Hoàn thiện các biện pháp bảo đảm an toàn trong Thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ 3

1.1. Tổng quan về thanh toán quốc tế: 3

1.1.1. Khái niệm về thanh toán quốc tế: 3

1.1.2. Nội dung của hoạt động thanh toán quốc tế 4

1.1.3. Đặc điểm của thanh toán quốc tế: 5

1.2. Tổng quan về an toàn trong hoạt động thanh toán quốc tế tại các Ngân hàng thương mại. 6

1.2.1. Khái niệm an toàn trong thanh toán quốc tế 6

1.2.2. Sự cần thiết phải đảm bảo an toàn trong thanh toán quốc tế: 6

1.2.3. Mức độ an toàn của một số phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ biến: 8

1.2.4. Các biện pháp đảm bảo an toàn trong Thanh toán quốc tế: 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ BẢO ĐẢM AN TOÀN TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 19

2.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương: 19

2.1.1. Về tổng nguồn vốn: 20

2.1.2. Về dư nợ tín dụng cho nền kinh tế: 21

2.1.3. Về lợi nhuận của NH: 22

2.2. Thực trạng về an toàn trong thanh toán quốc tế của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam: 23

2.2.1. Kết quả hoạt động thanh toán quốc tế: 23

2.2.2. Các rủi ro thường phát sinh gây mất an toàn trong thanh toán quốc tế: 25

2.2.3. Nguyên nhân gây nên rủi ro - mất an toàn trong hoạt động thanh toán quốc tế: 37

2.3. Thực trạng các biện pháp Ngân hàng cổ phần Ngoại thương Việt Nam thực hiện để phòng ngừa các rủi ro nêu trên và bảo đảm an toàn trong thanh toán quốc tế: 40

2.3.1. Ban hành mới, sửa đổi và bổ sung quy trình tác nghiệp: 40

2.3.2. Thay đổi mô hình hoạt động: 41

2.3.3. Xây dựng chính sách khách hàng hợp lý: 42

2.3.4. Hiện đại hoá công nghệ thông tin: 43

2.3.5. Nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ: 43

2.3.6. Sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro: 44

2.3.7. Định kỳ kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh: 44

2.4. Đánh giá công tác bảo đảm an toàn trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam: 45

2.4.1. Các kết quả đạt được: 45

2.4.2. Các hạn chế và nguyên nhân: 45

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN TOÀN TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 47

3.1. Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam: 47

3.2. Quan điểm và mục tiêu trong việc đưa ra biện pháp: 48

3.2.1. Quan điểm của đề xuất: 48

3.2.2. Mục tiêu của đề xuất: 49

3.3. Một số biện pháp cụ thể: 49

 

doc64 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 19/01/2016 | Lượt xem: 12985 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Hoàn thiện các biện pháp bảo đảm an toàn trong Thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Rủi ro tác nghiệp: Rủi ro tác nghiệp là những rủi ro hình thành do những sai sót mang tính kỹ thuật nghiệp vụ trong bất kỳ khâu nào của quá trình giao dịch TTQT. Đây là loại rủi ro phổ biến trong hoạt động TTQT và xảy ra ở tất cả các phương thức TTQT. Trong phương thức chuyển tiền, NH đóng vai trò thực hiện thanh toán theo chỉ dẫn của khách hàng, rủi ro xảy ra khi cán bộ NH thực hiện sai chỉ dẫn trên lệnh chuyển tiền của khách hàng dẫn đến người thụ hưởng không nhận được tiền. Ở NHNT chi nhánh Hà Nội, khi nhận được lệnh chuyển tiền của khách hàng yêu cầu chuyển cho người thụ hưởng ở Thái Lan nhưng do sơ suất cán bộ thanh toán đã chuyển số tiền đó sang Ngân hàng Sumitomo của Singapore thay vì Ngân hàng Sumitomo ở Thái Lan. Người thụ hưởng khiều nại không nhận được tiền, NHNT Hà Nội kiểm tra lại hồ sơ và 3 ngày sau nhận được khoản thoái hối của Ngân hàng Sumitomo Thái Lan sau khi đã trừ đi USD 25.00 điện phí. NHNT Hà Nội phải chịu khoản phí phát sinh do việc chuyển trả nhầm của mình. Rủi ro cũng có thể xảy ra khi NH vi phạm các lệnh cấm vận của Mỹ. Theo lệnh cấm vận này, mọi khoản thanh toán bằng USD qua hệ thống thanh toán bù trừ của Mỹ cho những người hưởng trong danh sách cấm vận đều bị phong toả tại Mỹ. Khi thực hiện một số lệnh thanh toán, một số cán bộ NH đã sơ suất không tư vấn cho khách hàng chuyển sang thanh toán bằng các loại ngoại tệ khác như EUR hoặc GBP mà vẫn thực hiện theo chỉ dẫn thanh toán bằng USD, các giao dịch này khi thực hiện bù trừ tại Mỹ đã bị hệ thống điện tử phát hiện và khoản tiền này bị phong toả. Có trường hợp, cán bộ NH không nắm rõ danh sách cấm vận của Mỹ nên khi nhận được lệnh chuyển tiền cho người hưởng ở Myanmar vẫn tiến hành theo chỉ dẫn của khách. Đến khi nhận được khiếu nại của khách hàng và nhận được điện thông báo của NH đại lý bên Mỹ, NH mới kiểm tra lại danh sách cấm vận của Mỹ. Trong các trường hợp này, lỗi hoàn toàn do các cán bộ thanh toán đã không cẩn trọng đúng mức khi kiểm tra lệnh chuyển tiền và tư vấn khách hàng cũng như không cập nhật thường xuyên thông tin chỉ dẫn đến việc tiền không đến tay người hưởng và các NH phải dùng tiền của mình để thanh toán cho người hưởng lợi. Trong phương thức nhờ thu, rủi ro thường gặp là NH với vai trò là NH nhờ thu thực hiện sai chỉ thị thanh toán, nhầm lẫn từ D/P trả ngay sang D/P trả chậm, D/P trả chậm sang D/A. Còn với vai trò là NH gửi nhờ thu, không kiểm tra kỹ địa chỉ NH thu hộ trên các phần mềm tra cứu khiến cho bộ chứng từ nhờ thu có thể bị trả về do sai địa chỉ và NH phải chịu chi phí phát sinh. Phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng rộng rãi trong hoạt động TTQT và cũng là phương thức mang lại cho NH nhiều rủi ro nhất. Đối với L/C nhập khẩu, rủi ro xảy ra khi: - Hành động không theo UCP: Theo UCP 600, NH phát hành L/C được miễn trách nhiệm thanh toán nếu chứng từ xuất trình có khác biệt với các điều kiện và điều khoản của L/C và phải thông báo cho NH nước ngoài trong vòng 5 ngày làm việc. Trên thực tế có trường hợp cán bộ TTQT nhận được bộ chứng từ xuất trình không kịp thời kiểm tra hoặc phát hiện sai sót nhưng để quên không lập điện từ chối NH thương lượng/thanh toán trong vòng 5 ngày làm việc tức là NH đã mất quyền từ chối bộ chứng từ. Có trường hợp bất hợp lệ của bộ chứng từ xuất trình bị NH thương lượng/thanh toán phủ nhận và điện từ chối trở nên vô giá trị. Người nhập khẩu hoàn toàn có quyền từ chối bộ chứng từ trên còn NH Việt Nam vẫn phải tiến hành thanh toán theo đúng tinh thần UCP và TTD đã mở. Hoặc người nhập khẩu một thời gian sau mới chấp nhận thanh toán, NH vẫn phải chịu rủi ro vì trả lãi chậm thanh toán cho NH nước ngoài. - Không tư vấn cho khách hàng khi ký kết hợp đồng mở L/C. Việc thanh toán L/C hoàn toàn dựa theo chứng từ, tách rời hàng hoá và hợp đồng nên người nhập khẩu cần có đủ kiến thức và kinh nghiệm để quy định các điều kiện và điều khoản của L/C sao cho phản ánh đầy đủ và chính xác các cam kết trong hợp đồng, đảm bảo rằng thông qua các chứng từ xuất trình có thể kiểm soát được việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng của người xuất khẩu. Trách nhiệm của cán bộ NH là phải tư vấn cho người nhập khẩu khi mở L/C hoặc từ khi ký kết hợp đồng. Nếu cán bộ TTQT không nghiên cứu kỹ những điều khoản hợp đồng để dành lợi thế cho khách hàng, không gây rủi ro cho NH hoặc chỉ căn cứ vào đơn xin mở L/C, kể cả khi có những điều khoản không chặt chẽ mà vẫn đồng tình thì có thể gặp những rủi ro đáng tiếc. Đối với L/C xuất khẩu, NH gặp rủi ro khi: - Thông báo L/C không đảm bảo tính chân thực bên ngoài. Nếu NH tiếp nhận L/C giả mạo mà không xác minh được tính chân thực của L/C đó, vẫn tiến hành thông báo cho khách hàng không kèm theo ghi chú về tình trạng của L/C theo thông lệ quốc tế thì NH thông báo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. - Không tư vấn cho khách hàng về điều khoản bất lợi của L/C: Khi tiếp nhận L/C một số NH thường coi nhẹ công tác tư vấn, chỉ thực hiện đúng theo nguyên tắc kiểm tra tính chân thực bề ngoài của TTD để thông báo cho người thụ hưởng. Do sự yếu kém về trình độ và yếu thế trong tương quan thương mại nên người xuất khẩu không lường hết được những khó khăn trong việc giao hàng và lập chứng từ thậm chí không thể lập bộ chứng từ hoàn hảo hoặc chấp nhận những L/C có điều khoản thanh toán bất lợi. - Đôi khi một số TTD quy định các điều khoản mâu thuẫn đều không lưu ý, chỉ đến khi người xuất khẩu giao hàng và trình bộ chứng từ thì NH mới phát hiện ra bất đồng. Thời điểm này đã quá muộn để tu chỉnh L/C mà người xuất khẩu phải chấp nhận rủi ro đòi tiền bằng bộ chứng từ không hoàn hảo. Nếu cán bộ thanh toán không xem xét đến khả năng tài chính của NH phát hành thì nhiều bộ chứng từ sẽ không được thanh toán hoặc thanh toán chậm do NH phát hành khó khăn về tài chính. - Đến giai đoạn tiếp nhận chứng từ, một số NH không làm tròn nghĩa vụ kiểm tra chứng từ nhằm tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu có thể kịp thời sửa chữa các sai sót trong bộ chứng từ, tránh những tranh chấp đáng tiếc xảy ra. - Khi tiến hành chiết khấu bộ chứng từ cho người xuất khẩu do không cẩn thận, cán bộ thanh toán của NH không phát hiện ra bất đồng bộ chứng từ mà vẫn ứng tiền cho người xuất khẩu và gửi bộ chứng từ đòi tiền NH phát hành. Đến khi nhận được điện từ chối của NH phát hành, NH ở Việt Nam mới kiểm tra lại và phát hiện quả thật những bất đồng mà NH nước ngoài nêu ra hoàn toàn đúng. Do lỗi của cán bộ NH nên NH không thể truy đòi người xuất khẩu mà trông chờ vào thiện chí của người nhập khẩu. Điều này khiến cho uy tín của các NHTM bị giảm sút đồng thời NH cũng sẽ gánh chịu một số chi phí do NH nước ngoài chậm thanh toán, các khoản lãi phát sinh của bộ chứng từ chiết khấu cũng không thể thu từ người xuất khẩu. 2.2.2.2. Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng phát sinh khi NHTM cấp tín dụng cho người xuất khẩu, nhập khẩu nhưng đối tác không thực hiện được cam kết như đã thoả thuận khiến cho NH không thu hồi được vốn đúng hạn hoặc không thể thu hồi vốn hoặc phải bỏ ra nhiều chi phí để thu hồi lại khoản vốn đó. Rủi ro này chủ yếu trong phương thức tín dụng chứng từ. Nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít và các NHTM Việt Nam là nhà tài trợ chủ yếu cho các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp thông qua phương thức tín dụng chứng từ. Trong phương thức này, phần lớn các doanh nghiệp hoạt động dựa vào sự tài trợ bằng uy tín hoặc bằng vốn vay của NH. Do phương án kinh doanh không khả thi hay những điều kiện khách quan như sự biến động giá cả và nhu cầu thị trường trong nước, tỷ giá ngoại tệ, chính sách thuế hay hàng nhập về không đảm bảo chất lượng làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc giải toả và thu hồi vốn lô hàng dẫn đến tình trạng người nhập khẩu bị thua lỗ, không có khả năng thanh toán đúng hạn khoản vay, thậm chí phá sản không có khả năng thanh toán toàn bộ hoặc một phần vốn vay cho NH do đó ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn của NH. Đối với L/C dùng vốn tự có ký quỹ dưới 100% thì nhiều doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi nhưng do trình độ quản trị luồng tiền không tốt nên khi đến hạn thanh toán, doanh nghiệp không có đủ tiền và buộc NHTM phải cho vay bắt buộc. Trong trường hợp như vậy, NH mất nhiều chi phí và thời gian để theo dõi làm việc với khách hàng và thanh toán cho phía nước ngoài. Các L/C phát hành bằng vốn ngân sách đảm bảo về khả năng trả nợ nhưng lại rất rủi ro về khả năng thanh toán đúng hạn vì để rút vốn từ ngân sách phải làm rất nhiều thủ tục. Trong khi đó NH chỉ có 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận chứng từ để kiểm tra và thanh toán. Ngoài ra, khi tiến hành chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất cho doanh nghiệp, nếu vì một lý do nào đó mà bộ chứng từ không được NH nước ngoài thanh toán thì NH Việt Nam có quyền truy đòi người xuất khẩu. Nhưng người xuất khẩu không đủ khả năng hoàn trả số tiền đó thì NH sẽ không thu hồi được vốn đã chiết khấu. NH cấp tín dụng để người xuất khẩu tiến hành sản xuất hay thu gom hàng hoá phục vụ xuất khẩu nhưng người xuất khẩu lại gặp rủi ro trong việc thanh toán bộ chứng từ gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. Rủi ro này xuất hiện phổ biến đối với hoạt động cho vay xuất khẩu các mặt hàng gạo, thuỷ sản của NHNT. 2.2.2.3. Rủi ro ngoại hối: Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chỉ đơn thuần hoạt động nhập khẩu hoặc xuất khẩu do vậy các doanh nghiệp không thể tự cân đối ngoại tệ để thanh toán L/C mở tại các NHTM. Thậm chí ngay cả khi hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu song song thì các doanh nghiệp cũng không thể cân đối đủ lượng ngoại tệ cho nhập khẩu và họ cần NH hỗ trợ bổ sung nguồn ngoại tệ. Phần lớn doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn mua ngoại tệ của NH. Trong thời điểm khan hiếm ngoại tệ để thanh toán, tỷ giá USD so với VNĐ đột ngột tăng lên như thời điểm tháng 5, tháng 6, tháng 7 năm 2008 vừa qua, để đáp ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp nhập khẩu, các NHTM Việt Nam nói chung và NHNT nói riêng đã phải tạm ứng một khối lượng lớn ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp và gặp rủi ro khi không thể mua được lượng ngoại tệ thiếu hụt thấp hơn giá bán ra. NH xác nhận bán ngoại tệ cho khách hàng theo tỷ giá đã niêm yết hoặc với các hợp đồng kỳ hạn với tỷ giá thoả thuận trước, tại thời điểm xác nhận giao dịch dự trữ ngoại tệ của NH không đủ nên buộc phải mua trên thị trường liên NH với tỷ giá cao hơn giá bán cho khách hàng, rủi ro do chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán do NH gánh chịu. Mặt khác, trước tình hình cầu về USD lớn và tỷ giá USD/VNĐ tăng từng ngày, một số NHTM trong nước găm không bán ngoại tệ ra nên các NH muốn có USD phục vụ hoạt động TTQT phải mua của NH nước ngoài thông qua ngoại tệ GBP, EUR, JPY. Nếu tỷ giá trên thị trường tài chính quốc tế cao hơn tỷ giá trên thị trường Việt Nam thì các NHTM sẽ chịu rủi ro. NHNT dù nắm giữ một lượng ngoại tệ dồi dào nhưng đợt biến động tỷ giá vừa qua cũng gây ảnh hưởng nhất định trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ và gián tiếp đến hoạt động TTQT của NH. Các giao dịch chuyển tiền phải tạm gác lại hoặc thoái thác để ưu tiên cho các giao dịch thường xuyên, trị giá lớn, có liên quan đến cam kết của NH như L/C, nhờ thu. Nhiều NH không thể bán ngoại tệ cho khách hàng theo tỷ giá niêm yết, buộc khách hàng mua USD thông qua EUR để hợp lý hoá việc chênh lệch tỷ giá. Các doanh nghiệp không chấp nhận được mức tỷ giá VNĐ/USD cao đột biến dao động từ 17.500 đến 18.500 nên không đồng ý mua ngoại tệ để thanh toán dù đã nhận chứng từ hoặc chứng từ phù hợp nhưng không chịu nhận để NH thanh toán cho nước ngoài bởi nếu mua ngoại tệ với tỷ giá đó hàng nhập về sẽ bị lỗ. Một bên doanh nghiệp không thể mua ngoại tệ tỷ giá cao, một bên NH không thể bán ngoại tệ theo tỷ giá công bố nên nhiều bộ chứng từ đã tồn đọng ở NH vài tuần không được xử lý ảnh hưởng lớn đến uy tín của NH. 2.2.2.4. Rủi ro pháp lý: Cơ sở để thực hiện hoạt động TTQT của các NHTM Việt Nam cũng như các nước trên thế giới trước hết phải dựa vào các văn bản pháp lý mang tính quốc tế. Các quy tắc và văn bản hướng dẫn thực hiện liên quan đến TTQT do ICC phát hành là văn bản pháp lý quốc tế mà các nước thường lựa chọn để điều chỉnh nhất trong giao dịch quốc tế. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có môi trường pháp lý và luật pháp khác nhau nên ở từng nước, giao dịch TTQT còn bị điều chỉnh và chi phối bởi hệ thống pháp luật quốc gia. Mức độ vận dụng các tập quán quốc tế vào thực tiễn của từng nước lại rất khác nhau, phụ thuộc vào hệ thống pháp luật nước đó. Luật quốc gia thuờng tôn trọng và ít khi đối đầu với thông lệ quốc tế nhưng không phải không có mâu thuẫn. Nếu có sự khác biệt, thậm chí đối nghịch thì luật quốc gia thường được tôn trọng. Ở Việt Nam hiện nay chưa có luật quy định chặt chẽ về TTQT nói chung và phương thức tín dụng chứng từ nói riêng nên trong nhiều trường hợp doanh nghiệp và các NHTM Việt Nam gặp phải rủi ro do xung đột pháp lý. Nếu căn cứ theo UCP thì NH sẽ phải thanh toán cho phía nước ngoài nhưng các cơ quan pháp luật trong nước thì lại không cho trả tiền. Đã từng có thời kỳ một số NHTM theo lệnh của các cơ quan trong nước không trả tiền và gây hậu quả là cả hệ thống NHTM Việt Nam bị mất uy tín, xếp loại kém trong TTQT. Trong trường hợp khác, để đảm bảo đúng cam kết và giữ uy tín của mình, NH ở Việt Nam vẫn thanh toán cho phía NH bạn và bị quy kết là cố ý làm trái và phải gánh chịu phiền phức. Luật pháp một số nước như Đức, Trung Quốc, cho phép toà án áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm sự công bằng trong TTQT, bất kể quyết định đó trái ngược với thông lệ quốc tế. Chính điều này đã dẫn tới xung đột pháp luật trong quá trình tiến hành các giao dịch thanh toán L/C mà thiệt hại có thể xảy ra cho các bên. Một ví dụ điển hình là Công ty lương thực xuất khẩu gạo cho một khách hàng Đức thanh toán bằng L/C do NH Đức phát hành. Khách hàng lập bộ chứng từ hoàn hảo và xuất trình tại chi nhánh của NHNT và chi nhánh đã tiến hành chiết khấu chứng từ cho khách theo uỷ quyền của NH phát hành. Khi nhận được bộ chứng từ hoàn hảo và chuẩn bị thanh toán cho Việt Nam thì NH Đức nhận được lệnh của toà án giam giữ toàn bộ số tiền của L/C này để giải quyết nợ cũ của công ty bên Đức. NH Đức trả lời chi nhánh NHNT rằng họ không thể làm khác được vì đây là phán quyết của toà án quốc gia. Hậu quả là Công ty lương thực không thu được tiền hàng từ phía khách hàng nước ngoài và phải hoàn lại tiền cho chi nhánh NHNT theo cam kết chiết khấu có truy đòi. Khi đó chi nhánh NHNT phải đứng ra thu xếp với NH nước ngoài để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình. Cho đến nay, việc thanh toán L/C này đã được hai bên thương lượng và giải quyết mà không phụ thuộc vào các điều khoản của L/C. 2.2.2.5. Rủi ro đạo đức: Rủi ro đạo đức trong phương thức thanh toán nhờ thu thường thể hiện dưới hình thức chây ì kéo dài thời gian thanh toán hoặc NH nhờ thu cố tình thực hiện sai chỉ thị thanh toán nhờ thu hoặc có sự câu kết giữa người nhập khẩu với NH gây tổn thất cho người xuất khẩu trong nước và NH phía Việt Nam. Trong thời gian qua, có nhiều doanh nghiệp Việt Nam xuất hàng theo phương thức thanh toán D/A đã bị NH nước ngoài chiếm dụng vốn trong thời gian khá dài. Mặc dù người xuất khẩu đã chấp nhận thanh toán và NH Việt Nam đã chiết khấu bộ chứng từ nhưng đến ngày đáo hạn người nhập khẩu không thanh toán mà thường kéo dài một vài tháng sau mới trả tiền làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động thanh toán của các NHTM Việt Nam. Trong phương thức thanh toán L/C, việc thanh toán chỉ căn cứ trên chứng từ mà không căn cứ vào thực tế hàng hoá được giao nên nhiều người xuất khẩu đã lợi dụng khe hở này để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người nhập khẩu và NH Việt Nam. Khi người xuất khẩu không giao hàng hoặc cố ý giao hàng không đúng số lượng và quy cách phẩm chất như hợp đồng đã ký nhưng lại xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo thì NH phát hành ở Việt Nam buộc phải thanh toán. Người nhập khẩu chỉ có thể kiện người bán trên cơ sở hợp đồng thương mại chứ không thể từ chối thanh toán L/C và NH chỉ có thể đình chỉ việc thanh toán khi có phán quyết của toà án hoặc các cơ quan pháp luật sở tại. Trong thực tiễn hoạt động TTQT, các NH đã gặp khá nhiều trường hợp giả mạo chứng từ khiến cho cả doanh nghiệp và NH mất rất nhiều công sức và thời gian theo kiện tại toà mới bảo vệ được quyền lợi của người nhập khẩu Việt Nam cũng như uy tín của mình trong TTQT. Về phía người nhập khẩu Việt Nam, nhiều khi do chỉ quan tâm đến lợi trước mắt nên không chịu giữ chữ tín để còn quan hệ kinh doanh lâu dài nên họ cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với NH phát hành L/C. Do không dự đoán được biến động của thị trường nên khi hàng hoá nhập về đến Việt Nam, giá cả hàng hoá có xu hướng hạ xuống, họ lại muốn NH tìm mọi cách để trì hoãn thanh toán, gây sức ép yêu cầu NH phát hành cố tìm bất đồng của bộ chứng từ nhằm gây sức ép với công ty nước ngoài để họ phải giảm giá, thậm chí nhiều doanh nghiệp còn từ chối thanh toán và không chịu nhận hàng ngay cả khi hàng hoá đã được giao đúng phẩm chất, quy cách, đầy đủ về số lượng và bộ chứng từ xuất trình hoàn toàn phù hợp. Trong nghiệp vụ bảo lãnh L/C trả chậm, do chưa phải thanh toán ngay với nước ngoài, các doanh nghiệp nhập khẩu có tâm lý xem thường việc quản lý tiêu thụ hàng hoá hoặc khi tiêu thụ được hàng song chưa đến hạn phải thanh toán, doanh nghiệp lợi dụng vốn để kinh doanh mặt hàng khác mong kiếm lời cao mà không tính đến thời hạn và nghĩa vụ thanh toán. Rủi ro thường gặp đối với L/C xuất khẩu là bị NH nước ngoài cố tình trì hoãn thanh toán, hoặc người nhập khẩu và NH phát hành cố tình bắt lỗi những sai sót không hợp lý tạo điều kiện cho người mua nước ngoài ép người bán Việt Nam phải giảm giá hàng. Đó cũng là rủi ro về đạo đức của NH phát hành. Ngoài ra, có trường hợp khách hàng mang L/C thật nhưng đã đòi tiền rồi đến NH xin chiết khấu. Do một sơ suất nào đó, NH thông báo đã không thu hồi lại L/C gốc của đơn vị khi đòi tiền NH nước ngoài nên nếu không kiểm tra lại phía NH thông báo thì sẽ phát sinh rủi ro cho NH. 2.2.2.6. Rủi ro công nghệ: Công nghệ là một vấn đề nan giải hiện nay của tất cả các NHTM. Công nghệ góp phần làm tăng hiệu quả làm việc, tăng sức cạnh tranh, đảm bảo độ an toàn chính xác cho các giao dịch. Riêng trong TTQT, hiện nay phần mềm còn nhiều trục trặc phải cải tiến. Có nhiều điện do chi nhánh lập ra nhưng Hội sở chính lại không nhận được hoặc lưu lại trên hệ thống nhiều ngày gây ảnh hưởng đến hoạt động của NH và các doanh nghiệp. Vì thế, giữa Hội sở chính và chi nhánh của các NH mất nhiều chi phí điện thoại cho việc xác nhận tổng số điện chi nhánh gửi lên và số điện Hội sở chính nhận được. Nếu không làm vậy thì có thể sẽ dẫn đến tình trạng những điện mở, sửa đổi L/C, thanh toán L/C hay nhờ thu, điện chuyển tiền của chi nhánh không kịp thời gửi đi trong ngày trong khi chi nhánh vẫn yên tâm là Hội sở chính đã nhận được. Hậu quả là L/C đến NH nước ngoài và người hưởng lợi chậm khiến cho người hưởng lợi không giao hàng đúng tiến độ đã cam kết trong hợp đồng, cũng có thể giá hàng hoá biến động người hưởng lợi không muốn giao hàng; tiền thanh toán chậm cho người hưởng lợi, NH nước ngoài sẽ phạt lãi chậm trả và NH trong nước bị mất uy tín. Việc xử lý điện khi nhận điện đến cần có một sự cẩn trọng thích đáng, do những lý do kỹ thuật mà các bức điện có thể bị trùng hai lần, nếu không có chế độ kiểm soát chặt chẽ rất có thể các chi nhánh sẽ chi trả thừa tiền cho khách hàng, điều này đã từng xảy ra ở nhiều chi nhánh NHNT khi tiếp nhận điện. Cũng có trường hợp do trục trặc hệ thống mạng và đường truyền, chi nhánh phải fax điện chuyển tiền, L/C để Hội sở chính đánh lại, điều này không đảm bảo tính chính xác và an toàn trong quá trình mở, thanh toán L/C, nhờ thu và chuyển tiền. Nếu không chi nhánh phải để lại công việc đó đến hôm sau mới giải quyết khiến cho L/C chậm mở, tiền hàng chậm thanh toán ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của NH và có thể bị khách hàng khiếu nại. 2.2.2.7. Rủi ro ngân hàng đại lý: So với các NHTM khác trong nước, lượng NH nước ngoài liên kết với NHNT nhiều hơn song các quan hệ với các NH đại lý nước ngoài chưa thực sự phát triển. NHNT cũng phải đối mặt với rủi ro trong quan hệ đại lý. Khi mở L/C, NH luôn chọn NH thông báo là NH đại lý của mình, nhưng đôi khi theo sự thoả thuận trên hợp đồng, NH thông báo được chỉ định không phải là NH đại lý với NH Việt Nam nên việc thông báo sẽ phải chuyển tiếp qua 2 NH (NH đại lý và NH thông báo thứ nhất), từ đó NH thương lượng thường sẽ là NH thông báo thứ hai. Điều này có nhiều bất lợi trong thanh toán hoặc sẽ thiếu độ tin cậy về bộ chứng từ giao hàng khi xuất trình tại một NH ít quan hệ quen biết. Các L/C chỉ định NH thông báo như vậy thường là đối với các giao dịch nhập khẩu từ các nước Đông Âu, Tây Âu, Trung Á, Châu Úc nơi mà mạng lưới ngân hàng đại lý của NHNT còn mỏng. 2.2.2.8. Rủi ro khác: Bên cạnh đó, hoạt động TTQT còn có thể gặp những rủi ro khác như về chính trị, kinh tế, chính sách đối ngoại khiến cho người xuất khẩu có thể không nhận được tiền hàng hoặc người nhập khẩu không nhận được hàng hoá. Một biến động nhỏ trong cơ chế quản lý kinh tế, chính trị sẽ ảnh hưởng đến khả năng và sự sẵn sàng thực hiện các cam kết của các bên, làm cho quá trình thanh toán bị ngưng trệ, thậm chí bị huỷ bỏ, gây thiệt hại cho các bên. 2.2.3. Nguyên nhân gây nên rủi ro - mất an toàn trong hoạt động thanh toán quốc tế: 2.2.3.1. Nguyên nhân khách quan: Từ phía Nhà nước Hành lang pháp lý cho hoạt đông TTQT còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ. Mặc dù đã có luật Ngân hàng, nhưng các Nghị định của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn thực hiện chậm được đưa ra. Hơn nữa, chúng ta chưa có văn bản pháp quy công nhận và hướng dẫn việc áp dụng các thông lệ quốc tế vào Việt Nam cũng như chưa có một quy chế riêng, văn bản pháp lý hướng dẫn thực hiện giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên khi xảy ra tranh chấp. Chính sách thương mại không ổn định, các văn bản quy định về công tác xuất nhập khẩu, thuế quan thay đổi thường xuyên gây khó khăn cho NH và doanh nghiệp. Có những mặt hàng năm nay cho phép nhập, nhưng năm sau lại không cho phép nhập nữa làm cho các doanh nghiệp đã ký. Thị trường ngoại tệ chưa phát triển, tỷ giá ngoại tệ mạnh không ổn định. Hiên nay, Việt Nam mới chỉ có thị trường ngoại tệ liên NH, hoạt động của thị trường này còn kém sôi động, nghiệp vụ còn giản đơn và chủ yếu là mua bán giao ngay, chưa phát triển các nghiệp vụ như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hoán đổi tiền tệ, quyền mua, quyền bán là những công cụ chủ yếu để hạn chế rủi ro về tỷ giá cho doanh nghiệp và NHTM Việt Nam. Quy chế cầm cố, thế chấp, bảo lãnh tài sản vay vốn NH còn nhiều vướng mắc. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, Luật Doanh nghiệp chỉ quy định doanh nghiệp Nhà nước được quyền dùng tài sản Nhà nước để thế chấp, song chưa có quy định về việc xử lý những tài sản này để thu hồi nợ, vì thế gây khó khăn cho NH. Hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước được thành lập lâu năm, tài sản cố định lạc hậu và đã khấu hao gần hết và giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp Nhà nước quá nhỏ so với nhu cầu vay vốn. Vì vây, các NH vẫn chủ yếu cho vay tín chấp đối với doanh nghiệp Nhà nước. Đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoặc hộ cá thể, việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất hiện nay rất chậm. Khi khách hàng mất khả năng thanh toán, không trả được nợ cho NH thì việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ còn gặp nhiều khó khăn. Thông tin tín dụng chưa đầy đủ. Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của NHNN cung cấp số liệu thiếu cập nhật, thiếu tính đầy đủ và chính xác. Sự phối kết hợp giữa các NHTM còn hạn chế trong việc cung cấp thông tin, do vậy tạo kẽ hở cho khách hàng lợi dụng để xin bảo lãnh và vay vốn nhiều nơi; pháp lệnh kế toán thống kê chưa đủ hiệu lực buộc các doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán thống kê chính xác, kịp thời. Do chưa thực hiện chế độ kiểm soát bắt buộc nên số liệu quyết toán và báo cáo tài chính không phản ánh chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp, mà đây lại là một trong những căn cứ để NH quyết định bảo lãnh cho doanh nghiệp. Từ phía khách hàng: Thiếu thông tin và thiếu các mối quan hệ với đối tác nước ngoài là một nguyên nhân khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam không lựa chọn được những khách hàng tốt, có tín nhiệm trong quan hệ thương mại quốc tế. Vì vậy, sau khi xảy ra rủi ro, mới nhờ các cơ quan chức năng xác minh tư cách các đối tác nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong công tác tiếp cận thị trường, thiếu thị trường xuất khẩu và đói thông tin, chưa tìm được bạn hàng lớn, tin cậy, có quan hệ thanh toán sòng phẳng dẫn tới bị phía nước ngoài ép giá, bắt bí hoặc bị lừa đảo. Do trình độ nghiệp vụ còn yếu kém, làm việc theo cảm tính và thiếu nhạy bén trong kinh doanh. Nhiều giám đốc và cán bộ chủ chốt trong các doanh nghiệp này chưa sử dụng thành thạo ngoại ngữ, trình độ nghiệp vụ ngoại thương, hiểu biết về tập quán quốc tế còn non yếu nên dễ dẫn đến những sơ suất khi ký kết hợp đồng ngoại thương. Ngoài ra còn là sự yếu kém trong khâu quản lý, điều hành nguồn vốn, điều hành sản xuất. Sự thiếu trung thực của các khách hàng Việt Nam. Một số khách hàng vì lợi ích trước mắt mà đã vi phạm những cam kết với NH. Hàng hoá

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc1863.doc