Đề tài Xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong thời đại mới

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI NÓI ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

A. Cơ sở hình thành quan điểm 3

1. Cơ sở lí luận 3

2. Cơ sở thực tiễn 3

B. Nội dung tư tưởng của Hồ Chí Minh về một nhà nước của dân, do dân, vì dân 4

1. Nhà nước của dân 4

3. Nhà nước do dân 8

4. Nhà nước vì dân 9

D. Xây dựng nhà nước của dân do dân vì dân 11

I. Những thành tựu đã đạt được trong những năm qua 11

1. Về chính trị 11

a. Xây dựng hệ thống chính trị 11

b. Ban hành các pháp chế quy định quyền và nghĩa vụ của công dân .11

2. Về kinh tế 17

3. Về văn hóa xã hội 18

II. Những vấn đề còn tồn tại 19

E. Phương hướng xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong thời đại mới 20

I. Nguyên tắc xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong thời đại mới 20

II. Nội dung của phương hướng 21

1. Bảo vệ nhà nước trước sự chống phá của kẻ thù 21

2. Tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng 23

3. Kiện toàn bộ máy nhà nước tạo ra cơ chế thông thoáng tạo điều kiện cho người dân sống và làm việc theo pháp luật. 25

KẾT LUẬN 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

 

doc31 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 07/09/2013 | Lượt xem: 12241 | Lượt tải: 131download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong thời đại mới, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hộ và giúp đỡ. Nhân dân chính là người thực hiện các chủ trương, đường lối kế hoạch của nhà nước. Dân không chỉ đóng góp tiền của mà đóng góp cả công sức để xây dựng nhà nước đó. - Nhà nước đó cũng là nhà nước do dân phê bình, xây dựng. Nhân dân là người đóng góp cả trí tuệ để xây dựng, củng cố nhà nước. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh nhiệm vụ của những người làm cách mạng là phải cho dân hiểu, làm cho dân giác ngộ để nâng cao được trách nhiệm làm chủ, nâng cao được ý thức trách nhiệm chăm lo xây dựng nhà nước của mình Hồ Chí Minh khẳng định: Việc nước là việc của chung, mỗi người phải có trách nhiệm: “Ghé vai gánh vác một phần” quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ. Nhà nước vì dân Theo Người, nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân gắn liên với việc nhà nước phải làm tất cả để đem lại một cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân. Xuất phát từ tư tưởng nhân dân là chủ thể quyền lực chính trị, tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh được phát triển thành nhân dân là chủ thể của nhà nước. Vì thế, việc nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước phải được đặt trên cơ sở coi vấn đề Nhà nước là một khía cạnh trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ. Nhà nước, theo Người, là của nhân dân “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời phải tập trung đến cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Nhân dân sử dụng Nhà nước như một công cụ để thực hiện lợi ích của mình: đối với nhân dân, thì công cụ của nhà nước dân chủ mới (Chính phủ, pháp luật, công an, quân đội,…) là để giữ gìn quyền lợi của nhân dân. Khi bàn về vai trò của Nhà nước, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về nhân dân quản lý nhà nước. Điều đáng lưu ý là việc nhà nước tiến hành các hoạt động nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân, thì đồng thời, đó cũng chính là nhằm tạo điều kiện để nhân dân có thể tham gia quản lý nhà nước. Người viết: “… chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, bảo đẩm mọi quyền lợi của nhân dân, mở rộng dân chủ để nhân dân thật sự tham gia quản lý Nhà nước. Vì vậy, cho nên nhân dân ta đưa hết khả năng làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà để xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta mạnh, dân ta giàu”. Ngoài mục đích phục vụ nhân dân nhà nước ta không còn mục đích nào khác. Phải làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành như lời Người đã nói trong một chuyến đi Pari: “Cả đời tôi chỉ có một ham muốn, một ham muốn tột bậc là làm sao cho dân ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân”. Hồ Chí Minh còn đưa ra quan điểm để xây dựng nhà nước vì dân Yêu cầu thiết chế tổ chức: Nhà nước vì dân là nhà nước lấy việc lo cho dân cụ thể là lo cho những lợi ích thiết thực cho người dân: Ăn, ở, mặc, đi lại… Làm mục tiêu hoạt động cho mình, ngoài ra không có đặc quyền đặc lợi gì. Nhà nước này xuất phát từ việc lo cho những lợi ích của dân tộc dựa trên đó hoàn thành thuyết chế bộ máy nhà nước. Về đội ngũ cán bộ công chức làm việc trong bộ máy nhà nước phải xác định mình là công bộc của dân đ Lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu. Hồ Chí Minh căn dặn: Tất cả những thứ chúng ta dùng hàng ngày đều do dân cung cấp nên phải hết lòng, hết sức phục vụ cho dân, việc gì có lợi ích cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Xây dựng nhà nước của dân do dân vì dân Những thành tựu đã đạt được trong những năm qua Về chính trị Xây dựng hệ thống chính trị Cuộc đấu tranh kéo dài 2 thế kỉ với mục đích cuối cùng là giành độc lập dân tộc và chính quyền vào tay nhân dân là thể hiện cao nhất của quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dung một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Bởi vì trong xã hội cũ người dân phải chịu bao khổ đau, mồ hôi và cả nước mắt. Nên chỉ có xoá bỏ chế độ cũ xây dựng chế độ mới mới có thể giải phóng được cho họ để họ có thể sống cuộc sống tốt hơn, cho dù có phải hi sinh trong cuộc đấu tranh giành chính quyền ấy. Sau khi giành độc lập nhà nước đã ban hành hiến pháp để xác lập chế độ của nhà nước mới. Sau nhiều lần bổ sung sửa đổi, quan điểm của Hồ Chí Minh đã được xác định cụ thể và được cụ thể hoá bằng hiến pháp. Điều 2 hiến pháp 1992 đã quy định rõ: “Nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân vì dân. Tiếp đó là đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa - xã hội phát triển cao nhất của loài người với những đặc điểm cụ thể là: là một nước có trình độ phát triển cao, khoa học kỹ thuật tiên tiến dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu. Con người có cơ hội phát triển toàn diện, làm theo năng lực hưởng theo lao động…”. Ban hành các pháp chế quy định quyền và nghĩa vụ của công dân Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến nay, Nhà nước ta đã ban hành 4 bản hiến pháp: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung ngày 25/12/2001). Trong hệ thống pháp luật thì Hiến pháp là văn bản có giá trị cao nhất, quy định những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất của đất nước; trong đó có chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong khi một số nước trên thế giới không đưa quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân vào Hiến pháp thì tại Việt Nam, chế định này được đưa vào tất cả các bản Hiến Pháp. Cụ thể là: Chương II Hiến pháp 1946 với tên gọi “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân”, chương III Hiến pháp 1959 với tên gọi “Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và tại chương V của Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 với tên gọi “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, Nhà nước Việt Nam đã thể hiện sự tôn trọng con người, củng cố địa vị pháp lý của người làm chủ đất nước. Hiến pháp 1992 quy định công dân có quyền bình đẳng, sống và học tập, lao động theo Hiến pháp. Có quyền tham gia quản lí và thảo luân các vấn đề của nhà nước. Cụ thể là ngay sau khi giành độc lập ngày 6/1/1946 toàn dân đã tham gia bầu cử thể hiện quyền và nghĩa vụ của mình với lời kêu gọi “Tất cả hãy đến thùng phiếu". Báo Quốc hội in hình Hồ Chủ tịch với lời khuyên của Người: "Khuyên đồng bào nam nữ 18 tuổi trở lên, hôm nay tất cả đều đi bỏ phiếu để bầu những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội đầu tiên của nước ta”. Tiếp tục truyền thống đó trong thời gian tiếp theo, mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng người dân vẫn tiếp tục thể hiện quyền làm chủ của mình. Và sau khi nước nhà thống nhất, tháng 4/1976 số lượng cử tri đi bỏ phiếu đông nhất từ trước đến nay là 98.77% dân số đã đi bầu cử, bầu ra nhà nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Ngoài ra, người dân còn được tham gia bàn bạc góp ý các chính sách của nhà nước, được nêu lên nguyện vọng của mình thể hiện qua các cuộc tiếp xúc dân của các đại biểu quốc hội và các dại diện nhà nước. Sau đây là một vài ví dụ cụ thể: Bình Dương: Những năm qua, hoạt động của Đoài đại biểu Quốc hội tỉnh đã góp phần vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, tham gia đầy đủ các kỳ họp do Quốc hội tổ chức; đi sâu, đi sát quần chúng nhân dân để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, những ý kiến bức xúc của cử tri trong tỉnh, kịp thời chuyển lên Quốc hội, nhất là tổ chức lấy ý kiến xây dựng các dự án luật quan trọng để Quốc hội thông qua… Thời gian tới, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tiếp tục làm tốt công tác giám sát việc thực hiện các nghị quyết, các đạo luật được Quốc hội thông qua, nhất là về việc xóa đói giảm nghèo, chống tham nhũng, buôn lậu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tiếp tục thực hiện công tác cải cách hành chính, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan tư pháp, giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo của công dân... góp phần phát triển kinh tế, giữ vững an ninh – quốc phòng. Hải Dương: Tỉnh Hải Dương có 69 người được bầu là đại biểu Quốc hội từ Khóa 1 đến nay (Khóa XI), Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hải Dương đã làm tốt công tác tiếp xúc cử tri, phản ánh nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và lãnh đạo tỉnh trên các lĩnh vực: Đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, tiêu thụ nông sản cho nông dân; lương, phụ cấp cho các giáo viên ngoài biên chế; bảo hiểm y tế cho người nghèo, nhà ở cho gia đình chính sách có đời sống khó khăn; giải quyết định suất cho cán bộ cơ sở... Nghiên cứu về chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua các bản Hiến pháp, chúng ta thấy được sự phát triển của chế định này. Sự phát triển biểu hiện ở những nội dung sau: Các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngày càng tăng về số lượng và phong phú nội dung: Về số lượng: các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngày càng được quy định nhiều hơn trong các Hiến pháp: Hiến pháp 1946 (18 điều), Hiến pháp 1959 (21 điều), Hiến pháp 1980 (29 điều) và tại Hiến pháp 1992 (34 điều). Về nội dung: các Hiến pháp sau luôn có những quy định mới mà các Hiến pháp trước không quy định. Ví dụ: Hiến pháp 1959 có những quy định mới so với Hiến pháp 1946 như: Quyền làm việc; quyền nghỉ ngơi; quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật; quyên khiếu nại, tố cáo… Hiến pháp 1980 có thêm các quy định: Quyền tham gia quản lý công việc Nhà nước và xã hội; quyền được bảo hiểm xã hội; quyền được bảo vệ sức khoẻ… Hiến pháp 1992 có những quy định mới: Quyền con người và quyền công dân; quyền tự do kinh doanh; quyền bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự; người nước ngoài cư trú tại Việt Nam được Nhà nước bảo hộ tính mạnh, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo quy định của pháp luật… Điều đáng nói ở đây là: Sự phát triển về số lượng và nội dung của chế đinh quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua các bản Hiến pháp không phải là sự ngẫu nhiên hay do kỹ thuật lập pháp mà điều đó cho thấy địa vị pháp lý, địa vị xã hội của công dân ngày càng được tăng lên một cách rõ rệt. Các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngày càng phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước. Các quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước là để đảm bảo cho các quy định đó có tính khả thi. Tính khả thi giúp cho các quy định của pháp luật không chỉ tồn tại trên lý thuyết mà chúng phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống, được người dân chấp nhận như một nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Chính vì vậy, Hiến pháp 1992 đó có những sửa đổi quan trọng nhiều quy định tại Hiến pháp 1980 cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội. Ví dụ: Hiến pháp 1980 quy định: “Công dân có quyền có việc làm”, Hiến pháp 1992 sửa thành: “Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động”. Hiến pháp 1980 quy định: “Thực hiện chế độ học không phải trả tiền”, Hiến pháp 1992 sửa thành: “Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí, học bổng”. Hiến pháp 1980 quy định: “Công dân có quyền có nhà ở”, Hiến pháp 1992 sửa thành: “Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật”. Hiến pháp 1980 quy định: “Nhà nước thực hiện chế độ khám bệnh không phải trả tiền”, Hiến pháp 1992 sửa thành: “Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn giảm viện phí”… Những thay đổi kể trên là để cho các quy định của pháp luật phù hợp hơn với từng giai đoạn lịch sử, phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và của nhân dân. Có vậy, những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mới ngày càng được đảm bảo hơn. Các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Hiến pháp Việt Nam thể hiện mối quan hệ bình đẳng, hài hoà giữa công dân với công dân và giữa Nhà nước với công dân. Trong tất cả các bản Hiến pháp Việt Nam đều tuân thủ nguyên tắc: “Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân”. Nguyên tắc này thể hiện ý thức và trách nhiệm của công dân. Công dân hưởng các quyền đồng thời phải thực hiện những bổn phận nhất định. Điều này giúp ích cho sự phát triển của cá nhân mỗi công dân đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển của người khác, của cộng đồng và của xã hội. Bởi trong xã hội không thể có hai loại công dân: Một loại công dân chuyên hưởng quyền, một loại công fân chuyên thực hiện nghĩa vụ. Vì thế, tất cả các Hiến pháp Việt Nam đều quy định sự bình đẳng của công dân trước pháp luật: Hiến pháp 1946: “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật”. Hiến pháp 1959: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều bình đẳng trước pháp luật”. Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992: “Mọi công dân đều có quyền bình đẳng”. “Bình đẳng trước pháp luật” là bình đẳng trong việc công dân được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật quy định. Sự bình đẳng này thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội… Sự bình đẳng còn được thể hiện trong quan hệ giữa Nhà nước với công dân. Trong các Hiến pháp đều ghi nhận quyền của công dân và nghĩa vụ của Nhà nước và ngược lại. Vì thế, trong các bản Hiến pháp, bên cạnh việc xác lập ngày càng đầy đủ các quyền của công dân thì Nhà nước cũng xác lập một cách cụ thể, chi tiết và còn đổi các nghĩa vụ của công dân. Ngoài ra, các Hiến pháp cũng ghi nhận rõ ràng trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều 8 Hiến pháp 1992 quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” và điều 513 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội”. Quy định này giúp cho mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân thật sự hài hòa. Lợi ích của công dân phải gắn với lợi ích của Nhà nước và ngược lại. Trong các quy định tại Hiến pháp cũng như trên thực tế mối quan hệ hài hòa và bình đẳng này ngày càng được củng cố và tăng cường. Qua các bản Hiến pháp, các quyền tự do dân chủ của công dân ngày càng được mở rộng. Điều này thể hiện từ trong chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Các Hiến pháp sau luôn có những quy định mở rộng quyền tự do dân chủ. Chẳng hạn như: Hiến pháp 1980 quy định về quyền sở hữu của công dân chỉ với “những công cụ sản xuất dựng trong trường hợp được phép lao động riêng lẻ” thì tại Hiến pháp 1992 mở rộng quyền sở hữu đối với “tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác”. Hiến pháp 1980 quy định: “Quyền tự do đi lại và cư trú được tôn trọng, theo quy định của pháp luật” thì tại Hiến pháp 1992 mở rộng quyền này và quy định cụ thể hơn: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”. Hiến pháp 1980 không quy định về quyền tự do kinh doanh của công dân thì Hiến pháp 1992 đã quy định: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”… Tóm lại, chế định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là một chế định cực kỳ quan trọng của Hiến pháp Việt Nam. Bởi qua đó nó thể hiện vị trí pháp lý của người công dân trong xã hội dân chủ, thể hiện mối quan hệ bình đẳng giữa công dân với công dân và sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của công dân. Các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngày càng được hoàn thiện và mở rộng, góp phần giữ vững bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam: của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân… Về kinh tế Thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo cho người dân với các biện pháp: Xây dựng nhà đoàn kết cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn. Cho vay với lãi suất ưu đãi để người dân có thể có vốn để lao động sản xuất thông qua ngân hàng chính sách hoặc các tổ chức xã hội như hội phụ nữ, đoàn thanh niên. Theo quyết định của thủ tướng chính phủ, sẽ hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay của người nghèo và các đối tượng chính sách khác tại ngân hành chính sách xã hội. Mức hỗ trợ lãi suất là 4%/năm, thậm chí là 0%. Đây là nội dung được thủ tướng chính phủ quyết định (ngày 6/5) về việc hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay của người nghèo và dối tượng chính sách tại ngân hàng chính sách xã hội (NH CSXH). Theo đó, tại quyết định số 579 vừa ban hành, sẽ hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay của người nghèo và các đối tượng chính sách tại NH CSXH. Mức hỗ trợ lãi suất là 4% / năm , tính trên số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế đối với các khoản vay tại NH CSXH thuộc các chương trình có lãi suất đang thực hiện lớn hơn 4%/ năm. Cũng theo quyết định, còn hỗ trợ toàn bộ với lãi suất 0% /năm đối với các khoản vay tại NHCS thuộc các chương trình có lãi suất đang thực hiện nhỏ hơn hoặc bằng 4%/năm. Nhờ chính sách nhày mà 1.6 triệu người dân được tiếp xúc với khoản vay ưu đãi làm cho số hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống 11.8% năm 2007. Sinh viên được vay với lãi suất thấp để có điều kiện tốt nhất tập trung cho việc học. Thông qua NSNN phân phối lại thu nhập góp phần san lấp khoảng cách giàu nghèo. Về văn hóa xã hội Tôn trọng tự do tín ngưỡng của mỗi công dân nhưng không để việc tự do tín ngưỡng làm xâm hại đến lợi ích quốc gia và lợi ích toàn dân tộc. Thực hiện xóa mù chữ cho mọi tầng lớp nhân dân. Sau Cách mạng tháng 8 cả nước ta trên 95% dân số mù chữ. Hồ chủ tịch ra lời kêu gọi diệt giặc dốt. Theo lời Người, các lớp bình dân hoc vụ mở ra khắp nơi. Đến nay trên 90% trẻ em khắp cả nước được theo học tiểu học.Và mục tiêu tiến tới phổ cập THCS và phổ thông trung học. Các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe cho con người ngày càng được mở rộng. Hầu hết các xã phường trong cả nước đều có trạm y tế, trong đó 15% đạt chuẩn quốc gia về y tế xã phường. Các hoạt động y tế dự phòng được đẩy mạnh. Trẻ em dưới 6 tuổi được khám chữa bệnh miễn phí tại các trung tâm y tế. Nhờ có dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt, đời sống nhân dân được nâng cao mà tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng từ 67.8 (năm 2000) lên 71.5 (năm 2005). Hoạt động thông tin truyền thông được mở rộng, người dân có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với công nghệ mới và được mở cửa nhìn ra thế giới. Những vấn đề còn tồn tại Việc tham gia của dân vào việc xây dựng các chính sách đôi khi còn mang tính hình thức. Các viên chức nhà nước ở nhiều địa phương vẫn còn sách nhiễu dân, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân ửê làm lợi cho bản thân. Những người dân ở vùng sâu, vùng xa, dân tộc ít người cuộc sống còn rất khó khăn, thiếu then, chưa có sự quan tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước. Và còn nhiều điều khác còn tồn tại. Tóm lại:Tuy rằng những vấn đề tồn tại còn nhiều nhưng những gì mà Đảng và Nhà nước đã chăm lo cho cuộc sống của nhân dân là không thể phủ nhận. Nó lớn lao và có ý nghĩa to lớn hơn nhiều so với khuyết điểm. Những việc đã và chưa làm được đều để đạt đến mục đích xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Phương hướng xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong thời đại mới Trong thời đại mới, thế giới có nhiều biến động nên việc đề ra phương hướng xây dựng Nhà nước Việt Nam của dân, do dân, vì dân một cách đúng đắn và hợp lí là điều vô cùng cần thiết. Nguyên tắc xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong thời đại mới Phải xác định rõ mục tiêu xây dựng đất nước ta trong giai đoạn mới là gì, từ đó đưa ra đặc điểm xây dựng đất nước, đó là: Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỉ cương xã hội, chuyên chính với mọi hoạt động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương tạo điều kiện tốt nhất cho người dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức trong nhân dân, hướng dẫn người dân sống và làm việc theo pháp luật. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4/2001) tiếp tục khẳng định nhiệm vụ “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” và chỉ rõ “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”. Kết hợp xây dựng với bảo vệ đất nước. Nội dung của phương hướng Bảo vệ nhà nước trước sự chống phá của kẻ thù Hiện nay tình hình liên quan đến an ninh trật tự đang biến đổi nhanh chóng, khó lường, đòi hỏi phải nắm chắc tình hình, tiếp tục đổi mới chủ trương và giải pháp nhằm bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ, vô hiệu hóa các hoạt động thâm nhập tác động chuyển hoá nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh chống địch phá hoại tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh kinh tế, an ninh thông tin. Bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đảm bảo an ninh trật tự ở các địa bàn trọng điểm, ngăn chặn các loại tội phạm, hạn chế và từng bước loại trừ những nhân tố gây mất ổn định, để trong bất cứ tình huống nào cũng phải giữ vững được an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Đại hội X của Đảng về nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; Một là, các cấp uỷ Đảng cần tập trung chỉ đạo việc tuyên truyền giáo dục làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ về tầm quan trọng của công tác bảo vệ an ninh, trật tự trong tình hình hiện nay, nâng cao cảnh giác cách mạng, xác định trách nhiệm tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực này; đẩy mạnh giáo dục nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự trong các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và phổ thông trung học; bồi dưỡng kiến thức về công tác bảo vệ an ninh, trật tự cho cán bộ chủ chốt của Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể ở cơ sở. Hai là, tăng cường công tác xây dựng Đảng, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ. Tổ chức tốt công tác nắm tình hình, phát hiện và đấu tranh phòng, chống địch thâm nhập, tác động phá hoại nội bộ. Thực hiện nghiêm những quy định về kỷ luật Đảng, nội quy bảo vệ cơ quan, bảo vệ bí mật nhà nước. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước với công tác xuất bản, thông tin báo chí. Kiên quyết đấu tranh với các tư tưởng “đa nguyên chính trị”, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập. Ba là, tiếp tục phát huy có hiệu quả hơn nữa sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị. Xác định rõ vai trò, phạm vi trách nhiệm của các cấp ủy đảng, cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong công tác phòng chống tội phạm, phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện có kết quả các quy chế phối hợp giữa cơ quan chuyên trách với các ngành, các đoàn thể trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, nhất là trong định giá, dự báo tình hình, xây dựng và tổ chức diễn tập phương án đối phó với các tình huống khủng bố, phá hoại. gây rối, gây bạo loạn... Bốn là, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của toàn dân trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự. Tập trung phát hiện, khắc phục kịp thời những sơ hở, thiếu sót trong việc thực hiện các chính sách quản lý kinh tế - xã hội, chính sách về đất đai, tôn giáo, dân tộc, chính sách đối với người có công, chính sách đối với đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa... Giải quyết triệt để, kịp thời những mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện trong nhân dân nhằm tăng cường sự đồng thuận trong xã hội. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về các quyền tự do dân chủ; đồng thời kiên quyết đấu tranh ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tự do dân chủ để phá hoại an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Năm là,chủ động tăng cường quan hệ hợp tác với các nước về công tác đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội theo đường lối đối ngoại của Đảng. Phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với các cơ quan đối ngoại, tổ chức tốt công tác thông tin tuyên truyền, chủ động đấu tranh với những luận điệu vu khống, xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Đẩy mạnh hợp tác với các nước trên lĩnh vực đấu tranh phòng chống khủng bố và các loại tội phạm. Sáu là, tiếp tục xây dựng kiện toàn các cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội vững mạnh về mọi mặt. Tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Vấn đề tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng từ lâu đã được Đảng ta quan tâm. Tuy nhiên, cho đến lúc này, khi hàng loạt vụ tiêu cực xảy ra trong nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực khác nhau và quy mô mỗi ngày một lớn thì nó trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Chính vì vậy, tăng cường và đổi mới phương thức l

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docXây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong thời đại mới.doc
Tài liệu liên quan