân công nhóm Phân công trách nhiệm trong nhóm Phương pháp này còn bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, thời gian hạn định của tiết học nên phải biết tổ chức hợp lý và học sinh đã quen với hoạt động này thì mới có kết quả tốt. Mỗi tiết học chỉ nên tổ chức từ 1-3 hoạt động nhóm, mối hoạt động cần 5-10 phút. Cần tránh khuynh hướng hình thức và lạm dụng phương pháp này khi cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp dạy học hoặc hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới. 4.Sử dụng thí nghiệm theo hướng tích cực. Trong dạy học hóa học, thí nghiệm thường được dùng để chứng minh, minh họa cho những thông báo lời nói của giáo viên về các kiến thức hóa học. Thí nghiệm cũng được dùng làm phương tiện để nghiên cứu tính chất hình thành các khái niện hóa học. Sử dụng thí nghiệm trong hóa học được xem là tích cực khi thí nghiệm hóa học được dùng làm kiến thức để học sinh khai thác, tìm kiếm kiến thức hoặc dùng để kiểm chứng, kiêm tra những dự đoán, những suy luận lý thuyết, hình thành khái niệm.. Các thí nghiệm dùng trong giờ học hóa học chủ yếu do học sinh thực hiện. Các thí nghiệm phức tạp được giáo viên biễu dienx và cũng được thực hiện theo chiều hướng nghiên cứu. Các dạng sử dụng thí nghiệm hóa học nhằm mục đích minh họa, chứng minh cho lời giảng được hạn chế dần và được đánh giá là ít tích cực. Thí nghiệm hóa học được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu do học giáo viên biễu diễn hay cho học sinh, nhjoms học sinhtieens hành đều được đánh giá là là có mức độ tích cực cao. Các dang thí nghiệm được sử dụng: Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu. Sử dụng thí nghiệm đối chứng. Sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề. Sử dụng thí nghiệm hóa học tổ chức cho học sinh nghiên cứu tính chất các chất. 5.Sử dụng phương tiện dạy học theo hướng dạy học tích cực. Ngoài thí nghiệm hóa học giáo viên còn sử dụng các phương tiện dạy học hóa học khác như: mô hình, sơ đồ, hình vẽ, bản biểu…; phương tiện nghe nhìn :máy chiếu, bảng trong, băng hình máy tính…Phương tiện dạy học được sử dụng trong các loại bài dạy hóa học nhưng phổ biến hơn cả là bài hình thành khái niệm nghiên cứu các chất. Các loại bài dạy hóa học có sử dụng phương tiện dạy học hóa học đều được coi lag giờ học tích cực. Nếu giáo viên dùng phương tiện dạy học là nguồn kiến thức để học sinh tìm kiếm, phát hiện, kiến tạo kiến thức mới sẽ là các các giờ học tích cực cao hơn nhiều. Hoạt động của giáo viên bao gồm: Nêu mục đích và phương pháp quan sát phương tiện trực quan Trưng bày phương tiện nêu yêu cầu quan sát. Nêu yêu cầu nhận xét, kết luận và nhận thức. Hoạt động tương ứng của học sinh: Nắm được mục đích nghiên cứu qua phương tiện trực quan. Quan sát phương tiện trực quan, tìm ra những kiến thức cần tiếp thu. Rút ra nhận xét, kết luận kiến thức cần lĩnh hội qua các phương tiện trực quan đó. Các phương tiện trực quan thường sử dụng: Sử dụng mô hình, hình vẽ,sơ đồ Sử dụng bản trong và máy chiếu 6.Sử dụng bài tập hóa học theo hướng tích cực. Bản thân bài tập hóa học đã là phương pháp dạy học tích cực song tính tích cực của phương pháp này được nâng cao hơn khi sử dụng như là nguồn kiến thức để học sinh tìm tòi chứ không phải để tái hiện kiến thức. Với tính đa dạng của mình bài tập hóa học là phương tiện để tích cực hóa hoạt động của học sinh trong các bài dạy hóa học, nhưng hiệu quả của nó còn phụ thuộc vào việc sử dụng của giáo viên trong quá trình dạy học hoc học. Các dạng bài tạp thường được sử dụng: Sử dụng bài tập hóa học để hình thành khái niệm hóa học. Sử dụng bài tập thưc nghiệm hóa học Sử dụng các bài tập thực tiễn CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THCS PHẠM HỮU LẦU. I.Thực trạng về cơ sở tiến hành thực tập 1. Nhà trường: trường với tên gọi là trường THCS Phạm Hữu Lầu hiện tại trường đang đóng ở địa bàn phường 6, thành phố Cao Lãnh. Diện tích của trường còn hạn chế (rất hạn hẹp), cơ sở vật chất trang thiết bị kĩ thuật như phòng máy, phòng vi tính,phòng thực hành còn thiếu. Trường vẫn chưa có sân tập thể thao riêng. Lúc mới thành lập trường chỉ có 5 phòng nhưng hiện tại trường đã có được 10 phòng học, 1 phòng dành riêng cho việc để trang thiết bị liên quan đến việc dạy học như tranh ảnh, hóa chất, dụng cụ cần thiết cho qua trình làm thí nghiệm…vá một phòng cho Ban giám hiệu. Cán bộ công nhân viên trong trường được 50 người trong đó có 36 là nữ. Đa số giáo viên đều đạt trình độ đại học, chỉ một số ít đạt trình độ cao đẳng. Khó khăn của trường: phần lớn học sinh là con lao động nên còn gặp nhiều khó khăn trong việc giảng dạy, các em còn chưa quan tâm đến việc học của mình thường hay nghỉ học và bõ tiết nhiều. 2.Giáo viên: trường có 50 giáo viên trong đó có 2 giáo viên dạy hóa, cả hai đều đạt trình độ chuẩn có kinh nghiệm lâu năm trong việc giảng dạy, các thao tác trên lớp đều rất thành thạo. Thu hút được nhiều học sinh. 3.Học sinh: đa số cá em có thành tích học tập tốt, mức độ tiếp thu bài tốt,các em rất hay tích cực phát biểu trong giờ học. Các em cũng thường xuyên tìm tòi học hỏi và độc tài liệu tham khảo. Việc chuẩn bị bài ở nhà được cã em thực hiện khá nghiêm túc. II. Kết quả nghiên cứu được trong thực tế Để nghiên cứu tôi đã sử dụng ba phương pháp. Sau đây là kết quả tôi nghiên cứu được. Phương pháp quan sát: - Quan sát giáo viên dạy giờ: tôi đã được tham dự tiết dạy giờ của thầy Nguyễn Thiện Tường ở lóp 9A4. Hôm tiết dự giờ thầy sử dụng máy chiếu để giảng dạy, việc này sẽ trợ giúp tích cực cho quá trình dạy học hóc học. Việc sử dụng giáo án điện tử, giúp giáo viên đã cụ thể hóa các hoạt động như làm thí nghiệm đều được thầy chiếu lên cho học sinh quan sát và yêu cầu học sinh trả lời. Từ đó cho thấy làm hạn chế tiết kiệm được thời gian, đồng thời làm tăng tính tư duy cho học sinh, kích thích các em phải suy nghĩ nhiều hơn, quan sát nhiều hơn gợi được sự thích thú ở học sinh. →Quan sát học sinh trong tiết dự giờ lớp 9A4, tôi thấy các em rất sôi nổi hào hứng nhiệt tình phát biểu, chủ động trong các hoạt động như chủ động quan sát mẫu vật thí nghiệm để rút ra nhận xét, thậm chí khi nhận xét tính chất vật lý của rượu etylic học sinh đã chủ động nếm thử để nhận xét vị vủa rượu. Học sinh rất tập trung suy nghĩ bài tập do giáo viên đưa ra, và còn thảo luận nhóm với nhau để làm bài tập. Qua một tiết được dự giờ quan sát tôi thấy cả thầy và học sinh đều hoạt động rất tích cực trong tiết học, tiết học trở nên hấp dẫn không còn cảm giác nhàm chán, không còn cảm giác mong cho mau chóng hết tiết học nữa. Đây là dấu hiệu đáng mừng của việc áp dụng phương pháp dạy học mới.Trong bài giảng của thầy có sự phố hợp giữa các trang thiết bị hiện đại làm háp dẫn và sinh động hơn trong bài giảng. Bài giảng rõ ràng, gây được sự chú ý của học sinh, phát triển được tính tư duy của học sinh. Trong tiết học thầy đã sử dụng cả phương pháp học theo nhóm để các em thảo luận trao đổi với nhau. Làm cho tiết học rất sôi nổi. Qua đó ta thấy học sinh ngày càng bộc lộ được những khả năng, năng khiếu của mình, và học sinh trở nên chủ động hơn trong việc học hơn. Phương pháp trò chuyện: Để tìm hiêu việc dạy và học như thế nào, tôi đã trò chuyện với 2 học sinh của lớp 8A3 và lớp 8A4, cùng giáo viên dạy hóa NGUyễn Thiện Tường. Với giáo viên thầy Tường: Câu hỏi:Ngày nay trong dạy học đòi hỏi phải tích cực hóc hoạt động của học sinh, vậy thầy đã làm gì để làm tăng tích tích cực học tập cho học sinh? Trả lời: Luôn tạo cho học sinh không khí vui vẻ trong học tập qua các bài học, luôn tạo điều kiện cho các em phát biểu hỏi những câu hỏi và yêu cầu học sinh trả lời, khi còn thời gian thường hỏi những câu hỏi liên hệ thực tiễn để kích thích sự học hỏi của các em, hay làm thí nghiệm biểu diễn trong giờ học và có thời gian gọi các em lên làm thí nghiệm, để từ đó kích thích sự say mê hứng thú đối với học sinh.Giao bài tập về nhà cho các em làm, để có thể giúp các em rèn luyện được kỹ năng cho mình. Với học sinh: em Nguyễn Thị Thúy An lớp 8A3 Câu hỏi 1:Học môn hóa học em thấy nó có khó không? Và em đã học nó như thế nào? Trả lời: em thấy nó không khó. Em thường xuyên chuẩn bị bài trước ở nhà và khi học về thầy giao bài tập nào là em làm ngay vì sợ để lâu em sẽ quên. Câu hỏi 2:Em có thường tìm tài liêu thêm cho mình không? Trả lời:Lúc rãnh rỗi em thường lên mạng tìm nhũng tài liệu hóa học có liên quan như những câu hỏi vui về hóa học những bài tập mới có liên quan …. Với học sinh khác: em Lê hữu Nhật Huy lớp 8A1 Với câu hỏi 1 em trả lời:em thấy học hóa không khó mà việc quan trọng là mình có chịu học bài, chuẩn bị bài và làm bài hay không mà thôi. Với câu hỏi thứ 2 em trả lời: em vẫn thường xuyên lên mạng để tìm tài liệu cần thiết cho qua trình học tập của mình. Qua trò chuyện với giáo viên và học sinh tôi thấy mọi người đang thực hiện tốt theo chương trình đổi mới cách dạy và học. Giáo viên luôn tạo mọi điều kiện để học sinh được hoạt động nhiều hơn trong tiết học, giúp học sinh chủ động hơn trong các hoạt động. Và không riêng vì giáo viên mà ngay cả bản thân học sinh cũng phải hoạt động rất tích cực. Và công việc dạy học bây giờ không phải là việc thầy vào ghi kiến thức lên bảng cho học sinh ghi vào tập mà ở đây là sự trao đổi giữa thầy và trò, trò và trò. Thầy hỏi học sinh trả lời, học sinh thắc mắc thầy giúp học sinh giải quyết những thắc mắc của mình qua đó học sinh nắm được tri thức mới.Xem ra việc dạy học ngày càng tiến bộ hơn. Phương pháp phỏng vấn Vừa qua trong đợt kiến tập tôi đã tiến hành tìm hiểu tình hình học tập tích cực của học sinh ở hai lớp 8A1 và 8A2. Tôi đã tiến hành phát 50 phiếu phỏng vấn cho hai lớp và kết quả thu lại được 46 phiếu. Sau đây là lần lượt kết quả mà tôi tthu được trong chuyến đi kiến tập. * Đầu tiên để tìm hiểu về việc chuẩn bị bài của học sinh ta xem kết quả ở bảng 1: Bảng 1: Ý kiến học sinh ý kiến học sinh Tỉ lệ(%) Có và thường xuyên 25/46 54.4 Chỉ thỉnh thoảng 15/46 32.6 Không có 2/46 4.3 ý kiến khác 4/46 8.7 →Nhìn chung qua kết quả ta thấy phần lắn các em đều có chuẩn bị bài ở nhà trước khi đến lớp chiếm 54,4%. Tuy nhiên vẫn còn một số học sinh chư quan trọng hóa việc chuẩn bị bài ở nhà nên chỉ thỉnh thoảng các em mới chuẩn bị bài chiếm 32.6%. Bên cạnh đó vẫn còn một vài học sinh không chuẩn bị bài trước khi đến lớp chiếm 4,3% và một số học sinh có ý kiến khác chiếm 8,7%. Cho thấy các em có quan tâm đến việc học của mình, luôn chuẩn bị bài vở trước khi vào lớp, từ đó giúp học sinh có thể chủ động hơn nhưng vẫn còn một số ý kiến khác cho rằng chỉ khi có giáo viên yêu cầu hoặc khi có dự giờ mới chuẩn bị bài cho thấy các em chưa tích cực trong việc học, ý thức của các em còn kém. * Để xem các em có hay tổ chức học nhóm với nhau hay không ta sang bảng 2. Bảng 2: Ý kiến học sinh ý kiến học sinh Tỉ lệ(%) Có và thường xuyên 8/46 17.6 Có nhưng ít 22/46 47.8 Không có 11/46 23.9 ý kiến khác 5/46 10.7 →Qua kết quả về việc học nhóm của học sinh ta thấy kết quả chưa được tốt, số tỉ lệ chưa chiếm hơn một nữa, việc các em thường xuyên tổ chức học nhóm rất hạn chế chiếm 17,6%. Mà thỉnh thoảng các em mới tiến hành học nhóm với nhau chiếm 47.8%. Và việc các em không tiến hành học nhóm cũng chiếm tỉ lệ tương đối 23.9%. Điều đó cho thấy các em chưa ý thức đươc lợi ích của việc học nhóm. Và một số em lại có lí do khác chiếm 10.7% để không học nhóm, đa số các em đều bảo rằng mình không có thời gian. Từ đó cho thấy các em chưa siêng năng tích cực hoạt động nhóm. * Ta tiếp tục sang bảng 3 để biết các em có thích vận dụng hóa học vào trong thực tiễn hay không. Bảng 3: Ý kiến học sinh ý kiến học sinh Tỉ lệ(%) Thích 30//46 65.3 Không thích 3/46 6.5 Có hay không cũng được 10/46 21.7 ý kiến khác 3/46 6.5 →Từ bảng số liệu ta thấy đa số các em đều thích vận dụng kiến thức hóa học trong thực tế với tỉ lệ chiếm 65.3% điều này cho thấy các em thấy được vai trò tích cực của hóa học và khả năng tìm tòi học hỏi của học sinh để phát huy tính tích cực của mình . Bên cạnh ấy vẫn còn một vài em không thích vận dụng kiến thức hóa học trong thực tế chiếm 6.5%. Vả lại vẫn còn một số học sinh không quan tâm gì đến việc học của mình xem nó chẳng quan trọng gì có vận dụng hay không cũng được với ý kiến này chiếm tỉ lệ 21.7%. Ngoài ra còn có một vài ý kiến khác chiếm 6.5%, nhưng nhìn chung đều tán thành việc liên hệ trong thực tế và yêu cầu giáo viên nên áp dụng nhiều hơn nữa. * Để tìm hiểu tính tính tích cực của học sinh trong học tập ta sang bảng 4 để xem các em có hay phát biểu xây dựng bài hay không? Bảng 4: Ý kiến học sinh ý kiến học sinh Tỉ lệ(%) Có và nhiều 14/46 30.4 Có nhưng ít 23/46 50 Không có 1/46 2.1 ý kiến khác 8/46 17.4 →Từ đó ta thấy việc các em thường xuyên phát biểuxây dựng bài để làm cho tiết học thêm sinh động chỉ chiếm 30.4%. Trong khi ấy việc các em có phát biểu trong tiết học nhưng ít chiếm tới 50%. Cho thấy các em chưa phát huy được hết tính tích cực của mình vẫn còn thụ động. Và việc không phát biểu trong giờ học cũng chiếm rất ít chỉ 2.1%. Đây là dấu hiệu tốt. và ý kiến khác chiếm 17.4% nhưng phần lớn ý kiến của các em đều là do chưa chuẩn bị bài kịp nên không phát biểu. Điều này cần sớm khắc phục. Vì nếu không phát biểu các em sẽ trở nên thụ động và làm cho lớp học nhàm chán. Mặt khác qua phát biểu cũng có thể giúp học sinh phát triển kĩ năng giao tiếp với thầy cô bạn bè. * Sau đây ta sẽ sang bảng 5 để tìm hiểu xem giáo viên của em có hay gọi các em phát biểu trong tiết học hay không? Bảng 5: Ý kiến học sinh ý kiến học sinh Tỉ lệ(%) Có và nhiều 27/46 58.7 Có nhưng ít chỉ 1,2 bạn 8/46 17.4 Không có 3/46 6.5 ý kiến khác 8/46 17.4 →Qua điều tra ta thấy việc giáo viên gọi các em phát biểu để các em hoạt động trong tiết học chiếm tỉ lệ cao theo ý kiến học sinh là 58.7%. Điều đó cho thấy giáo viên luôn quan tâm dến việc phát huy tính tích cực cho học sinh trong học tập. Bên cạnh ấy vãn còn một vài ý kiến khác như giáo viên có gọi phát biểu nhưng ít chiếm 17/4%, không gọi phát biểu chiếm 6.5% và một số ý kiến khác chiếm 17.4%, với đa số là các em cho rằng giáo viên chỉ gọi các bạn giơ tay thôi. Đòi hỏi giáo viên phải chú ý quan tâm hơn. * Tiếp tục sang bảng 6 để xem học sinh có hay tìm thêm tài liệu hay không? Bảng 6: Ý kiến học sinh ý kiến học sinh Tỉ lệ(%) Có và th

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docHình sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở trường THCS Phạm Hữu Lầu.doc
Tài liệu liên quan