Giải pháp phát triển nghiệp vụ môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

 

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN

1. CTCK

 1.1. Khái niệm và phân loại CTCK

 1.2. Các mô hình tổ chức

 1.3. Vai trò và chức năng

 1.4. Các nghiệp vụ của CTCK

 -Nghiệp vụ chính

 -Nghiệp vụ phụ trợ

 1.5. Nguyên tắc hoạt động của các CTCK ở Việt Nam

2. Nghiệp vụ môi giới

 2.1.Bản chất, chức năng, vai trò

 2.2.Quy trình giao dịch

 2.3.Kỹ năng của nghiệp vụ

 2.4. Nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của hoạt động môi giới

 -Đ iều kiện khách quan

 -Điều kiện chủ quan

 

 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NHNO&PTNT VN

1. Tình hình chung của các công ty chứng khoán ViệtNam

2. Giới thiệu về công ty chứng khoán NHNO&PTNT VN

 -Qúa trình thành lập

 -Những nét chính về cơ cấu tổ chức

3. Thực trạng

 3.1.Khung pháp lý cho hoạt động môi giới

 3.2.Đánh giá các cơ sở tiền đề cho hoạt động môi giới của công ty

 3.3.Thực trạng hoạt động môi giới của công ty

 3.3.1.Trong quy trình nghiệp vụ

 -Hoạt độnh phát triển khách hàng

 -Nhận lệnh tư khách hàng-về địa điểm

 -về thời gian

 - về phương thức

 - Quản lý tài khoản của khách hàng

3.3.2.Kết quả hoạt động kinh doanh

 - Số lượng tài khoản mở tại công ty

 -Trị giá giao dịch

 - Doanh thu từ nghiệp vụ môi giới

3.3.3 Đánh giá kết quả hoạt động

3.3.4. Đánh giá khả năng phát triển nghiệp vụ

 -Thuận lợi

 -Khó khăn

 

 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP

1.Định hướng phát triển của công ty chứng khoán

 -Đến năm 2010

 -Cụ thẻ trong năm 2004

2. Tầm quan trọng của hoạt động môi giới tại TTCK VN

3.Giải pháp

 3.1.Xây dựng chiến lược cho nghiệp vụ môi giới

 3.2. Từng bước nâng cấp cơ sở vật chất cho hoạt động

 3.3. Có chính sách đào tạo và sử dụng nguồn lực hợp lý

 3.4. Phổ cập kiến thức, nâng cao nhận thức cho công chúng đầu tư về TTCK

4. Kiến nghị

 4.1. Đối với UBCKNN

 -Hoàn thiện khung pháp lý

 -Hoàn thiện hệ thống đào tạo và cấp giấy phép hành nghề

 -Tăng cưòng công tác quản lý, giám sát

 4.2. Đối với công ty và NHNO&PTNT VN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

doc25 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 07/08/2015 | Lượt xem: 659 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giải pháp phát triển nghiệp vụ môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g giao dịch Phòng giao dịch Chủ tịch Công ty Ban giám đốc Trụ sở chính Các chi nhánh Các phòng chuyên sâu nghiệp vụ tại trụ sở chính Phòng kinh doanh Phòng kế toán lưu ký Phòng hành chính tổng hợp Các phòng tác nghiệp ở chi nhánh Ban giám đốc chi nhánh Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ 2.3 Nghiệp vụ kinh doanh của công ty Công ty chứng khoán NHNO&PTNT VN với số vốn được NHNO&PTNT VN cấp 100% là 60 tỷ đồng, theo quy định của UBCKNN sẽ được phép tham gia TTCK với các nghiệp vụ sau: 2.3.1 Môi giới chứng khoán Agriseco giúp khách hàng mở và theo dõi tài khoản chứng khoán, mua hoặc bán chứng khoán theo lệnh hợp pháp của khách hàng để thu phí dịch vụ. Kết hợp với NHNO&PTNT VN cung cấp các dịch vụ cho khách hàng mua bán chứng khoán như: cho vay ứng trước, mua lại quyền nhận tiền bán chứng khoán, cho vay cầm cố, cho vay bảo chứng... 2.3.2 Nghiệp vụ tự doanh Thực hiện kinh doanh chứng khoán cho bản thân công ty bằng chính nguồn vốn của công ty. 2.3.3 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư Tư vấn cho khách hàng về những vấn đề liên quan tới quyết định đầu tư, chứng khoán, công bố, phát hành các báo cáo, phân tích thị trường... 2.3.4 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư Quản lý vốn và các giấy tờ có giá của khách hàng, mua bán hoặc chuyển nhượng chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa cho khách hàng 2.3.5 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán Thực hiện bảo lãnh cho các công ty, các tổ chức kinh tế phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra thị trường 2.3.6 Các nghiệp vụ khác Thực hiện các hoạt động hùn vốn, liên doanh, liên kết, mua cổ phầncủa các doanh nghiệp theo quy định, uỷ quyền của NHNO phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Ngoài ra, còn thực hiện các nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật và được uỷ ban chứng khoán nhà nước cho phép. CHƯƠNG 2: ĐáNH giá tình hình hoạt động của công ty 2.1 Tình hình hoạt động 2.1.1 Môi giới Nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu của các CTCK, với doanh thu năm 2001: 8,3 triệu đồng, năm 2002: 343,41 triệu đồng, đến 2003 là: 263 triệu đồng, song thị phần môi giới của công ty lại tăng từ 4% lên 12.09%. Đây là hoạt động chủ đạo và là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu trong thu nhập về hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán.cũng như hầu hết các CTCK ở Việt Nam hiên nay, công ty TNHH chứng khoán NHNO&PTNT VN đã nghiên cứu và ban hành quy trình nghiệp vụ môi giới riêng cho mình ngay từ buổi đầu đi vào hoạt động và đã đưa phần mềm giao dịch vào hoạt độnh nhằm hiện đại hoá hệ thống giao dịch của mình. Trước hết căn cứ vào số lượng tài khoản mở tại công ty tăng liên tục, trung bình mỗi tháng số tài khoản của khách hàng tăng 20 tài khoản. Mới đi vào hoạt động hơn một năm nhưng với số lượng tài khoản hiện nay mở tại công ty ( có 360 tài khoản trong đó có 10 tổ chức),số tiền gửi giao dịch chứng khoán đến 31/12/2003 là: 12,11 tỷ đồng, cho thấy công ty đã đuổi kịp tốc độ thu hút khách hàng trong nghiệp vụ môi giới so với các công ty thành lập sớm hơn và cũng vượt cả kế hoạch của công ty đề ra cho giai đoạn đầu của lộ trình công ty (giai đoạn xây dựng công ty) là đến cuối năm 2003 đạt 300 tài khoản. So với cùng kỳ năm ngoái, số tài khoản của công ty tăng gấp 4 lần. Trong khi tổng số tài khoản mở ở tất cả các CTCK tính đến tháng 5/2003 là hơn 11.000 tài khoản, gấp 2 lần so với tháng 8/2001. Số liệu trên cho thấy bước đầu công ty đã có được lòng tin của các nhà đầu tư. -Về tổng giá trị giao dịch Công ty đã thực hiện mua bán chứng khoán cho người đầu tư đạt tổng giá trị giao dịch là 16,19 tỷ đồng tăng 16 lần so với tổng giá trị giao dịch của tháng hoạt động đầu tiên là 1,6 tỷ đồng. So với các CTCK khác giá trị giao dịch tối thiểu tăng 5 lần thì giá trị giao dịch của công ty được coi là tăng mạnh. Với mức độ gia tăng như vậy, công ty chiếm dược 5,6% thị phần so với tổng số các CTCK thực hiện nghiệp vụ này.Vào thời điểm tháng 7/2002 thị phần giá trị giao dịch công ty chỉ đạt 3%, sau khoảng 8 tháng công ty đã có thêm 2% thị phần, đay là kết quả rất khả quan.Sở dĩ giá trị giao dịch tăng nhanh như vậy cũng là do số lượng giao dịch công ty thực hiện cho khách hàng tăng mạnh, tăng hơn 4 lần so với tháng đầu hoat động và đạt gần 8% thị phần khối lượng giao dịch. Và qua đây cũng cho thấy công ty đã hoạt động tích cực trong việc thực hiện yêu cầu mua bán chưng khoán cho khách hàng nhưng giá trị giao dịch chưa cao. -Về phí môi giới Đối với các CTCK được thanh lập sớm nhất thì trong thời gian đầu hoạt động, dù chiếm thị phần lớn các công ty này cũng chỉ thu được 30-70 triệu đồng tiền phí giao dịch hàng tháng, một số công ty không thu nổi 10 triệu đông tiền phí môi giới.Vì thế, công ty chứng khoán NHNO&PTNT VN trong tháng đầu hoạt động cũng chỉ thu được 8,3 triệu đồng.Nhưng thêm một công ty chứng khoán tức là thêm sự cạnh tranh giữa các CTCK càng mạnh mẽ hơn, do đó đến tháng 4/2002 các CTCK đua nhau giảm phí môi giới để thu hút khách hàng. Cong ty cũng không nằm ngoại lệ, tuy nhiên, do khối lượng giao dịch của công ty tăng đều và giá trị giao dịch cũng tăng nên tổng phí môi giới của công ty vẫn tăng nhưng mức độ tăng không được nhanh. 2.1.2 Tự doanh Nghiệp vụ tự doanh có công ty đăng ký thực hiện và triển khai ngay từ khi đi vào hoạt động, các CTCK thực hiện hoạt động tự doanh thông qua việc mua bán các chứng khoán niêm yết (giao dịch trên thị trường tập trung, mua lô lẻ), cổ phần của công ty không niêm yết, trái phiếu. Công ty chứng khoán NHNO&PTNT VN cũng đã thực hiện nghiệp vụ này nhưng chỉ ở mức độ dự trữ chứ chưa thực sự thực hiện nghiệp vụ này theo đúng bản chất của nó.Tức là công ty mua một số chứng khoán để phòng ngừa cho những trường hợp như: có sự sai sót trong nhập lệnh, lệnh mua lại nhập thành lệnh bán hay ngược lại, khi đó không thể nói với khách hàng là sai sót kỹ thuật được. Vì vậy, công ty phải chịu lỗ và bù phần chứng khoán mình đã mua bán cho khách hàng để giữ uy tín. Giao dịch tự doanh của công ty chưa nhiều và chiếm tỷ trọng không lớn trong lượng vốn còn dư thừa của công ty, số lượng chứng khoán công ty thực hiện tự doanh còn nhỏ và giá trị tự doanh chỉ đạt hơn một tỷ là quá ít so với vốn của công ty, qua đó cho thấy về nghiệp vụ này công ty chưa thực sự tham gia có hiệu quả. Tuy vậy, so với tình hình thực hiện nghiệp vụ này trên thị trường thì công ty chứng khoán Nông nghiệp đã đạt được kết quả nhất định vì đã tham gia việc tự doanh cả cổ piếu và trái phiếu, chứ không như một số CTCK khác chỉ đầu tư vào trái phiếu đã niêm yết vì đây là loại chứng khoán có độ an toàn cao. Đến tháng 2/2003, công ty đua nghiệp vụ tự doanh cổ phiếu vào hoạt động,sau khi thành lập bộ phận kinh doanh cổ phiếu, xây dựng quy định thí điểm tự doanh cổ phiếu...sau hơn 8 tháng thí điểm, nghiệp vụ tự doanh cổ phiếu đã tiến hành suôn sẻ, không sai sót.Vốn được bảo toàn và tỷ suất lợi nhuận tương đối cao, cụ thể: Tổng doanh số giao dịch: 4.668.527.000 đồng Tổng khối lượng giao dịch: 240.560 cổ phiếu Chênh lệch thu- chi: 117.719.920 đồng Tỷ suất lợi nhuận: 10.30% Đồng thời năm 2003 công ty csó bước nhảy vọt trong nghiệp vụ tự doanh trái phiếu.Số dư tự doanh trái phiếu đạt 755,78 tỷ đồng, tăng 1,160% so với năm 2002 và tăng 558% so với kế hoạch năm 2003. Trong đó công ty tập trung chủ yếu vào tự doanh trái phiếu chính phủ được niêm yết trên TTCK. 2.1.3. Bảo lãnh phát hành: Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành có CTCK đăng ký thực hiện nhưng cho tới nay mới chỉ dừng lại ở việc tiếp xúc với khách hàng hoặc nhận làm đại lý phát hành. Công ty chứng khoán NHNo & PTNT VN đã tham gia dịch vụ này với vai trò làm đại lý phát hành kỳ phiếu cho NHNo & PTNT VN . Trong tháng 5 /2002 , Công ty đã phát hành được 178 tỷ đồng kỳ phiếu NHNo & PTNT VN không chính thức qua sở giao dịch NHNo & PTNT VN. Phí đại lý Công ty được hưởng: 888.893.463 đ . Do hình thức bảo lãnh phát hành hiện nay là cam kết chắc chắn sau khi ký bảo lãnh phát hành không được vượt quá 3% nên Công ty gặp khá nhiều khó khăn khi muốn triển khai nghiệp vụ này. Và trên thị trường hiện nay chỉ có CTCK bảo việt là thực hiện nghiệp vụ này qua việc bảo lãnh phát hành trái phiếu quỹ hỗ trợ phát triển với giá trị trên 100 tỷ đồng. Còn lại các CTCK đều giống NHNo & PTNT VN nhận làm đại lý phát hành cho một số Công ty cổ phần niêm yết và chưa niêm yết. Cho đến năm 2003, công ty đã thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ cho kho bạc nhà nước trung ương (5 hợp đồng) và quỹ hỗ trợ phát triển (8 hợp đồng). Công ty dã tham gia 7 đợt đấu thầu trái phiếu qua TTGDCK, trúng thầu 298,6 tỷ đồng. Tổng doanh số bảo lãnh phát hành của cả năm 2003 là 1.692 tỷ, đạt 366% so với năm 2002. Đặc biệt, công ty đã làm đại lý phát hành được 611,77 tỷ đòng trái phiếu NHNO&PTNT VN ( chiếm gần 40% tổng số phát hành của toàn nghành), vừa tạo công ăn việc làm, góp phần mở ra một kênh huy đọng vốn mới cho NHNO& PTNT VN đông thời tạo tiền đề đẻ công ty triển khai việc tư vấn niêm yết trái phiếu cho NHNO&PTNT VN 2.1.4. Quản lý danh mục đầu tư. Nghiệp vụ này của Công ty là nghiệp vụ giúp khách hàng quản lý vốn thông qua việc mua, bán và nắm giữ chứng khoán theo tiêu chí vì quyền lợi của khách hàng với phương châm phân tán rủi ro đảm bảo được donh lợi. Để thực hiện nghiệp vụ này, giữa Công ty và khách hàng cần ký hợp đồng trong đó khách hàng uỷ thác cho Công ty một số vốn và Công ty sẽ thực hiện quản lý số vốn đó với các điều kiện cụ thể theo yêu cầu của khách hàng (Ví dụ về danh mục đầu tư chứng khoán khách hàng lựa chọn hay đơn thuần khách hàng chỉ yêu cầu về tỷ suất lợi nhuận mà danh mục đầu tư đem lại cho khoản vốn mà khách hàng bỏ ra ...). Nghiệp vụ này sẽ đem lại khoản phí quản lý danh mục đầu tư cho Công ty , tuy nhiên cho đến thời điểm này trên thị trường Công ty chưa thực hiện. NHNo & PTNT VN đã nhận thức đây là nghiệp vụ có thể đem lại niềm tin cho khách hàng nhưng cho đến nay Công ty nhận thấy vẫn chưa có đủ điều kiện để thực hiện ngiệp vụ này. 2.1.5.Tư vấn đầu tư . Nghiệp vụ tư vấn chứng khoán của Công ty bao gồm các lĩnh vực: -Tư vấn cho tổ chức phát hành: Hoạt động tư vấn cho tổ chức phát hành tương đối đa dạng, từ việc phân tích tài chính đến đánh giá giá trị doanh nghiệp, tư vấn về các loại chứng khoán phát hành hay giúp đỡ tổ chức phát hành cơ cấu lại tài chính, hỗ trợ các Công ty trong quá trình cổ phần hoá chuyền đổi sở hữu và phát hành cổ phiếu ra công chúng. -Tư vấn cho khách hàng: Là hoạt động tư vấn cho khách hàng có yêu cầu tham gia TTCK trong việc đưa ra quyết định liên quan đến việc mua bán chứng khoán. -Ngoài ra nghiệp vụ tư vấn còn bao gồm đưa ra các thông tin phân tích, nhận định (Dưới dạng các ấn phẩm sách, báo, bản tin ) Của Công ty về diễn biến của thị trường và từng loại chứng khoán. Để thực hiện nghiệp vụ này, Công ty đã tuyển dụng và đào tạo những chuyên gia phân tích tài chính, phân tích thị trừơng, đồng thời kết hợp các chuyên gia tín dụng của ngân hàng mẹ trong việc đánh giá tài chính doanh nghiệp. Mức phí cho hoạt động tư vấn sẽ được thoả thuận giữa khách hàng và Công ty. Hiên tại, để thực hiện chính sách tiếp thị Công ty không thu phí đối với hoạt động tư vấn. Công ty hiện mới chỉ dừng ở việc cung cấp các thông tin chính thức cho UBCK và TTCK phát hành. Ngoài ra, Công ty còn xây dựng các thông tin hướng dẫn cho khách hàng tham gia giao dịch chứng khoán. Công ty đang triển khai nghiệp vụ tư vấn niêm ýêt và tư vấn cổ phần hoá. Đây sẽ là nền móng vững chắc để Công ty có thể phát triển nghiệp vụ này trong tương lai. Trên thực tế, hầu hết tất cả các Công ty chứng khoán đều thực hiện nghiệp vụ này chỉ để thu hút khách hàng mà không thu phí 2.1.6.Lưu ký và đăng ký chứng khoán. Nghiệp vụ lưu ký và đăng ký chứng khoán giúp khách hàng lưu giữ , bảo quản chứng khoán, thực hiện các quyền đối với chứng khoán theo yêu cầu của khách hàng , cung cấp dịch vụ đăng ký lưu ký chứng khoán ghi nhận quyền sở hữu của khách hàng, kể cả quyền và nghĩa vụ liên quan bằng hệ thống thông tin lưu giữ trong các tài khoản lưu giữ. Để thực hiện nhiệm vụ naỳ Công ty đăng ký là thành viên của trung tâm lưu ký và có các cán bộ thực hiện công tác lưu ký chứng khoán. Việc lưu ký có thể do khách hàng mang chứng khoán đến Công ty hoặc cán bộ lưu ký nhận chứng khoán tại địa điểm khách hàng yêu cầu. Sau khi nhận lưu ký của khách hàng, Công ty thực hiện tái lưu ký các chứng khoán tại trung tâm lưu ký để đảm bảo điều kiện giao dịch cho chứng khoán. Bộ tài chính ban hành các mức biểu phí cho hoạt động lưu ký của trung tâm giao dịch chứng khoán nhưng do thời gian đầu nên các mức phí này đang được thực hiện miễn giảm 100% . Do đó, cũng như các tổ chức lưu ký khác, Công ty không thu phí lưu ký đối với khách hàng . Công ty lưu ký tất cả các loại cổ phiếu niêm yết cho khách hàng đến giao dịch, đảm bảo an toàn và thực hiện đầy đủ các quyền của người sở hữu chứng khoán Bước đầu Công ty đã thực hiện dịch vụ lưu ký này rất tốt, so với tổng số 13.774.620 cổ phiếu và 11.302.140 trái phiếu niêm yết tại các CTCK thì số lượng chứng khoán mà Công ty thực hiện lưu ký là khá nhiều (Cổ phiếu 1.100.000, trái phiếu 1.600.000, đạt tổng2,7 triệu chứnh khoán và đến 2003 đạt 3,3 triệu chứnh khoán). Ngoài ra hiện nay Công ty đang có một số lượng khách hàng lưu ký chứng khoán tiểm năng rất lớn, và Công ty đang triển khai quản lý dịch vụ cổ đông như là hoạt động phụ trợ trong nghiệp vụ tư vấn niêm yết và tư vấn cổ phần hoá. Do đó , mặc dù Công ty không nhằm mục đích thu phí của nghiệp vụ này nhưng Công ty sẽ có lợi ở chỗ hầu hết các cổ đông của các đơn vị này sẽ lưu ký chứng khán tại Công ty và tiến hành giao dịch cổ phiếu niêm yết của họ trên TTCK. 2.1.7. Các dịch vụ phối hợp hoạt động với NHNo & PTNT VN Từ nhu cầu của khách hàng trong quá trình thưc hiện các nghiệp vụ doanh của Công ty, Công ty có thể phối hợp với NHNo & PTNT VN trong việc cung cấp một số dịch vụ tiện ích thuận lợi cho khách hàng của Công ty. Tuy nhiên, cho đến nay những dịch vụ này vẫn chưa thực sự được triển khai do còn nhiều khách hàng chưa biết đến dịch vụ tiện ích này và cũng do các Công ty còn đang muốn củng cố và phát triển các nghịêp vụ chính. Nhưng trong thời gian tới, khi thị trường phát triển những hoạt động này sẽ giúp Công ty có thể thu hút được nhiều khách hàng hơn và tăng sức cạnh tranh của Công ty so với các CTCK khác trên thị trường. 2.1.7.1 Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán. Theo quy định về thanh toán bù trừ của TTGDCK, nếu khách hàng bán chứng khoán vào ngày T+0 thì đến tận ngày T+3 họ mới nhận được tiền thông qua CTCK. Nếu thời điểm bán chứng khoán rơi vào giữa hoặc cuối tuần thì họ nhận được tiền sau 5 ngày . Mặt khác do nhu cầu tiền mặt hoặc nhu cầu đầu tư trực tiếp vào chứng khoán khác nên khách hàng rất muốn nhận được tiền ngay sau khi bán được chứng khoán. Vì vâỵ CTCK NHNo & PTNT VNcó thể phối hợp với chi nhánh của NHNo & PTNT VN cho khách hàng vay ứng trước tiền bán chứng khoán, sau khi tiền bán chứng khoán của khách hàng được ngân hàng chỉ định thanh toán chuyển vào tài khoản của CTCK NHNo & PTNT VN, Công ty sẽ đứng ra thu hộ tiền vay ( cả gốc và lãi) hộ NHNo & PTNT VN. Hình thức cho vay này hầu như không có rủi ro và nếu khách hàng đã bán được chứng khoán (có xác nhận của TTGDCK ) thì họ chắc chắn sẽ nhận được tiền. CTCK NHNo & PTNT VN đóng vai trò trung gian trong quá trình cho vay và thu nợ (thẩm định món vay và thu nợ hộ chi nhánh) Chi nhánh NHNo & PTNT VN phê duyệt hồ sơ cho vay và giải ngân. 2.1.7.2. Cho người lao động vay tiền mua cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần Trong quá trình thực hiện chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ đã nảy sinh nhu cầu vay vốn để mua cổ phần lần đầu phát hành của cán bộ công nhân viên các DNNN cổ phần hoá và hộ nông dân sản xuất, cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp này. Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thực hiện chỉ thị của NHNN , Công ty đã dề xuất với NHNo & PTNT VN cung cấp dịch vụ cho người lao động vay tiền mua cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hoá. Công ty đóng vai trò đảm bảo tiền vay thông qua việc lưu ký các cổ phiếu của người lao động coi đó như phương tiện đảm bảo khoản vay và thực hiện việc cập nhật giá trị của khoản đảm bảo trên. 2.1.7.3. Cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán, thực hiện việc cầm cố chứng khoán Trong quá trình tham gia TTCK xuất hiện nhu cầu mua chứng khoán của khách hàng nhưng họ còn thiếu tiền hay khách hàng giữ chứng khoán có nhu cầu tiền, nhưng đồng thời họ vẫn muốn lưu giữ những chứng khoán đó để được hưởng những quyền lợi do chứng khoán đem lại (Cổ tức, quyền mua chứng khoán mới, quyền bầu cử... ) Khi phối hợp với Công ty, NHNo & PTNT VNcó thể cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán hoặc cầm cố chứng khoán của khách hàng. Đây là hoạt động sinh lời, vừa an toàn, vừa giúp cho Công ty thu hút khách hàng vì theo quy định của pháp luật CTCK không được trực tíêp thực hiện các hoạt động tín dụng như các ngân hàng. 2.1.7.4. Lập đại lý nhận lệnh tại các chi nhánh. Đại lý nhận lệnh là các pháp nhân kết hợp với CTCKtrong việc nhận lệnh giao dịch của khách hàng kinh doanh chứng khoán. Đại lý nhận lệnh cần phải đáp ứng các yêu cầu: -Có thiết bị công bố thông tin về giao dịch cho khách hàng. -Nhân viên nhận lệnh và người có thẩm quyền sơ kiểm lệnh của đại lý phải có chứng chỉ chuyên môn về chứng khoán và TTCK. Điều kiện của NHNo & PTNT VN: Tính đến nay NHNo & PTNT VN có hơn 1.400 chi nhánh trải rộng trên địa bàn cả nước. Chính vì vậy, việc xây dựng mạng lưới phòng giao dịch và đại lý nhận lệnh của Công ty có thể tận dụng đựoc cơ sở vật chất kỹ thuật và mạng lưới của NHNo & PTNT VN, không những tốn kém nhiều về chi phí xây dựng và trang thiết bị ban đầu cũng như chi phí lương cho cán bộ, mà còn đem lại cho Công ty và các chi nhánh một khả năng cung cấp dịch vụ có lời và không rủi ro. Ngược lại, việc xây dựng mạng lưới các đại lý nhận lệnh của Công ty có thêm khả năng cung cấp dịch vụ hưởng phí (hiện tại là 0,5%) , đã giúp các chi nhánh và khách hàng của NHNo & PTNT VN tiếp cận TTCK , góp phần thực hiện sứ mệnh chiến lược của NHNo & PTNT VN là phục vụ nông nghiệp, nông thôn, đồng thời phối hợp với các chi nhánh NHNo & PTNT VN thực hiện chu trình khép kín các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng. 2.1.7.5. Quản lý các danh mục đầu tư Là một ngân hàng có những đặc điểm riêng có, NHNO&PTNT VN với khoản vốn dư thừamang tính "thời vụ" hoàn toàn có thể tận dụng thông qua việc trực tiếp kinh doanh chứng khoán. Công ty sẽ đảm nhận vai trò quản lý quỹ đàu tư, kinh doanh trên TTCK nhằm giúp NHNO&PTNT VN thu lợi nhuận hoặc mở rộng khả năng góp vốn, giữ cổ phần trong donh nghiệp. 2.1.8. Các dịch vụ hỗ trợ khác Từ tháng 6/2003 công ty đã phát triển sản phẩm Hợp đồng mua bán lại (REPO,REREPO), đây là những sản phẩm mới trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đưa vào thực hiện từ tháng 5/2003, công ty đã ký được 30 hợp đồng REPO với tổng số giao dịch là 847,54 tỷ đồng, lợi nhuận thu được là 464,87 triệu đồng. Sản phẩm này cũng giúp công ty phát triển nghiệp vụ môi gới, thu hút khách hàng mới.... 2.2 Về kết quả kinh doanh . Doanh thu của Công ty năm 2003 có sự gia tăng đáng kể, chưa xét đến lợi nhuận của Công ty nhưng với tình hình tăng doanh thu của Công ty hiện nay thì có thể nói rằng hoạt động kinh doanh của Công ty hứa hẹn doanh thu sẽ còn tăng nhanh và nhiều trong những năm tới đây. Trong 2 năm đầu hoạt động doanh thu chủ yếu vẫn từ 2 nguồn: Phí môi giới chứng khoán và vốn kinh doanh . Sau môi giới, hoạt động tự doanh cũng góp phần đáng kể vào doanh thu của Công ty. Trong năm 2003, doanh thu của nghiệp vụ tự doanh là rất lớn nhưng doanh thu do hình thức tự doanh đúng nghĩa thì chưa có mà doanh thu ở đây phần lớn là do các hoạt đông khác đem lại như : Việc làm đại lý phát hành kỳ phiếu cho NHNo & PTNT VN dưới hình thức tự doanh hay từ các đề án mua giấy nhận nợ mía đường của Công ty khi mới thành lập năm 2001. Điều naỳ cho thấy Công ty chưa tận dụng hết được tiềm lực về vốn của mình trong quá trình hoạt động và hơn nữa các nghiệp vụ khác chưa có doanh thu. Sang năm 2003, cơ cấu doanh thu của Công ty đã biến chuyển đáng kể . -Thứ nhất: Doanh thu của Công ty có phần đóng góp đáng kể từ phí làm đại lý phát hành kỳ phiếu cho NHNo & PTNT VN. -Thứ hai: Doanh thu từ vốn kinh doanh giảm cho thấy Công ty đã tận dụng vốn kinh doanh nhiều hơn. -Thứ ba: Doanh thu của các nghiệp vu kinh doanh đều tăng hơn 2 năm trước nhiều lần. điều này làm cho tổng doanh thu của năm 2003 tăng mạnh. Cụ thể, doanh thu năm 2001 là: 4473 triệu đồng, năm 2002 là: 12207 triệu đồng, và đến 2003 là: 4112.279 triệu đồng Đây là một kết quả rất đáng khích lệ và tạo được động lực lớn cho Công ty cho những giai đoạn tiếp theo. Tuy vậy, việc chênh lệch về doanh thu giữa các nghiệp vụ cho thấy Công ty chưa được chủ trương " đa dạng hoá nghiệp vụ " vào trong thực tế hoạt động. Về lợi nhuận: Năm 2001 là năm đầu tiên Công ty đi vào hoạt động do đó đòi hỏi phải đầu tư rất nhiều mà doanh thu chưa thu được do mục tiêu chính là khách hàng chứ không phải là lợi nhuận nên Công ty bị lỗ 703,48 triệu đồng. Sang năm 2002,2003 cùng với sự phát triển của thị trường, hoạt động của Công ty cũng tiến triển theo chiều hướng tích cực và đã đạt được mức lợi nhuận vượt trội gấp ba lần so với năm trước ( năm 2002 lãi gần 9 tỷ đồng, năm 2003 lãi hơn 4 tỷ đồng). Có thể nói , các con số cho thấy đây là dấu hiệu đáng mừng từ phía Công ty, nó chứng tỏ Công ty đã tìm được hướng đi đúng đắn cho mình trong quá trình hoạt động. Không thể phủ nhận đây là thành công quan trọng bước đầu trên con đường phát triển của Công ty. Bên cạnh đó, cũng phải nhìn nhận một yếu tố khách quan tác động đến mức lợi nhuận của Công ty trong thời gian qua, đó là việc Công ty được hưởng ưu đãi về thuế theo quyết định số 39/2000 QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ. Theo quyết định này, Công ty tạm thời đựoc miễn thuế GTGT đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán trong thời gian 3 năm (từ năm 2000 đến năm 2002) đồng thời cũng được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp. Như vậy trong những năm đầu Công ty vẫn đang còn đựoc hưởng ưu đãi về thuế cũng là một trong những lý do chính góp phần làm cho lợi nhuận của Công ty tăng lên. Chương III : Một số kiến nghị và kết luận 3.1. Phương hướng hoạt động của Công ty. Kế hoạch chiến lược của Công ty cho 9 năm phát triển 2001-2010 là: Sau 9 năm Công ty sẽ trở thành Công ty chứng khoán hàng đầu của Việt Nam , ngang bằng với khu vực, cụ thể là: Hoàn tất mạng lưới gốm 10 chi nhánh, 200 đại lý nhận lệnh, tổng số có 600 cán bộ . Hoàn thiện hệ thống công nghệ hiện đại , kinh doanh qua mạng. Đội ngũ chuyên gia phân tích chia theo lĩnh vực, được hỗ trợ bởi hệ thống xử lý thông tin công xuất lớn. Doanh thu 50 triệu USD, lợi nhuận 10 triệu USD vào năm 2010 Nhưng trước mặt Công ty đang trong thời kỳ chuyển giai đoạn. Kết thúc giai đoạn 1 (xây dựng Công ty ) chuyển sang giai đoạn 2 với nội chính là kiện toàn Công ty về các mặt. Kiện toàn cán bộ về quân số, chương trình đào tạo và quy hoạch dài hạn. Kiện toàn mạng lưới trong đó hàng đầu là xây dựng 3 chi nhánh Hà nội - Tp Hồ Chí Minh - Đà nẵng để bảo đảm xử lý nghiệp vụ theo 3 khu vực Miền Bắc, Miền Trung , Miền Nam và hoàn tất xây dựng hệ thống đại lý nhận lệnh lâý mạng lưới chi nhánh NHNo & PTNT VN làm cơ sở Kiện toàn công nghệ với nội dung cơ bản là hệ thống thông tin công suất lớn, hiện đại và nối mạng toàn quốc Kiện toàn nghiệp vụ với nội dung chính là xây dựng hệ thống các quy trình nghiệp vụ đồng bộ , được vi tính hoá và triển khai toàn bộ 5 nghiệp vụ cơ bản của kinh doanh chứng khoán. 3.2 Kiến nghị với NHNo & PTNT VN và Công ty TNHH chứng khoán NHNo & PTNT VN. 3.2.1 Tăng định biên cho Công ty . Do hoạt động kinh doanh của Công ty ngày càng phát triển và trong tương lai tất cả các nghiệp vụ sẽ đưẹơc triển khai nên với số lượng nhân viên như hiện nay không thể đáp ứng được yêu cầu phát triển đó. Hơn nữa việc chuyên môn hoá từng nghiệp vụ cũng đòi hỏi phòng kinh doanh Công ty cần được mở rộng theo hướng phân thành các phòng khác nhau với những nghiệp vụ kinh doanh chuyên trách khác nhau. Hiện tại nhân viên của Công ty đều là các nhân viên chuyển sang từ NHNo & PTNT VN cho phép Công ty tuyển chọn thêm một số cám bộ có nămg lực, trình độ phù hợp để tăng định biên nhằm phát triển nguồn nhân lực của Công ty. 3.2.2 Tăng vốn điều lệ cho Công ty Trong tương lai , Công ty sẽ tiến hành tiếp tục triển khai các nghiệp vụ như bảo lãnh phát hành, tư vấn niêm yếy và tự doanh, trong đó nghiệp vụ bảo lãnh phát hành theo luật định phái có vốn điều lệ lớn để bao tiêu khi bảo lãnh theo hình thức cam kết chắc chắn , Khi tiến hành nghiệp vụ này , nếu không đủ vốn , các CTCK phải liên kết để thực hiện hợp đồng bảo lãnh (tương tự như cho vay hợp vốn) , trong đó Công ty nào có vốn điều lệ lớn hơn sẽ đóng vai trò "Cầm chịch" . Do vậy, vốn điều lệ càng lớn càng có lợi và sức cạnh tranh càng cao. Và theo lộ trình của Công ty thì đến năm 2005 Công ty sẽ bước vào giai đoạn phát triển nên nhu cầu tăn vốn điều lệ lại càng cấp thiết hơn. Vì vậy xin kiến nghị với Hội đồng quản trị Công ty cho phép triển khai tăng vốn điều lệ theo các bước: - Năm 2004: Tăng vốn điều lệ lên 250 tỷ đồng . - Năm 2005 Tăng

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBC483.doc
Tài liệu liên quan