Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam 2 (tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế)

- CNCB’ sản phẩm chăn nuôi. Đây là ngành chưa được phát triển, nó vẫn là ngành thứ yếu so với ngành trồng trọt trong cả nước hiện nay. CNCB’ sản phẩm của ngành chăn nuôi kém hơn về sự đa dạng của các loại sản phẩm cuối cùng và mức độ phát triển. Hiện nay đã có các xí nghiệp CB' thịt hộp ở Hà Nội và TP HCM. Các xí nghiệp CB' sữa tập trung ở một số khu vực như Mộc Châu, Ba Vì. (nơi có cơ sở chăn nuôi bò sữa). Sản lượng sữa hộp năm 1985 (24 triệu hộp), 1990 (58,2 triệu), năm 1995 (173 triệu), 1999 (207 triệu), 2005 (364,1 triệu), năm 2008 (388,4 triệu hộp). Ngoài ra, còn có các cơ sở nhỏ CB' các SP từ thịt (lạp sườn, dăm bông, bít tết.).

- CNCB’ thủy, hải sản. Đây là ngành truyền thống đã có từ lâu đời nhằm cung cấp nguồn đạm động vật từ sông biển. Cơ sở nguyên liệu của ngành dựa vào nghề đánh bắt - nuôi trồng thủy hải sản. Sản lượng thủy sản các loại tăng rất nhanh: năm 1995, sản lượng thuỷ sản là 1584,3 ngàn tấn (cá biển đạt 722,1 ngàn tấn, tôm nuôi 55,3 ngàn tấn, cá nuôi 209,1 ngàn tấn), năm 2005 sản lượng tương ứng là: 3.465,9 ngàn tấn (1.367,5 ngàn tấn - 327,2 ngàn tấn - 971,1 ngàn tấn), năm 2008: 4,6 triệu tấn (1,47 triệu tấn - 388,4 ngàn tấn - 1,86 triệu tấn), đây chính là nguồn nguyên liệu đủ để cung cấp cho ngành CNCB’ phát triển. Trước đây ngành này chỉ xoay quanh việc SX nước mắm, cá khô, tôm, cá mắm; nay đã phát triển thêm nhiều loại hình sơ chế và CB’ thủy sản theo phương pháp công nghiệp như cá hộp, sản phẩm đông lạnh, bột cá.

 

doc132 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 20/02/2014 | Lượt xem: 3141 | Lượt tải: 35download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam 2 (tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
riển và phân bố ▪ Về nguồn nguyên liệu, bao gồm cả nguồn nguyên liệu cơ vô cơ & hữu cơ. Nguồn nguyên liệu từ nguồn gốc vô cơ, đó là các loại khoáng sản và nguyên liệu có trên đất liền, thềm lục địa như Apatit, có ở Cam Đường (Lào Cai), là mỏ có trữ lượng lớn, kéo dài trên 100km, hàm lượng P2O5 cao, dễ khai thác. Các mỏ phốt phát có ở Vĩnh Thịnh (Lạng Sơn), Núi Vân (Thái Nguyên), Ngân Sơn (Nghệ An), tuy trữ lượng nhỏ, nhưng cũng là nguyên liệu tốt để sản xuất phân bón. Pyrit, là nguyên liệu để sản xuất H2SO4, rất cần thiết cho công nghiệp hoá chất, ở miền núi phía Bắc có khá nhiều mỏ nhưng hạn chế về trữ lượng như Quản Bạ (Hà Giang), Bình Nhai, Lũng Hoài (Thái Nguyên), Bó Sinh (Sơn La), Nà Phèo (Lai Châu), Kim Bôi (Hoà Bình), Giáp Lai (Phú Thọ). Muối biển ở miền Trung có tiềm năng rất lớn, hạt to, độ tinh khiết cao là nguyên liệu cơ bản để sản xuất clo... Nguồn nguyên liệu từ nguồn gốc hữu cơ: Dầu khí là cơ sở cho công nghiệp năng lượng, đồng thời nó là tiền đề để phát triển ngành hoá dầu. Thảm thực vật phong phú là điều kiện để hình thành ngành hoá chất hữu cơ và dược liệu nhiệt đới. ▪ Tình hình phát triển. - Thời Pháp thuộc: ngành này chậm phát triển, chỉ có một vài xưởng ôxy và hàn hơi (Hải Phòng). Sau đó là xưởng sản xuất đất đèn ở Lạng Sơn (1940), xưởng SX thuốc nổ (1941). Năm 1945 xây dựng xưởng SX clorat pôtát và điều chế axit axêtic (từ gỗ), xilicat alumin (từ cao lanh) phục vụ cho công nghiệp dược phẩm, đồng thời bắt đầu SX hoá chất cơ bản như NAOH (xút) và clo ở Hải Phòng. Ngoài ra có 2 nhà máy nghiền phốt phát tự nhiên ở Hải Phòng và Mỹ Tho. - Sau 1954: Ở miền Bắc: ngành này phát triển khá nhanh dựa trên cơ sở nguồn nguyên liệu tại chỗ và nhu cầu to lớn trong xây dựng và bảo vệ đất nước. Hàng loạt các nhà máy được xây dựng như về hóa chất cơ bản có nhà máy hoá chất Việt Trì, sản xuất NaOH, CL, HCL, thuốc trừ sâu, bột PVC; Thành phố ngã ba sông trở thành TTCN hóa chất quan trọng nhất ở miền Bắc. Một số XN dược phẩm hiện đại đã ra đời ở Hà Nội cùng với các XN dược phẩm của quân đội và các địa phương. Để đẩy mạnh SXNN, nhiều nhà máy SX phân hoá học được XD như: phốt phát ở Vĩnh Thịnh (Lạng Sơn), Hàm Rồng (Thanh Hoá), phân lân nung chảy Văn Điển (Hà Nội), phân đạm (Bắc Giang), supe phốt phát Lâm Thao (Phú Thọ)... Ngoài ra còn có một số cơ sở SX qui mô nhỏ ở các tỉnh và các xưởng SX axit, bột, sơn, tinh dầu nhằm tận dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ và nguồn nhân lực sẵn của địa phương. Ở miền Nam, ngành này tương đối phát triển, có nhiều cơ sở SX hoá chất cơ bản, chất dẻo, xà phòng, dược phẩm, phân bón qui mô vừa và nhỏ phân bố tập trung ở Sài Gòn, Biên Hoà - phụ cận. Đáng chú ý là việc SX chất dẻo với nguyên liệu nhập (có tới 30 xí nghiệp), SX xà phòng và bào chế dược liệu (có 15 xí nghiệp lớn). - Sau 1975 đến nay: ngành đã được tổ chức lại và đầu tư theo chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ, xây dựng thêm một số cơ sở sản xuất mới. Nguồn nguyên liệu trong nước được sử dụng nhiều hơn. Hướng sản xuất của ngành vẫn tập trung vào hoá chất cơ bản, phân hoá học, hoá chất tiêu dùng. Nhìn chung, sản phẩm tăng khá nhanh đặc biệt từ sau 1990. ▪ Về phân bố: Ở phía Bắc, các cơ sở công nghiệp hoá chất tập trung ở ĐB sông Hồng với 2 trung tâm lớn: Hà Nội và Việt Trì. Ở phía Nam có 2 trung tâm lớn là TP HCM và Biên Hoà. Ở miền Trung, tuy nguồn nguyên liệu phong phú, song công nghiệp hoá chất chưa phát triển. Bảng 3.12. Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp hoá chất từ 1995 - 2008. ĐV tính 1995 2000 2005 2008 A xít H2SO4 Tấn 9768,0 36562 56067,0 64.966 Xút NaOH Tấn 7307,0 59097 107471,0 76.895 Thuốc trừ sâu Tấn 15566,0 20948 45877,0 65.433 Phân hóa học Nghìn tấn 931,0 12095 2189,5 2524,0 Sơn hóa học Tấn 21081,0 54393 206177,0 200.491 c. Định hướng phát triển ▪ Về phân bón: Tăng cường SX phân đạm từ khí thiên nhiên (đến 2010 phải đạt 1,5 triệu tấn urê). Mở rộng nhà máy phân đạm Bắc Giang lên 35 vạn tấn/năm. XD nhà máy SX phân đạm từ khí thiên nhiên ở Bà Rịa-Vũng Tàu công suất 60 vạn tấn/năm. Xây mới 1-2 nhà máy phân lân. ▪ Về hoá chất: Dự kiến xây dựng nhà máy SX sôđa công suất 8,0 vạn tấn/năm liên doanh với Ôxtrâylia ở KCN Tuy Hạ. Sau năm 2000 sẽ xây dựng nhà máy SX xút (NaOH) công suất 4 vạn tấn/năm, XD nhà máy lọc dầu gắn với hoá dầu. Các hoá chất cơ bản (xút, sôđa, các loại axit...) sẽ tập trung ở các KCN đã có như (Việt Trì, Lâm Thao, Bãi Bằng), hoặc gần nguồn nguyên liệu đá vôi (Tràng Kênh), không đưa các nhà máy vào các TP và có biện pháp chống gây ô nhiễm môi trường. Đẩy mạnh sản xuất hoá chất tiêu dùng (xà phòng, bột giặt, chế biến cao su, săm lốp xe đạp, xe máy, sơn...) ở từng vùng tiêu thụ. Tiến tới sản xuất các loại hoá chất phục vụ công nghiệp quốc phòng (thuốc nổ, thuốc phóng, cao su kỹ thuật và các loại nhựa chuyên dụng). CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Vai trò của ngành công nghiệp cơ khí trong nền kinh tế quốc dân. Hạn chế lớn nhất của ngành công nghiệp cơ khí nước ta hiện nay và biện pháp khắc phục. 2. Giải thích tại sao Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là 2 trung tâm cơ khí mạnh nhất của cả nước? 3. Những thuận lợi và khó khăn về tự nhiên, kinh tế - xã hội để phát triển ngành công nghiệp hóa chất ở nước ta. 4. Đối với ngành công nghiệp hóa chất, việc phân bố các xí nghiệp như thế nào là hợp lí nhất. Lấy ví dụ để chứng minh? 4.2.5. CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG (CN VLXD) a. Vai trò. Trong toàn bộ lĩnh vực XD kết cấu hạ tầng, thì VLXD có vai trò quan trọng hàng đầu. Đây cũng là lĩnh vực mà từ bao đời nay, con người luôn nghiên cứu, tìm tòi, sản xuất để tạo ra các vật liệu bền, chắc đẹp trong xây dựng. Nước ta đang trong quá trình CNH’- HĐH, việc mở rộng các TTCN, các KCX, hiện đại hoá kết cấu hạ tầng (đường sá, cầu cống, đê điều, đập nước, kho tàng, nhu cầu dân dụng thành thị-nông thôn)... Vì vậy nhu cầu về VLXD là rất lớn. b. Tình hình phát triển và phân bố ▪ Nguồn nguyên liệu CNSX VLXD bao gồm ngành SX xi măng, gạch ngói, vôi, thuỷ tinh, gốm, sứ, khai thác đá các loại, cát, sỏi,... Nhìn chung đều có ở các địa phương. Đá vôi để sản xuất xi măng có nhiều ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, diện tích ~ 6 vạn km2, ở miền Nam có ở một số nơi trữ lượng hạn chế. Các khu vực tập trung đá vôi với đất sét nguyên liệu là cơ sở cho việc hình thành các nhà máy xi măng lớn như Hải Phòng-Quảng Ninh (đá vôi Tràng Kênh), khu vực phía nam Đồng bằng sông Hồng và Bắc trung Bộ, khu vực Đông Bắc, Tây Bắc với những khối đá vôi cánh cung đồ sộ, khu vực đá vôi Hà Tiên. Sét để sản xuất gạch ngói có ở hầu khắp từ Bắc vào Nam. Loại có chất lượng cao thuộc trầm tích Nêôgen (Giếng Đáy, Xích Thổ - Quảng Ninh), hay thuộc kỷ Đệ Tứ phổ biến ở đồng bằng, đây là điều kiện thuận lợi để mở rộng sản xuất, kết hợp với nhu cầu của từng địa phương. Cao lanh là nguyên liệu gốm sứ cao cấp, phân bố nhiều ở tả ngạn sông Hồng, Quảng Ninh, Hải Dương, Nghệ - Tĩnh, Quảng Bình, Biên Hoà... Cát, sỏi có ở hầu khắp các vùng trung du, ven sông, ven biển. Riêng cát thuỷ tinh có hàm lượng SiO2 trên 75%, tập trung ở Vân Hải (Quảng Ninh), Ba Đồn (Quảng Bình), Nam Ô (Đà Nẵng), Thuỷ Triều (Khánh Hoà). Nguồn nguyên liệu cho xây dựng từ lâm sản (gỗ, tre, nứa...) rất phong phú, đảm bảo cả chất lượng, độ bền và có giá trị về mỹ thuật. ▪ Tình hình phát triển Ngành này xuất hiện ở nước ta từ rất sớm, các di tích còn để lại cách đây hàng ngàn năm; đó là các lăng tẩm, thành quách, lâu đài còn được bảo tồn như kinh đô Phong Châu, Cố Loa, Hoa Lư, cho đến Thăng Long, Huế... Dưới triều đại phong kiến: gạch nung đã ra đời thời nhà Lý (thế kỷ X-XII) di tích để lại ở Trường Yên, Ninh Bình với hàng chữ khắc trên gạch nung “ Đại Việt quốc quân thành” và ở nhiều nơi khác như chùa Phật Tích (1057)... Thời Pháp thuộc, một số các cơ sở SX VLXD đã ra đời, đáng kể nhất là nhà máy xi măng Hải Phòng (1899) công suất 30 vạn tấn/năm. Ngoài ra, còn một vài nhà máy gạch, ngói ở ở Hà Nội, Đáp Cầu, Sài Gòn, vôi Long Thọ (Huế). Thời kỳ 1954-1975 và hiện nay, tuy mức độ phát triển có khác nhau giữa 2 miền Nam-Bắc, song một số nhà máy cũng đã được XD ở nhiều nơi. Công nghiệp SX VLXD đặc biệt khởi sắc từ sau đổi mới, nó được phát triển với nhịp độ nhanh vào nửa đầu thập kỷ 90, khi nhu cầu về XD cơ bản tăng nhanh. Tốc độ tăng TB/năm 15% (gạch men sứ tăng 40%, xi măng tăng 24%). ▪ Các ngành sản xuất - Ngành SX xi măng: năm 1985 sản lượng 1,5 triệu tấn, thì đến 1995 tăng lên 5,8 triệu tấn, năm 2008 là trên 40,0 triệu tấn. Nếu kể cả các nhà máy lò đứng ở các địa phương thì sản lượng còn cao hơn. Các nhà máy lớn là: Xi măng Hải Phòng (XD từ cuối TK XIX), có thể coi đây là nhà máy xi măng đầu tiên của nước ta, có nhiều đóng góp cho xây dựng đất nước; Xi măng Hà Tiên (1963), bao gồm 2 cơ sở phù hợp với 2 công đoạn: SX clanhke ở Kiên Lương (Kiên Giang) và nghiền clanhke chế thành xi măng thành phẩm ở Thủ Đức (TP HCM), hiện nay nhà máy được nâng cấp và mở rộng. Ngoài 2 nhà máy ra đời sớm nhất (trên), hàng loạt các nhà máy mới được xây dựng sau này như Bỉm Sơn (Thanh Hóa) do Liên Xô giúp đỡ nằm giữa vùng nguyên liệu trù phú của dãy núi Tam Điệp và trên tuyến giao thông xuyên Việt, Hoàng Thạch do Đan Mạch giúp đỡ nằm ở khu vực đá vôi Đông Triều, rất gần cảng Hải Phòng, tiếp theo lần lượt các nhà máy xi măng cỡ lớn ra đời như Chinh Fong (Hải Phòng), Bút Sơn (Hà Nam), Sao Mai (Kiên Giang).v.v. - Ngành sản xuất kính cũng phát triển mạnh dựa vào nguồn nguyên liệu dồi dào. Các xí nghiệp kính phân bố ở Hải Phòng, Hải Dương, Đáp Cầu (lớn nhất là nhà máy kính Đáp Cầu). Ở miền Nam có ở Biên Hoà và TP HCM. - Ngành gốm-sành-sứ, là ngành truyền thống được phát triển khá sớm. Trong cơ chế thị trường ngành gốm-sành-sứ xây dựng và trang trí phát triển khá nhanh. Các cơ sở phân bố chủ yếu ở Bát Tràng (Hà Nội), Hải Dương, Móng Cái, Đồng Nai, Sông Bé (cũ). - Gạch chịu lửa (là loại vật liệu mới) có ở Cầu Đuống, Tuyên Quang, Quảng Ninh). Bê tông đúc sẵn ở Xuân Mai, Việt Trì và nhiều loại gạch men, đá ốp lát, tấm lợp ở nhiều nơi. Bảng 3.13. Tình hình sản xuất một số sản phẩm của ngành công nghiệp VLXD từ 1995 - 2008. ĐV tính 1995 2000 2005 2008 Thủy tinh Nghìn tấn 77,0 113,1 163,1 257,5 Sứ dân dụng Triệu cái 187,0 247,1 513,6 418,1 Sứ công nghiệp Nghìn cái 6000,0 6000,0 3581,0 4946,0 Gạch nung Triệu viên 6892,0 6892,0 16530,0 18278,0 Ngói nung Triệu viên 561,0 561,0 526,6 480,9 Xi măng Nghìn tấn 5828,0 5828,0 30808,0 40047,0 Tấm lợp Nghìn m2 14791,0 14791,0 203411,0 92830,0 Kính xây dựng Nghìn m2 4751,0 4751,0 74767,0 74977,0 Đá khai thác Nghìn m3 10657,0 10657,0 70836,0 101606,0 Vôi Nghìn tấn 1041,0 1041,0 1737,3 1679,4 Cát, sỏi Nghìn m3 14363,0 14363,0 66444,0 66822,0 ▪ Nguyên nhân dẫn tới sự phát triển nhanh của ngành SXVLXD: Đó là do sự chú ý đầu tư về vốn-kỹ thuật từ trong nước và sự hợp tác liên doanh với nước ngoài có hiệu quả, đã khắc phục được tình trạng lạc hậu về kỹ thuật. Hệ thống chính sách đối với việc sản xuất VLXD hợp lý, kịp thời, tạo điều kiện mở ra nhiều loại hình sản xuất với qui mô khác nhau có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển.Thị trường tiêu thụ rộng lớn. Chính yếu tố thị trường đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến qui mô và tốc độ của ngành công nghiệp sản xuất VLXD. c. Các vùng sản xuất vật liệu xây dựng ▪ Vùng SXVLXD Bắc Bộ (từ Thanh Hoá trở ra): vùng này tập trung hàng loạt các nhà máy xi măng, gạch công nghiệp, gốm ceramic và sứ vệ sinh dựa vào nguồn nguyên liệu tại chỗ phong phú và thị trường tiêu thụ rộng, đồng thời là vùng sản xuất VLXD lớn nhất cả nước. Vùng vùng tập trung 11 nhà máy, gồm Hải Phòng 0,4 triệu tấn/năm; Tràng Kênh - Chinh Fong (Hải Phòng) 1,4 triệu tấn/năm; Hoàng Thạch (I, II) 2,3 triệu tấn; Phúc Sơn 1,8 triệu tấn; 3 nhà máy của Quảng Ninh (Lang Bang A, B và Hạ Long) 4,5 triệu tấn; Bút Sơn I, II (Hà Nam) 2,8 triệu tấn; Tam Điệp (Ninh Bình) 1,2 triệu tấn; Bỉm Sơn I, II, III (Thanh Hoá) 2,3 triệu tấn; Nghi Sơn (Thanh Hoá) 2,3 triệu tấn. Các loại vật liệu khác như gạch, gốm ceramic, sứ vệ sinh, kính XD ở Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương, Thái Bình; Trong số này có 3 xí nghiệp sứ vệ sinh (30 - 50 vạn sản phẩm/năm), 5 xí nghiệp gạch gốm (TB/nhà máy > 1,0 triệu m2). Riêng nhà máy gạch Giếng Đáy (Quảng Ninh) 3,0 - 4,5 tỉ viên/năm và xí nghiệp kính Đáp Cầu 28 triệu m2/năm. ▪ Vùng SXVLXD Trung Bộ (Nghệ An – Bình Thuận): Về nguồn nguyên liệu vùng có thế mạnh lớn về cát thuỷ tinh. Về sản xuất xi măng, hiện nay mới chỉ có xi măng Hoàng Mai (Nghệ An), là lớn nhất, tiếp đến là Thành Mỹ (Đà Nẵng) 1,5 triệu tấn/năm và Vân Xa (T-T- Huế) 0,5 triệu tấn/năm. Số còn lại là 5 trạm nghiền clanhke, qui mô nhỏ, có ý nghĩa địa phương. Gạch men ceramic và sứ vệ sinh có ở Đà Nẵng, Huế. Trong đó, gạch gốm-sứ (công suất ~3 triệu m2/năm). Sứ vệ sinh (~30 vạn sản phẩm). ▪ Vùng SXVLXD Nam Bộ. Về xi măng: Từ 2 cơ sở cũ SX clanhke và nghiền xi măng ở cách xa nhau, từ Hà Tiên (Kiên Giang) về Thủ Đức (TP HCM), vùng đang nâng cấp các nhà máy cũ và XD thêm một số nhà máy mới: Kiên Lương 1 (từ 1,0 triệu tấn lên 1,3 triệu tấn/năm) và XD mới nhà máy xi măng Sao Mai (Kiên Giang) công suất 1,76 triệu tấn/năm (liên doanh với Thuỵ Sĩ), một phần clanhke được đưa về nghiền ở Vĩnh Long (0,1 triệu tấn), Cần Thơ (0,2 triệu tấn), Phước Thắng (Vũng Tàu) 0,5 triệu tấn, Thủ Đức 1,2 triệu tấn, Bình Diễn (TP HCM) 0,2 triệu tấn. Hạn chế lớn nhất của vùng là nguồn nguyên liệu (đá vôi) rất ít, chỉ có ở Hà Tiên. Sản xuất gạch, gốm, sứ vệ sinh, dựa vào nguồn nguyên liệu tại chỗ, kết hợp với việc du nhập kĩ thuật, trong vùng có một số cơ sở SX gạch gốm, sứ vệ sinh và phân bố chủ yếu ở TP HCM, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Long An, Cần Thơ (mỗi tỉnh có 1 xí nghiệp). d. Định hướng phát triển. Theo Qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH đến 2010, ngành sản xuất VLXD cần tập trung vào một số điểm sau - Phát triển rộng rãi các VLXD thông thường ở các địa phương và tiến tới SX các VLXD cao cấp. Xây dựng mới một số nhà máy xi măng ở những nơi có điều kiện thuận lợi, nâng sản lượng (2010) lên 30 triệu tấn/năm (chú ý đến nhu cầu của thị trường và chất lượng sản phẩm). - Về phân bố: công nghiệp SX xi măng đòi hỏi khối lượng nguyên liệu lớn (gấp 1,8-2,0 lần sản phẩm). Vì thế, các nhà máy có công suất từ 1,0 tr.tấn phải bố trí gần vùng nguyên liệu (từ Quảng Bình trở ra Bắc: Hoàng Mai, Nghi Sơn, Bỉm Sơn, Tam Điệp, Bút Sơn, Tràng Kênh, Hoành Bồ, Hoàng Thạch...). Ở miền Nam tập trung ở khu vực Kiên Lương-Ba Hòn (K.Giang). CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Vị trí, vai trò của ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trong nền kinh tế quốc dân. Tình hình phát triển của ngành 2. Các nhà máy xi măng có công suất trên 1,0 triệu tấn/năm phải đặt gần vùng nguyên liệu. Điều này có phù hợp với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Tại sao? 3. Trình bày tóm tắt thế mạnh và hạn chế của 3 vùng sản xuất vật liệu xây dựng. 4.2.6. CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC – THỰC PHẨM (CNCB’ LT-TP) a. Vai trò. CNCB’LT-TP dựa chủ yếu vào nguồn nguyên liệu từ ngành trồng trọt-chăn nuôi-thuỷ hải sản nhằm đáp ứng nhu cầu ăn uống của xã hội. Trong xã hội, cái ăn của con người có tầm quan trọng đặc biệt, con người cần dinh dưỡng cho sức khoẻ. Ngoài ra, nó còn giải phóng cho con những người nội trợ thoát khỏi cảnh phụ thuộc vào bếp núc cổ truyền; Thông qua qui trình công nghệ, ngành CNCB’ sẽ đảm nhận nhiệm vụ CB’ LT-TP nhờ đó mà sản phẩm thêm hấp dẫn, chất lượng tốt hơn và rất thuận tiện cho bảo quản vận chuyển trên thị trường cả trong và ngoài nước. Xét về mặt kinh tế, ngành này cần ít vốn đầu tư, quay vòng vốn nhanh, tăng tốc độ tích luỹ cho nền kinh tế. Mặt khác, nếu chế biến tốt, sản phẩm đa dạng sẽ là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị. Đây cũng là một trong những ngành CNTĐ của nhà nước. Tuy nhiên, do sự khó khăn trong chế biến, ngành mới chiếm 30% - 36% GTSLCN và 60% giá trị kim ngạch xuất khẩu. b. Tình hình phát triển và phân bố ngành CNCB LT - TP ▪ Tình hình phát triển. Sự hình thành và phát triển ngành này dựa vào 2 yếu tố: nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ. Về nguồn nguyên liệu, nước ta rất phong phú từ nông - lâm (các vùng chuyên canh lúa, gạo, cây CN, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc trên qui mô lớn). Về thị trường, dân số nước ta đông, nhu cầu về sản phẩm đa dạng; nhu cầu trên thế giới cũng rất lớn. - Thời Pháp thuộc, đã xuất hiện một số cơ sở CB’ thủ công, qui mô nhỏ như các XN xay xát ở Chợ Lớn - Sài Gòn nguyên liệu từ Đồng bằng sông Cửu Long. Công nghiệp rượu bia cũng phát triển ở một số thành phố lớn nằm giữa vùng lúa như Hà Nội và Sài Gòn - Từ 1954 - 1975, cả 2 miền đều tập trung vào xây dựng và phát triển ngành này dựa vào nguồn nguyên liệu sẵn có. Ở miền Nam đã xây dựng hàng loạt các XNCB' biến đường, hoa quả, đồ hộp, thuốc lá, sữa hộp phục vụ cho quân Mỹ và chư hầu thời đó. Tuy nhiên, chiến tranh càng ác liệt, bom đạn, chất độc hoá học đã làm cho các vùng nguyên liệu bị thu hẹp, vì vậy các cơ sở CNCB’ lại dựa chủ yếu vào nguồn nguyên liệu nhập (đường thô, sữa thô). Ở miền Bắc, để đảm bảo đủ nguồn nguyên liệu cho CNCB’. Chúng ta đã hình thành một số vùng nguyên liệu như gắn với CNCB’ như: Các vùng mía Phú Xuyên (Hà Tây); Vĩnh Lạc-Lâm Thao (Vĩnh Phú); Thanh Chương, Đô Lương (Nghệ An); Thọ Xuân (Thanh Hoá). Các vùng chè ở Yên Bái, Phú Thọ, Thái Nguyên, Mộc Châu (Sơn La), Hà Giang, Tuyên Quang, và tây Thanh Hoá-tây Nghệ An. Các vùng lạc ở Nghệ An, Hà Bắc. Các vùng thuốc lá ở Thanh Hoá, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Bắc. Các xí nghiệp chăn nuôi kiểu công nghiệp cũng ra đời chủ yếu ở xung quanh các thành phố lớn như Đông Anh, Cầu Diễn, Từ Liêm cùng với các khu vực trồng rau-hoa-cây ăn quả tại vùng này, ít nhiều đã tạo ra các vành đai thực phẩm ngoại thành. - Từ 1975 - nay, đặc biệt là từ sau đổi mới, các vùng chuyên canh, các ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ hải sản phát triển mạnh, đạt hiệu quả kinh tế cao, phân bố rộng khắp các vùng lãnh thổ. Chất lượng các mặt hàng đã được nâng cao, cùng với mạng lưới các xí nghiệp CB’ LT-TP từ trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản được hình thành. Sự phân bố đã trải rộng ra nhiều khu vực khác gắn với vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ. Nhìn chung, sản phẩm của ngành tuy có tăng nhưng mức độ tăng có khác nhau. Ngành CNCB’ phát triển vẫn chưa tương xứng với việc mở rộng các vùng nguyên liệu. Cơ cấu ngành vẫn tập trung chủ yếu trong các ngành truyền thống, kỹ thuật chưa thật sự đổi mới. ▪ Về phân bố: Ngành này được phân bố mang tính qui luật nhưng việc phân bố cũng tương đối linh hoạt tùy thuộc vào tính chất của nguồn nguyên liệu (nhất là nguyên liệu tươi sống, dễ hư hỏng). Vì thế, số đông các xí nghiệp sơ chế đều bám vào vùng nguyên liệu; Trong khi đó, các xí nghiệp chế biến thành phẩm lại có xu hướng phân bố ngay trong vùng tiêu thụ (kể cả những ngành dựa vào nguồn nguyên liệu nhập). Về phương diện tổ chức lãnh thổ, thì chất lượng của sản phẩm CB' là tiêu chuẩn để đặt hàng với bên SX nguyên liệu.; hiện nay các hình thức liên kết nông-công nghiệp (giữa một bên sản xuất nguyên liệu với một bên là các XNCB') ngày càng phát triển đã đảm bảo chất lượng cao của sản phẩm. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa vùng nguyên liệu và nơi chế biến là tương đối linh hoạt, có thể ở ngay vùng nguyên liệu, hoặc chỉ sơ chế ở vùng nguyên liệu, còn chế biến thành phẩm cuối cùng ở ngoài vùng nguyên liệu. c. Các ngành CNCB’LT -TP - CNCB’ sản phẩm trồng trọt: Bao gồm các ngành xay xát gạo và chế biến các loại nguyên liệu khác thành đường, bánh kẹo, rượu bia, nước giải khát, chè, thuốc lá, trong đó ngành xay xát gạo có qui mô lớn và phân bố rộng khắp. + Ngành công nghiệp xay xát phát triển mạnh mẽ và có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh. Năm 1985, sản lượng gạo, ngô xay xát chỉ đạt 6,3 triệu tấn, thì đến 1990 đã tăng lên 8,0 triệu tấn, năm 1995 là 15,6 triệu tấn và năm 2005 tăng lên 29,62 triệu tấn. Hiện nay cả nước có trên 30 xí nghiệp xay xát quốc doanh qui mô lớn (không kể các trạm xay xát nhỏ). Ở miền Nam, các cơ sở này phân bố rộng khắp, song những xí nghiệp hiện đại tập trung ở TP HCM, Cần Thơ, Đồng Tháp... Ở miền Bắc, lớn hơn cả là các nhà máy xay xát ở Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hàm Rồng (Thanh Hoá). + Công nghiệp đường mía cũng đã hình thành từ lâu với nguồn nguyên liệu dồi dào tại chỗ. Năm 1995 cả nước có 22,48 vạn ha trồng mía, sản lượng mía cây 10,7 triệu tấn. Đến năm 2005, diện tích 28,8 vạn ha, sản lượng 16,7 triệu tấn mía cây. Các vùng nguyên liệu tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và DH Nam Trung Bộ. Sản lượng đường (đường kính) năm 1985 là 46,6 ngàn tấn, đến 1995 tăng lên 93,0 ngàn tấn, năm 1999 là 208,4 ngàn tấn và năm 2005 là 1032,0 ngàn tấn. Vào đầu thế kỷ XXI này cả nước có 41 nhà máy đường, mạng lưới các nhà máy đường được phân bố rộng khắp từ Bắc-Nam (Việt Trì, Vạn Điểm, Sao Vàng, Sông Lam và nhiều nhà máy đường ở các tỉnh P.Nam). Vấn đề đặt ra đối với ngành mía đường hiện nay là đảm bảo cân đối giữa vùng nguyên liệu với CSCB’ để đảm bảo hiệu quả kinh tế cao. + Công nghiệp rượu, bia, nước ngọt phát triển với tốc độ nhanh do nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân. Về sản xuất bia, năm 1985 mới có ~ 86,6 ngàn lít, thì 10 năm sau (1995) sản lượng đã tăng lên 465,0 ngàn lít và năm 2005 là 1,46 triệu lít. Về sản xuất rượu: sản lượng rượu (rượu trắng, rượu mùi) năm 1985 là 35,3 triệu lít, năm 1995 là 51,37 triệu lít và năm 2005 là 221,09 triệu lít. Từ 2 trung tâm là Hà Nội và Sài Gòn trước đây, ngành rượu-bia-nước giải khát đã mở rộng sang các trung tâm khác như Thái Nguyên, Hạ Long, Hải Phòng, Hải Dương, Thanh Hóa, Vinh, Huế, Đà Nẵng...hầu như tỉnh nào cũng có. + CNCB’ chè. Ngành chế biến chè tập trung chủ yếu ở TDMN’PB’. Ở miền Nam chỉ tập trung ở 2 tỉnh là Gia Lai (với các XNCB' Bàu Cạn, Đắc Doa, Biển Hồ) và ở Lâm Đồng (Cầu Đất, Bảo Lộc). Sản lượng chè tăng khá nhanh, nhất là những năm gần đây. Năm 1985 (20.500 tấn), 1995 (24.239 tấn), năm 1999 (63.697 tấn), năm 2005 là (127.236 tấn), năm 2008 (200.147 tấn) + SX thuốc lá tập trung chủ yếu ở các TP lớn: Hà Nội, TP HCM và các Tp khác (Hải Phòng, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt). Sản lượng có sự dao động, nhưng nhìn chung vẫn có xu hướng tăng, năm 1995 (2.147 tr.bao), 2005 (4.484,7 tr.bao), 2008 (4412,6 triệu bao) + Ngành CB' dầu thực vật gắn với cơ sở nguyên liệu từ sản phẩm của các cây có dầu như lạc, vừng, hồi, bạc hà, tập trung ở TP HCM, Bến Tre, Vinh, Lạng Sơn,.v.v. Sản phẩm của ngành ngày nay đa dạng hơn, đã đứng vững trên thị trường nội địa. Sản lượng dầu thực phẩm tăng nhanh, năm 1985 (19.125 tấn, năm 2005 (371.500 tấn), 2008 (642.500 tấn) + CB’ sản phẩm đồ hộp, rau quả phát triển mạnh ở các TP gần vùng nguyên liệu, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Sản lượng không thật ổn định (tuy có tăng), năm 1985 (12.800 tấn), 1995 (12.784 tấn), 1999 (13.868 tấn), năm 2005 (72.789 tấn), năm 2008 (89.298 tấn) - CNCB’ sản phẩm chăn nuôi. Đây là ngành chưa được phát triển, nó vẫn là ngành thứ yếu so với ngành trồng trọt trong cả nước hiện nay. CNCB’ sản phẩm của ngành chăn nuôi kém hơn về sự đa dạng của các loại sản phẩm cuối cùng và mức độ phát triển. Hiện nay đã có các xí nghiệp CB' thịt hộp ở Hà Nội và TP HCM. Các xí nghiệp CB' sữa tập trung ở một số khu vực như Mộc Châu, Ba Vì... (nơi có cơ sở chăn nuôi bò sữa). Sản lượng sữa hộp năm 1985 (24 triệu hộp), 1990 (58,2 triệu), năm 1995 (173 triệu), 1999 (207 triệu), 2005 (364,1 triệu), năm 2008 (388,4 triệu hộp). Ngoài ra, còn có các cơ sở nhỏ CB' các SP từ thịt (lạp sườn, dăm bông, bít tết...). - CNCB’ thủy, hải sản. Đây là ngành truyền thống đã có từ lâu đời nhằm cung cấp nguồn đạm động vật từ sông biển. Cơ sở nguyên liệu của ngành dựa vào nghề đánh bắt - nuôi trồng thủy hải sản. Sản lượng thủy sản các loại tăng rất nhanh: năm 1995, sản lượng thuỷ sản là 1584,3 ngàn tấn (cá biển đạt 722,1 ngàn tấn, tôm nuôi 55,3 ngàn tấn, cá nuôi 209,1 ngàn tấn), năm 2005 sản lượng tương ứng là: 3.465,9 ngàn tấn (1.367,5 ngàn tấn - 327,2 ngàn tấn - 971,1 ngàn tấn), năm 2008: 4,6 triệu tấn (1,47 triệu tấn - 388,4 ngàn tấn - 1,86 triệu tấn), đây chính là nguồn nguyên liệu đủ để cung cấp cho ngành CNCB’ phát triển. Trước đây ngành này chỉ xoay quanh việc SX nước mắm, cá khô, tôm, cá mắm; nay đã phát triển thêm nhiều loại hình sơ chế và CB’ thủy sản theo phương pháp công nghiệp như cá hộp, sản phẩm đông lạnh, bột cá. Nghề làm nước mắm và mắm các loại, sản phẩm đặc trưng của Việt Nam, phổ biến từ Bắc-Nam. Hầu hết những vùng đánh cá, có nghề muối đều sản xuất nước mắm. Những vùng sản xuất mắm ngon nổi tiếng trên thị trường nội địa và quốc tế như Cát Hải (Hải Phòng), Phan Thiết (Bình Thuận) và Phú Quốc (Kiên Giang). Sản lượng (2008) 212,5 triệu lít, một phần đã được xuất khẩu (nhất là thị trường Tây Âu với nước mắm cá cơm). Ngành CB’ tôm đông lạnh và các đặc sản biển khác (bào ngư, hải sâm, sò huyết...) mới phát triển, nhưng có tốc độ nhanh nhờ khai thác được thị trường trong và ngoài nước. Hiện nay cả nước có vài chục xí nghiệp đông lạnh trải dọc vùng duyên hải suốt từ Bắc vào Nam. Nghề làm muối, có ở hầu hết các tỉnh ven biển. Các cơ sở lớn Cà Ná (Ninh Thuận), Văn Lý (Nam Hà) Sa Huỳnh (Quảng Ngãi); sản lượng lên - xuống thất thường, cao nhất năm 1988 (85,0 vạn tấn), thấp nhất năm 2000 (59,0 vạn tấn), gầ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docdia_ly_kt_xh_vn_ii_4921.doc
Tài liệu liên quan