Đề tài Tìm hiểu vấn đề bảo mật mạng LAN

Một tường lửa phải có các chính sách an toàn (security policy) vì thực chất tường lửa chỉ là một công cụ thực thi các chính sách an toàn. Việc quản lý và xây dựng chính sách an toàn một cách chặt chẽ sẽ tạo ra được sức mạnh cho tường lửa. Vì vậy trước khi chúng ta xây dựng các quy tắc căn bản thì chúng ta phải hiểu được chính sách an toàn của tường lửa cần xây dựng là gì ?

 

 

Và đồng thời cũng phải xây dựng các chính sách an toàn sao cho dễ hiểu và đơn giản một cách tương đối và không nên xây dựng một cách quá phức tạp dẫn đến chồng chéo dễ gây nhầm lẫn và dễ kiểm tra, bảo trì. Chúng ta có thể đưa ra một số chính sách an toàn rất đơn giản như sau:

 

Những máy trong mạng nội bộ được truy nhập ra Internet không giới hạn. Cho phép sự truy cập vào Web và Mail Server của mạng nội bộ từ Internet

Tất cả các thông tin đi vào trong mạch nội bộ đều phải được xác thực và mã hoá.

 

doc62 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 26/01/2014 | Lượt xem: 5851 | Lượt tải: 86download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tìm hiểu vấn đề bảo mật mạng LAN, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
uật lọc đựơc định nghĩa sao cho các host trên mạng nội bộ được quyền truy nhập trực tiếp tới Internet, trong khi các host trên Internet chỉ có một số giới hạn các truy nhập vào các máy tính trên mạng nội bộ. Tư tưởng của mô hình cấu trúc firewall này là tất cả những gì không được chỉ ra rõ ràng là cho phép thì có nghĩa là bị từ chối. Bên ngoài Packet filtering router The Internet Mạng nội bộ Hình 3: Packet-Filtering Router Ưu điểm ¾ Giá thành thấp (vì cấu hình đơn giản) ¾ Trong suốt đối với user Hạn chế ¾ Có tất cả hạn chế của một packet-filtering router, như là dễ bị tấn công vào các bộ lọc mà cấu hình được đặt không hoàn hảo, hoặc là bị tấn công ngầm dưới những dịch vụ đã được phép. ¾ Bởi vì các packet được trao đổi trực tiếp giữa hai mạng thông qua router , nguy cơ bị tấn công quyết định bởi số lượng các host và dịch vụ được phép. Điều đó dẫn đến mỗi một host được phép truy nhập trực tiếp vào Internet cần phải được cung cấp một hệ thống xác thực phức tạp, và thường xuyên kiểm tra bởi người quản trị mạng xem có dấu hiệu của sự tấn công nào không. ¾ Nếu một packet-filtering router do một sự cố nào đó ngừng hoạt động, tất cả hệ thống trên mạng nội bộ có thể bị tấn công. b. Screened Host Firewall Hệ thống này bao gồm một packet-filtering router và một bastion host. Screened Host Firewall cung cấp độ bảo mật cao hơn Packet-Filtering Router, vì nó thực hiện cả bảo mật ở tầng network( packet-filtering ) và ở tầng ứng dụng (application level). Đồng thời, kẻ tấn công phải phá vỡ cả hai tầng bảo mật để tấn công vào mạng nội bộ. Packet filtering Bên trong Bên ngoài The Internet  router Bastion host  Mạng nội bộ Information server Hình 4: Screened Host Firewall Trong hệ thống này, bastion host được cấu hình ở trong mạng nội bộ. Quy luật filtering trên packet-filtering router được định nghĩa sao cho tất cả các hệ thống ở bên ngoài chỉ có thể truy nhập bastion host. Việc truyền thông tới tất cả các hệ thống bên trong đều bị khoá. Bởi vì các hệ thống nội bộ và bastion host ở trên cùng một mạng, chính sách bảo mật của một tổ chức sẽ quyết định xem các hệ thống nội bộ được phép truy nhập trực tiếp vào bastion Internet hay là chúng phải sử dụng dịch vụ proxy trên bastion host. Việc bắt buộc những user nội bộ được thực hiện bằng cách đặt cấu hình bộ lọc của router sao cho chỉ chấp nhận những truyền thông nội bộ xuất phát từ bastion host. Ưu điểm ¾ Máy chủ cung cấp các thông tin công cộng qua dịch vụ Web và FTP có thể đặt trên packet-filtering router và bastion. Trong trường hợp yêu cầu độ an toàn cao nhất, bastion host có thể chạy các dịch vụ proxy yêu cầu tất cả các user cả trong và ngoài truy nhập qua bastion host trước khi nối với máy chủ. Trường hợp không yêu cầu độ an toàn cao thì các máy nội bộ có thể nối thẳng với máy chủ. ¾ Nếu cần độ bảo mật cao hơn nữa thì có thể dùng hệ thống firewall dual- home (hai chiều) bastion host. Một hệ thống bastion host như vậy có 2 giao diện mạng (network interface), nhưng khi đó khả năng truyền thông trực tiếp giữa hai giao diện đó qua dịch vụ proxy là bị cấm. Bên trong Bênngoài The internet Packet filtering router Bastion host Mạng nội bộ Information server Hình 5: Hệ thống firewall dual-home (hai chiều) bastion host. Hạn chế ¾ Bởi vì bastion host là hệ thống bên trong duy nhất có thể truy nhập được từ Internet, sự tấn công cũng chỉ giới hạn đến bastion host mà thôi. Tuy nhiên, nếu như user log on được vào bastion host thì họ có thể dễ dàng truy nhập toàn bộ mạng nội bộ. Vì vậy cần phải cấm không cho user logon vào bastion host. c. Demilitarized Zone (DMZ - khu vực phi quân sự) hay Screened-subnet Firewall Hệ thống này bao gồm hai packet-filtering router và một bastion host. Hệ thống firewall này có độ an toàn cao nhất vì nó cung cấp cả mức bảo mật network và application trong khi định nghĩa một mạng “phi quân sự”. Mạng DMZ đóng vai trò như một mạng nhỏ, cô lập đặt giữa Internet và mạng nội bộ. Cơ bản, một DMZ được cấu hình sao cho các hệ thống trên Internet và mạng nội bộ chỉ có thể truy nhập được một số giới hạn các hệ thống trên mạng DMZ, và sự truyền trực tiếp qua mạng DMZ là không thể được. Với những thông tin đến, router ngoài chống lại những sự tấn công chuẩn (như giả mạo địa chỉ IP), và điều khiển truy nhập tới DMZ. Nó cho phép hệ thống bên ngoài truy nhập chỉ bastion host, và có thể cả information server. Router trong cung cấp sự bảo vệ thứ hai bằng cách điều khiển DMZ truy nhập mạng nội bộ chỉ với những truyền thông bắt đầu từ bastion host. Với những thông tin đi, router trong điều khiển mạng nội bộ truy nhập tới DMZ. Nó chỉ cho phép các hệ thống bên trong truy nhập bastion host và có thể cả information server. Quy luật filtering trên router ngoài yêu cầu sử dung dich vụ proxy bằng cách chỉ cho phép thông tin ra bắt nguồn từ bastion host. Bên trong Bên ngoài Packet filtering router Bastion host The Internet Outside Inside router Information server Ưu điểm Hình 6: Screened-subnet Firewall ¾ Kẻ tấn công cần phá vỡ ba tầng bảo vệ: router ngoài, bastion host và router trong. ¾ Bởi vì router ngoài chỉ quảng cáo DMZ network tới Internet, hệ thống mạng nội bộ là không thể nhìn thấy (invisible). Chỉ có một số hệ thống đã được chọn ra trên DMZ là được biết đến bởi Internet qua routing table và DNS information exchange ( Domain Name Server ). ¾ Bởi vì router trong chỉ quảng cáo DMZ network tới mạng nội bộ, các hệ thống trong mạng nội bộ không thể truy nhập trực tiếp vào Internet. Điều nay đảm bảo rằng những user bên trong bắt buộc phải truy nhập Internet qua dịch vụ proxy. 2.2. Các chiến lược xây dựng firewall Khi nghiên cứu chi tiết về Firewall, chúng ta cần hiểu một số chiến lược cơ bản được dùng xây dựng Firewall. 2.2.1. Quyền hạn tối thiểu(Least Privilege) Một nguyên tắc cơ bản nhất của an toàn (không phải chỉ áp dụng cho an toàn mạng) là trao quyền tối thiểu. Về cơ bản, nguyên tắc này có nghĩa là bất kỳ một đối tượng nào (người sử dụng, người quản trị, chương trình, hệ thống….) Chỉ nên có những quyên hạn nhất định mà đối tượng đó cần phải có để thực hiện các nhiện vụ của mình và chỉ như vậy. Quyền hạn tối thiểu là nguyên tắc quan trọng để tránh cho người ngoài lợi dụng đột nhập và hạn chế sự phá huỷ do các đột nhập gây ra. 2.2.2. Bảo vệ theo chiều sâu (Defense in Depth) Một nguyên tắc khác của an toàn và bảo vệ theo chiều sâu. Đối với mỗi hệ thống, không nên cài đặt và chỉ sử dụng một chế độ an toàn cho dù nó có thể mạnh, mà nên lắp đặt nhiều cơ chế an toàn để chúng có thể hỗ trợ lẫn nhau. Vì vậy firewall được xây dựng theo cơ chế có nhiều lớp bảo vệ. 2.2.3. Nút thắt (Choke Point) Một nút thắt bắt buộc những kẻ đột nhập phải đi qua một “cửa khẩu” hẹp mà chúng ta có thể kiểm soát và điều khiển được giống như việc muốn vào rạp xem hát, ta phải đi qua cổng kiểm soát vé. Trong cơ chế an toàn mạng, Firewall nằm giữa hệ thống của ta và mạng Internet, nó chính là một nút thắt. Bất kỳ ai có ý định đột nhập hệ thống từ Internet sẽ phải qua cửa khẩu này, và ta có thể theo dõi, quản lý được. 2.2.4. Điểm xung yếu nhất (Weakest Link) Khi muốn xâm nhập vào hệ thống, kẻ đột nhập tinh ranh thường tìm các điểm yếu nhất đẻ tấn công vào đó. Do vậy, đối với từng hệ thống cần phải biết điểm yếu nhất để có phương án bảo vệ an toàn hệ thống. Thường ta hay quan tâm đến những kẻ đột nhập trên mạng hơn là những kẻ tiếp nhận hệ thống, cho nên an toàn về mặt vật lý được coi là điểm yếu nhất trong mọi hệ thống. 2.2.5. Hỏng trong an toàn (Fail-Safe Stance) Một nguyên tắc nền tảng khác của an toàn là “hỏng trong an toàn”; Điều này có nghĩa là nếu hệ thống đang hỏng thì nó phải được hỏng theo một cách nào đó để ngăn chặn sự truy nhập bất hợp pháp tốt hơn là để cho kẻ đột nhập lọt vào phá hệ thống. Đương nhiên việc hỏng trong an toàn cũng huỷ bỏ sự truy nhập hợp pháp của người sử dụng cho đến khi hệ thống được khôi phục lại. Dựa trên nguyên tắc này người ta đưa ra hai quy tắc cơ bản áp dụng cho các quy định và biện pháp an toàn: Một là, Default deny Stance: Chú trọng vào những cái được phép và ngăn chặn tất cả cái gì còn lại. Những gì không rõ ràng cụ thể sẽ bị ngăn cấm. Hai là, Default permit stance: Trú trọng vào những cái bị ngăn cấm và cho phép tất cả những cái còn lại, những gì không bị ngăn cấm thì đựợc phép. Hầu hết những người sử dụng và nhà quản lý quy tắc default pernmit stance cho rằng mọi thứ mặc định nghĩa là cho phép và một số dịch vụ, hành động rắc rối, không rõ ràng sẽ bị ngăn cấm. Ví dụ: NFS không cho phép qua firewall. Truy nhập WWW bị hạn chế đối với những chuyên gia đào tạo về những vấn đề an toàn của WWW. Người sử dụng không được cài đặt các Server không được phép. Vậy vận dụng quy tắc nào thì tốt hơn? Theo quan điểm về an toàn thì nên dùng quy tắc “Default deny stance”. Còn theo quan điểm của các nhà quản lý thì lại là quy tắc “Default pernmit Stance”. 2.2.6. Sự tham gia toàn cầu Để đạt hiệu quả an toàn cao, tất cả các hệ thống trên mạng phải tham gia vào giải pháp an toàn. Nếu tồn tại một hệ thống có cơ chế an toàn kém, người truy nhập bất hợp pháp có thể truy nhập vào hệ thống này sau đó truy nhập các hệ thống khác từ bên trong. 2.2.7. Tính đa dạng của việc bảo vệ Do sử dụng nhiều hệ thống khác nhau, ta phải có nhiều biện pháp bảo vệ để đảm bảo chiến lược bảo vệ theo chiều sâu. Bởi vì, nếu tất cả các hệ thống của ta đều như nhau và một người nào đó biết cách đột nhập vào một trong số các hệ thống thì anh ta cũng có thể đột nhập vào tất các hệ thống còn lại. Sử dụng nhiều hệ thống khác nhau có thể hạn chế các các cơ hội phát sinh lỗi và an toàn hơn. Song đổi lại, ta phải đối mặt với các vấn đề về giá cả và tính chất phức tạp. Việc mua bán, lắp đặt nhiều hệ thống khác nhau sẽ khó hơn, tốn kém thời gian hơn các hệ thống cùng chủng loại. Ngoài ra , cũng cần nhiều sự hỗ trợ và thời gian để đào tạo cán bộ vận hành, quản trị hệ thống từ phía các nhà cung cấp. 2.2.8. Đơn giản hoá Mọi thứ đơn giản sẽ trở nên dễ hiểu. Nếu ta không hiểu rõ một cái gì đó, ta cũng không thể biết được liệu nó có an toàn hay không. 2.3. Cách thức xây dựng firewall Trong quá trình xây dựng một tường lửa đòi hỏi bước tiến hành đều phải được nên kế hoạch trước và phối hợp chặt chẽ với nhau. Và để giải quyết vấn đề lớn nhất là xây dựng thành công một tường lửa hoạt động theo hiệu quả thì ta phải xây dựng từng bước thật vững chắc, hạn chế tối đa những sai sót đáng tiếc có thể xảy ra trong quá trình xây dựng. 2.3.1. Xây dựng các nguyên tắc căn bản(Rule Base) Muốn xây dựng được một Firewall thành công thì nó phải thực hiện theo một số quy tắc căn bản nhất định (Rule base). Khi có một gói tin IP đi qua tường lửa thì nó sẽ phải dựa các quy tắc căn bản này để phân tích và lọc gói tin. Vì thế chúng ta phải đưa ra các quy tắc thật đơn giản, ngắn gọn và dễ hiểu nhầm tăng tốc độ sử lý gói tin trong tường lửa và sẽ tránh được tắc nghẽn, đồng thời nó còn giúp cho việc thay đổi và bảo trì hệ thống được dễ dàng hơn rất nhiều. Thông thường thì ta nên dùng không quá 30 quy tắc căn bản và tối đa không đựoc quá 50 quy tắc vì nếu dùng quá nhiều sẽ làm cho việc lọc gói sẽ chậm hơn và cũng sẽ dễ gây ra lỗi vì các quy tắc có thể bị chồng chéo lên nhau. 2.3.2. Xây dựng chính sách an toàn (Security Policy) Một tường lửa phải có các chính sách an toàn (security policy) vì thực chất tường lửa chỉ là một công cụ thực thi các chính sách an toàn. Việc quản lý và xây dựng chính sách an toàn một cách chặt chẽ sẽ tạo ra được sức mạnh cho tường lửa. Vì vậy trước khi chúng ta xây dựng các quy tắc căn bản thì chúng ta phải hiểu được chính sách an toàn của tường lửa cần xây dựng là gì ? Và đồng thời cũng phải xây dựng các chính sách an toàn sao cho dễ hiểu và đơn giản một cách tương đối và không nên xây dựng một cách quá phức tạp dẫn đến chồng chéo dễ gây nhầm lẫn và dễ kiểm tra, bảo trì. Chúng ta có thể đưa ra một số chính sách an toàn rất đơn giản như sau: Những máy trong mạng nội bộ được truy nhập ra Internet không giới hạn. Cho phép sự truy cập vào Web và Mail Server của mạng nội bộ từ Internet Tất cả các thông tin đi vào trong mạch nội bộ đều phải được xác thực và mã hoá. Từ những chính sách rất đơn giản như ví dụ trên đây chúng ta có thể phát triển để thành những chính sách hoạt động một cách hiệu quả và phức tạp hơn rất nhiều. ví dụ giới hạn mạng nội bộ chỉ được sử dụng internet một cách hạn chế với một vài dịch vụ cơ bản như Mail, HTTP … mà thôi, còn lại ngăn cấm hoàn toàn dịch vụ truyền tệp FTP v.v… 2.3.3. Xây dựng kiến trúc an toàn Các bước cần làm khi xây dựng một kiến trúc an toàn: Đầu tiên thì ta cho phép tất cả các máy trong mạng nội bộ có thể truy cập ra Internet. Sau đó ta thực hiện cài đặt các phần thồng tin không cần bảo vệ (ví dụ: Web Server và Mail Server) vào một vùng có tên kỹ thuật là vùng “phi quân sự” (Demilitarized Zone - MDZ). DMZ là một mạng tách biệt nơi mà ta sẽ đặt các hệ thống mà chúng ta không hoàn toàn tin tưởng (vì một khi từ Internet có thể truy cập vào được trong DMZ của chúng ta nên không thể tin tưởng chúng). Bởi vậy những hệ thống trong DMZ sẽ không bao giờ kết nối trực tiếp với mạng bên trong một khi chúng chưa được tin cậy. Có hai loại DMZ là: DMZ được bảo vệ và DMZ không được bảo vệ. DMZ được bảo vệ là một phần tách rời ra bên ngoài của tường lửa. DMZ không được bảo vệ là phần mạng nằm giữa Router và tường lửa. Chúng ta nên dùng loại DMZ được bảo vệ, vì nơi đó là nơi chúng ta thường đặt cả Web Server và Mail Server Con đường duy nhất có thể đi vào mạng nội bộ là phải đi qua sự kiểm soát của nhà quản trị mạng (cũng có thể cho phép thực hiện mạng từ xa) Cái mà chúng ta có thể nói đến nữa là DNS (Domain Name Server). Chúng ta sẽ phải thực hiện chia DNS ra làm nhiều phần. Chia DNS thành nhiều phần có nghĩa là chia các thao tác của DNS sẽ thuộc hai máy chủ DNS khác nhau. Chúng ta làm điều này vì ta sẽ để một máy chủ DNS sẽ lo cho chúng ta việc giải quyết thông tin tên miền của công ty với mạng bên ngoài. Và một máy chủ DNS ở bên trong để giải quyết vấn đề của mạng bên trong. Máy chủ DNS ngoài sẽ nằm trong DMS có được bảo vệ cùng với Web và Mail Server. Máy DNS bên trong sẽ nằm ở mạng bên trong với việc này sẽ giúp cho chúng ta không cho biết thông tin về tên miền trong màng nội bộ. Vì máy chủ DNS chứa thông tin về sơ đồ của mạng bên trong nên cúng ta cần phải đặt dưới sự bảo vệ tránh lộ thông tin về bản đồ mạng. 2.3.4. Thứ tự các quy tắc trong bảng (Sequence of Rules Base) Trước khi chúng ta xây dựng các quy tắc căn bản thì điều chúng ta cần phải quan tâm đến đó chính là thứ tự của các quy tắc (hay còn gọi là cấp độ của các quy tắc) và trong đó có một quy tắc đặc biệt, nó sẽ giữ vai trò then chốt trong chính sách bảo mật ở tường lửa của chúng ta. Có nhiều quy tắc có cấp độ tương tự như nhau nhưng vẫn phải đặt chúng theo một thứ tự trước/sau, việc này làm thay đổi phương thức làm việc căn bản của tường lửa. Đa số các tường lửa kiểm tra các gói tin một cách tuần tự và liên tục. Khi tường lửa nhận được một gói tin, nó sẽ xem xét gói tin đó có đúng với quy tắc nào trong bảng Rules base hay không bằng cách cho xét bắt đầu từ quy tắc thứ nhất, rồi quy tắc thứ hai … cho đến khi có quy tắc nào đó thoả mãn thì nó sẽ dừng công việc kiêm trả và nó sẽ thực thi theo quy tắc đó. Nếu gói tin đã được so sánh với tất cả các quy tắc trong bảng mà không có quy tắc nào thoả đáng thì gói tin đó sẽ bị từ chối (lọc bỏ). Vấn đề then chốt là phải sớm tìm được quy tắc đầu tiên thoả mãn để khớp được với quy tắc Rules Base để cho gói tin được nhanh chóng được đi qua. Và khi tìm hiểu rõ được điều này thì ta nên đặt các quy tắc đặc biệt trước tiên, rồi sau đó mới đến các quy tắc thông thường. Việc này ngăn chặn việc các quy tắc thông thường cho phép gói tin đi qua nhưng trong trường hợp đắc biệt lại không cho gói tin đi qua gây chồng chéo. Chính vì vậy phải luôn chú ý và phải đặt các quy tắc đặc biệt lên trước tiên rồi tới các nguyên tắc thông thường. Phải tuân thủ nguyên tắc này để tránh việc cấu hình bị sai giúp tường lửa làm việc hiệu quả, đồng thời dễ dàng trong công tác nâng cấp bảo trì và thay đổi sửa chữa. 2.3.5. Các quy tắc căn bản (Rules Base) Default properties (nguyên tắc mặc định): Phải loại trừ tất cả các trường hợp này và phải chắc chắn một điều là không có một gói tin nào có thể đi qua được, bất kể gói tin đấy là gói tin gì. Internal Outbound (đi từ mạng bên trong ra ngoài): Bước đầu tiên ta cho phép việc đi từ trong ra ngoài mà không có hạn chế nào. Và tất cả các dịch vụ cơ bản như Web, Mail, FTP v.v… đều cho phép Lockdown (): Hạn chế tất cả không cho phép một sự sâm nhập nào vào tường lửa của chúng ta. Đây là quy tắc chuẩn mà quy tắc căn bản cần phải có. Không có bất kỳ sự sâm nhập nào vào tường lửa nhưng chúng ta lại cần có người quản trị tường lửa (Firewall Admins). Admin Access (): Không ai có thể kết nối với tường lửa, bao gồm cả Admin. Chúng ta cũng phải tạo ra một quy tắc để cho phép Admin truy nhập vào được tường lửa Drop All (): Thông thường thì ta sẽ loại bỏ tất cả các gói tin mà không phù hợp với quy tắc nào. Nhưng ta nên đưa gói tin này vào một bản ghi và ta sẽ thêm vào đó cuối danh sách các quy tắc. Đây là một quy tắc chuẩn mà ta nên có. No Logging (): Thông thường sẽ có rất nhiều gói tin được giử đến tất cả các địa chỉ (vd: như tin quảng cáo) trên mạng. Khi đến tường lửa thì nó sẽ bị loại bỏ và sau đó được ghi vào bản ghi, nhưng việc này sẽ làm cho bản ghi nhanh chóng bị đầy. Chính vì vậy ta phải tạo một quy tắc sao cho khi ta bỏ gói tin ấy đi mà lại không ghi lại vào bản ghi. Đây cũng là một nguyên tắc căn bản mà đôi khi ta cũng phải dùng đến. DNS Access (): Mô hình và các thành phần của tường lửa. 2.4. Lọc gói và cơ chế hoạt động Khi nói đến việc chuyển thông tin dữ liệu giữa các mạng với nhau thông tin qua tường lửa thì điều đó có nghĩa rằng bức tường lửa hoạt động kết hợp chặt chẽ với giao thức TCP/IP vì giao thức này làm việc theo thuật toán chia nhỏ các dữ liệu nhận được từ các ứng dụng trên mạng. Tức là: Dữ liệu nhận được từ các dịch vụ chạy trên các giao thức phổ cập trên mạng (ví dụ như: telnet, SMTP, DNS, SMNP,…..) được phân thành các gói giữ liệu (data packet). Các gói tin này được gán những địa chỉ và thông tin để có thể nhận và tái hợp lại thành dữ liệu ban đầu. Chính vì vậy các loại tường lửa cũng liên quan rất nhiều đến các gói tin và các địa chỉ của chúng sau đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu lọc gói là gì và cơ chế của nó như thế nào. 2.4.1. Bộ lọc gói (packet filtering) Bộ lọc gói có những chức năng thực hiện việc kiểm tra số nhận dạng địa chỉ của gói tin để kiểm tra có thể cho phép chúng đi qua tường lửa hay không. Các thông tin có thể lọc được một gói tin bao gồm : Địa chỉ nơi xuất phát hay còn gọi là địa chỉ nguồn (source IP Address) Địa chỉ nơi nhận hay còn gọi là địa chỉ đích (destination IP Address). Số cổng của nơi xuất phát (source port). Số cổng của nơi nhận (destination). Nhờ vậy mà tường lửa có thể chặn được các kết nối từ mạng ngoài vào những máy chủ nội bộ hoặc vào trong mạng nội bộ. Từ những địa chỉ không cho phép. Hơn nữa việc kiểm soát các cổng làm cho tường lửa có khả năng chỉ cho phép một số loại kết nối nhất định vào máy chủ đã được định sẵn mà phục vụ cho một số dịch vụ nào đó (Telnet, SMTP,mail………) được phép sử dụng trên mạng nội bộ. 2.4.2. Cổng ứng dụng (Application Gateway) Application Gateway được thiết kế để tăng cường chức năng kiểm soát các loại dich vụ vào giao thức được cho phép truy cập vào hệ thống mạng. Cơ chế hoạt động của nó dưạ trên cái gọi là “dịch vụ đại diện” (proxy Service). Proxy Service hoạt động theo cơ chế: Một ứng dụng nào đó được quy chiếu đến (hay đại diện bởi) một proxy Service chạy trên các hệ thống máy chủ thì được quy chiếu đến ApplicationGateway của firewall. Cơ chế lọc của packet filtering phối hợp kiểm soát với cơ chế “đại diện của ”Application gateway cung cấp một khả năng an toàn hơn cho firewall trong việc giao tiếp thông tin với mạng ngoài. Ví dụ một hệ thống mạng có chức năng lọc gói tin, nó sẽ ngăn các kết nối bằng Telnet vào hệ thống chỉ trừ một cổng duy nhất -Telnet Application Gateway- là được phép. Một người sử dụng dịch vụ Telnet muốn kết nối vào hệ thống phải thực hiện các bước sau: Thực hiện dịch vụ Telnet đến Telnet Application Gateway rồi cho biết tên của máy chủ bên trong cần truy cập. Gateway kiểm tra địa chỉ IP nơi xuất phát của người truy cập rồi cho phép hoặc từ chối tuỳ theo chế độ an ninh của hệ thống. Người truy cập phải vượt qua được hệ thống kiểm tra xác định. Proxy service liên kết lưu thông giữa người truy cập với máy chủ. Cơ chế hoạt động này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế an ninh hệ thống. Nó có thể cung cấp nhiều khả năng, ví dụ như: Che dấu các thông tin: người dùng chỉ có thể nhìn thấy trực tiếp các Gateway được phép. Tăng cường kiểm tra truy cập bằng các dịch vụ xác thực (Authentication). Giảm đáng kể giá thành cho việc phát triển các hệ quản trị xác thực vì hệ thống này được thiết kế chỉ quy chiếu đến Application Gateway. Giảm thiếu các quy tắc kiểm soát của bộ lọc (Packet Filtering). Điều này làm tăng một cách đáng kể tốc độ hoạt động của Firewall. 2.4.3. Bộ lọc Sesion thông minh (Smart Sesion Filtering) Cơ chế hoạt động phối hợp giữa bộ lọc packet và cổng ứng dụng như đề cập ở trên cung cấp một chế độ an ninh cao tuy nhiên nó cũng tồn tại một vài hạn chế. Vấn đề chính hiện nay là làm sao để cung cấp đủ Proxy Service cho rất nhiều ứng dụng khác nhau đang phát triển ồ ạt. Điều này có nghĩa là nguy cơ, áp lực đối với việc firewall bị đánh lừa gia tăng lên rất lớn nếu các Proxy không kịp đáp ứng. Trong khi giám sát các packet ở những mức phía trên, nếu như lớp Network đòi hỏi nhiều công sức đối với việc lọc các packet đơn giản, thì việc giám sát các giao dịch lưu thông ở mức mạng (Sesion) đòi hỏi ít công việc hơn. Cách này cũng loại bỏ được các dịch vụ đặc thù cho từng loại ứng dụng khác nhau. Cơ chế hoạt động của bộ lọc sesion thông minh chính là việc kết hợp khả năng ghi nhận thông tin về các Sesion và sử dụng nó để tạo các quy tắc cho bộ lọc. Biết rằng, một Sesion ở mức network được tạo bởi hai packet lưu thông hai chiều:  Một để kiểm soát các packet lưu thông từ host phát sinh ra nó đến máy chủ cần tới. Một để kiểm soát packet trở về từ máy chủ phát sinh Một bộ lọc thông minh sẽ nhận biết được rằng packet trở về theo chiều ngược lại nên quy tắc thứ hai là không cần thiết. Do vậy, cách tiếp nhận các packet không mong muốn sinh ra từ bên ngoài firewall sẽ khác biệt rất rõ với cách tiếp nhận cho các packet do những kết nối được phép (ra bên ngoài). Và như vậy dễ dàng nhận dạng được các packet “bất hợp pháp”. 2.4.4. Firewall hỗn hợp (Hybrid Firewall) Trong thực tế xây dựng, các firewall được sử dụng là kết hợp của nhiều kỹ thuật để tạo ra hiệu quả an ninh tối đa. Ví dụ việc để lọt lưới tại các kiểm soát của bộ lọc packet có thể được thực hiện tại bộ lọc sesion thông minh ở mực ứng dụng. Các giám sát của bộ lọc lót chặt chẽ bởi các dịch vụ Proxy của Application Gateway. 2.5. Kết luận Các hệ thống firewall thiết lập nhằm mục đích đảm bảo an ninh mạng thông qua việc kiểm soát phần header của các gói tin. Nhưng để sử dụng firewall đảm bảo được an ninh mạng một các hiệu quả thì người quản trị hệ thống cần có những hiểu biết sâu sắc về địa chỉ IP đích, địa chỉ IP nguồn, cổng dịch vụ, các giao thức mạng (TCP, UDP, SMTP…)và đặc biệt cần có những công cụ giúp cấu hình hệ thống firewall hiệu quả. Trong chương tiếp theo này em sẽ trình bày về công cụ FirewallIptable được tích hợp trên hệ điều hành mã nguồn mở Linux để bảo vệ cho mạng nội bộ. Chương 3: TÌM HIỂU IPTALES TRONG HỆ ĐIỀU HÀNH LINUX Hiện nay đã có nhiều phần mềm firewall được thực hiện trên các hệ điều hành như Windows NT, Linux, Solaris…. Nhưng với hệ điều hành mã nguồn mở Linux thì phần mềm IPtables Firewall phiên bản mới này thực sự là một công cụ mạnh dùng để đảm bảo an ninh mạng. Người quản trị mạng có thể sử dụng nó cùng nhiều tùy chọn hữu ích. Nhưng do phần mềm có quá nhiều tham số và để sử dụng được thì đòi hỏi người sử dụng phải có kiến thức chuyên sâu về hệ thống mạng máy tính. Như vậy với những người ít kiến thức về mạng máy tính và không biết rõ về tham số của chương trình thì không thể sử dụng công cụ IPtables được. Trong phạm vi đề tài này em sẽ tìm hiểu về công cụ Iptables của firewall trên Linux với việc kiểm soát người dùng trong mạng nội bộ được quyền gửi bất cứ yêu cầu truy cập trên bất cứ giao thức nào từ bên trong máy ra ngoài cũng như cản bất cứ yêu cầu truy cập trên mọi giao thức từ bên ngoài vào. Ngoài ra như ta đã biết, trong khi máy chạy trên Linux sẽ có một số dịch vụ đang lắng nghe (LISTEN). Những dịch vụ này chỉ phục vụ cho riêng bạn và bạn không muốn bất cứ ai từ Internet truy cập vào các dịch vụ này. Cho nên ta phải xây dựng các luật ấn định: khi các packet đi vào (INPUT) firewall, firewall sẽ kiểm tra xem có luật INPUT nào thích hợp cho phép nó đi vào, nếu không firewall sẽ cản nó theo quy định của quy chế mặc định. Điều này sẽ làm tăng khả năng bảo mật và tính linh động cho người quản trị mạng máy tính. Trong chương này em sẽ đi giới thiệu tổng quan về c

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doctim_hieu_van_de_bao_mat_mang_lan_9069_2.doc
Tài liệu liên quan