Khóa luận Tổ chức khai thác và sử dụng nguồn tạp chí tại Trung tâm Thông tin Tư liệu khoa học và Công nghệ

Tổ chức kho tài liệu tự chọn là hệ thống phục vụ cho phép người đọc trực tiếp vào kho lấy những tài liêụ mà họ cần. Kho tài liệu tự chọn được áp dụng đầu tiên vào những năm 70 của thế kỷ XIX ở Mỹ và sau đó là ở các nước khác. Mỗi kho sách tự chọn được áp dụng chủ yếu trong các thư viện khoa học, sau đó là trong các thư viện công cộng. Kho sách tự chọn là hệ thống phù hợp nhất với trình độ văn hoá cao của người đọc. Kho sách tự chọn tạo điều kiện cho việc phục vụ có phân biệt người đọc với hứng thó, yêu cầu, trình độ và mức độ đọc rộng của người đọc.

doc52 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 13/01/2014 | Lượt xem: 938 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khóa luận Tổ chức khai thác và sử dụng nguồn tạp chí tại Trung tâm Thông tin Tư liệu khoa học và Công nghệ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
00 tên tạp chí, bạn đọc sử dụng nhiều với các số tạp chí của 3 năm mới nhất. Kho kín lưu giữ hơn 6000 tên với khoảng 2.550.000 sè. Kho dự trữ lưu giữ trên 700 tên loại những năm cũ Ýt người sử dụng với khoảng 42.000 sè. Kho phim lưu giữ 1000 tạp chí dưới dạng vi phim của Trung tâm. Công tác bảo quản hiện nay chủ yếu vẫn là thủ công truyền thống. Tạp chí được bảo quản trên kho có 2 loại, một loại là nhiều số tạp chí được đóng thành tập theo năm, một loại là từng số dời được xếp theo từng năm và xếp vào giá kệ theo ký hiệu kho. Khí hậu nóng Èm cùng với thời gian làm nhiều tạp chí háng, mục, rách nát... Hiện nay có khoảng 10.000 cuốn rách lề, bìa mục nát vì mối mọt... với khoảng 200 cuốn đang bị thất lạc, ảnh hưởng nhiều đến công tác bảo quản còng nh­ hiệu quả sử dụng tài liệu. Kho vi phim được trang bị máy điều hoà nhiệt độ nhưng do đã có một thời gian dài không được bảo quản đúng tiêu chuẩn nên các tấm phim đã hư háng nhiều, phần lớn bị mốc, dính, rách... Vì điều kiện kỹ thuật nên vấn đề đảm bảo điều kiện không khí cho bảo quản phim chưa thực hiện nên cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng. Hơn nữa, với thực trạng là tạp chí hàng năm vẫn đecj bổ sung đều đặn, ngoài những tên đã có chỉ mua số mới, còn có loại là tên mới được bổ sung nhưng diện tích kho không thay đổi dẫn đến hiện tượng quá taỉ của kho, ảnh hưởng nhiều đến công tác bảo quản cũng như phục vụ hàng ngày. Hiện nay, kho đang bảo quản một số lượng lớn tạp chí nhiều năm cũ, có những tên có từ năm 1920, còn có nhiều tên có từ năm 1960, 1970. Theo thống kê, hiện nay kho đang quản lý các tạp chí theo các năm nh­ sau: Từ những năm 1980 trở lại đây: khoảng hơn 400 tên. Từ những năm 1970- 1979 khoảng 3200 tên. Từ những năm 1960 trở về trước khoảng 3000 tên. Ngoài ra còn có một số tạp chí có từ những năm 1920. Nhìn chung cách sắp xếp, tổ chức kho còn nhiều bất cập chưa thuận tiện cho việc tìm kiếm và bảo quản. 2.2 Công tác tổ chức kho tạp chí. Tổ chức vốn tài liệu, xét về phương diện tổng thể, chỉ là một khâu trong quy trình hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan thông tin, thư viện, lưu trữ, song lại có vai trò hết sức quan trọng. Cùng với những tiềm năng về nhân lực, vật lực, tổ chức vốn tài liệu hợp lý chẳng những nâng cao uy tín chất lượng hoạt động mà còn quyết định sự tồn tại và phát triển của Thư viện. Một thư viện có quy mô càng lớn, vốn tài liệu phong phú, đa dạng thì việc tổ chức tài liệu lại càng phải khoa học, hợp lý. Ngày nay cùng với sự phát triển của văn hoá, khoa học, công nghệ, sách báo và các vật mang tin khác ngày càng tăng nhanh, càng phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức. Để rút ngắn khoảng cách không gian và thời gian cho người đọc, người dùng tin, các thư viện phải tìm ra phương pháp tốt nhất cho họ có thể nhanh chóng tiếp cận được những thông tin cần thiết nhất phục vụ cho công tác nghiên cứu, lãnh đạo, giảng dạy, học tập và nghiên cứu sản xuất. Mét kho tài liệu nói chung và kho tạp chí nói riềng được coi là tổ chức sắp xếp khoa học phải đạt được các yêu cầu sau: Phải dễ tìm, dễ thấy, dex lấy, dễ bảo quản. Đảm bảo thông tin đến với người đọc nhanh nhất, chính xác nhất và kịp thời nhất. Tiết kiệm được diện tích kho. Về lí luận còng nh­ trong thực tiễn có nhiều cáchtổ chức, sắp xếp vốn tài liệu Thư viẹn. Tổ chức theo loại hình tài liệu. Tổ chức theo thời gian (thời gian xuất bản, thời gian nhập tài liệu vào thư viện). Theo ngôn ngữ tài liệu (Tiếng Anh, Nga, Pháp...). Theo kích thước tài liệu (khổ đại, khổ vừa, khổ nhỏ). Theo số đăng kí cá biệt (theo môn loại). Tuy nhiên những cách phân chia trên đây chỉ là tương đối. Bởi lẻ bất cứ một cơ quan thư viện nào cũng phối hợp nhiều hình thức tổ chức chính. Kho tài liệu tạp chí là kho tài liệu đặc trưng của các thư viện, nên cách tổ chức, sắp xếp tài liệu ở đây cũng mang tính đặc thù. Bởi vì, tạp chí cũng giống nh­ các tài liệu tham khảo tra cứu khác, là loại nguồn tin giá trị, cần thiết thường xuyên cho người đọc, người dùng tin nghiên cứu, khai thác những vấn đề lịch sử, chính trị... Tóm lại, có nhiều hìnht hức tổ chức vốn tài liệu thư viện. Nhưng tựu chung lại có 2 cách tổ chức, sắp xếp tài liệu cơ bản là: Tổ chức sắp xếp tài liệu theo dạng kho kín và Tổ chức sắp xếp tài liệu theo dạng kho mở. -Tổ chức theo kho kín là các tài liệu được tổ chức theo mét kho độc lập, tách biệt với người đọc. Bạn đọc muốn tìm kiếm khai thác, sử dụng tài liệu thư viện nhất thiết phải thông qua bộ máy tra cưú thư mục (hệ thống mục lục truyền thống và hiện đại) và các cán bộ của thư viện. Tổ chức tài liệu theo dạng kho mở là người đọc có thể trực tiếp tìm kiếm tài liệu trong kho của thư viện. 2.2.1 Kho đóng. Đa số các kho tài liệu - đặc biệt ở Việt Nam, đều được tổ chức theo dạng kho đóng. Nghĩa là tài liệu được tổ chức theo mét kho riêng biệt, người đọc không được phép trực tiếp tìm kiếm tài liệu trong kho thư viện. Người đọc muốn khai thác, sử dụng tài liệu thư viện nói chung, tạp chí nói riêng, trước hết phải thông qua hệ thống tra cứu thư mục: các mục lục, các bản thư mục, hộp phích chuyên đề, tìm kiếm những thông tin thư mục của tài liệu, ghi phiếu yêu cầu và mượn tài liệu thông qua cán bộ thư viện. Phương pháp tổ chức tài liệu theo dạng kho đóng được nhiều cơ quan Thông tin – Thư viện, lưu trữ áp dụng vì phương pháp này có những ưu điểm sau: Với thư viện: Có thể quản lý tài liệu đựoc chặt chẽ, Ýt mất mát, kho tài liệu Ýt bị xáo trộn. Với người đọc: Bộ máy tra cứu thư mục là hình ảnh thu nhỏ của các kho tài liệu thư viện. Với những loại hình thư mục, mục lục phong phú đa dạng, bộ máy tra cứu thư mục phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau của tài liệu và có thể nhanh chóng tìm kiếm tài liệu khi chỉ cần biết một trong những thông tin về tài liệu. Tuy nhiên phương pháp tổ chức vốn tài liệu theo dạng kho kín chứa đựng những hạn chế nhất định. Người đọc không được trực tiếp tiếp xúc ngay với tài liệu. Họ phải mất một khoảng thời gian để tra tìm tài liệu trong hệ thống mục lục, thư mục, phải chờ đợi để mượn tài liệu mà trong thời đại CNH- HĐH hiện nay thì “thời gian là vàng bạc” . Cán bộ thư viện phải vất vả khi trực tiếp, thường xuyên tìm và lấy tài liệu phục vụ người đọc. *Tổ chức tài liệu tạp chí theo hình thức kho đóng. Vì tạp chí là một loại hình đặc thù nên trong cách sắp xếp kho cũng có những nét riêng. Trong kho tài liệu dạng kín, tài liệu được sắp xếp theo nguyên tắc loại hình tài liệu- ngôn ngữ- khổ tài liệu- thứ tự đăng ký cá biệt. Các nguyên tắc được xen kẽ nhau trong tổ chức vốn tài liệu tạp chí. Với diện tích kho kín(Tài liệu tạp chí) của Trung tâm là 4 tầng (tổng khoảng 800m) lưu giữ hơn 6000 tên với khoảng 2.550.000 quyển. Ngoài ra còn có kho dự trữ 180m, lưu giữ 700 tên những năm cũ Ýt người sử dụng với khoảng 42.000 quyển. Kho phim lưu giữ toàn bộ tạp chí dưới dạng vi phim của Trung tâm. Tạp chí được xếp theo 2 cách: + Cách 1: Là từng quyển (số) dời, được xếp theo từng năm và xếp vào giá kệ theo kí hiệu kho. + Cách 2: Là nhiều số tạp chí được đóng thành quyển (tập) dầy, thường là theo quý, nửa năm hoặc một năm tuỳ theo độ dày, mỏng của quyển tạp chí, rồi cũng được xếp lên giá theo kí hiệu kho. Tóm lại tổ chức tài liệu tạp chí theo hình thức kho đóng có nhiều ưu điểm nhưng bên cạnh đó cũng cónhiều hạn chế nhất định, nhất là không tiết kiệm được thời gian lấy tài liệu cho người đọc. Trong thực tế bạn đọc phải chờ đợii từ 15- 20 phót mới có tài liệu mình cần. Vì thế hiện nay người ta quan tâm nhiều đến phương pháp tổ chức kho tài liệu theo hình thức kho mở (kho tự chọn). Có thể nói rằng kho tự chọn là hình thức tổ chưc khá phổ biến hiện nay trong các thư viện nhất là ở các nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Nga... và nó là xu thế chung của thời đại. 2.2.2 Kho mở (tự chọn). Tổ chức kho tài liệu tự chọn là hệ thống phục vụ cho phép người đọc trực tiếp vào kho lấy những tài liêụ mà họ cần. Kho tài liệu tự chọn được áp dụng đầu tiên vào những năm 70 của thế kỷ XIX ở Mỹ và sau đó là ở các nước khác. Mỗi kho sách tự chọn được áp dụng chủ yếu trong các thư viện khoa học, sau đó là trong các thư viện công cộng. Kho sách tự chọn là hệ thống phù hợp nhất với trình độ văn hoá cao của người đọc. Kho sách tự chọn tạo điều kiện cho việc phục vụ có phân biệt người đọc với hứng thó, yêu cầu, trình độ và mức độ đọc rộng của người đọc. Phương pháp tổ chức kho tài liệu tự chọn được áp dụng rộng rãi do có những ưu điểm: Bạn đọc tự tìm lấy sách trên giá, nếu không thấy sách cần tìm có thể thay thế những sách khác tương tự khi xem xét ngay trên giá. Do vậy việc chọn tài liệu chính xác hơn. Cán bộ thư viện đỡ vất vả hơn do không phải trực tiếp phục vụ bạn đọc. Tuy nhiên việc tổ chức kho tài liệu tự chọn còn có những nhược điểm sau: Phải cần diện tích rộng hơn để giá tủ vì cần phải có lối đi rộng rãi giữa các giá để bạn đọc dễ dàng đi lại, lùa chọn tài liệu thường là 60cm. Nhiều thư viện còn để một số ghế giữa lối đi các giá để bạn đọc ngồi chọn tài liệu (do phải xem xét nội dung tài liệu nên khá lâu). Tài liệu trên giá, sau khi bạn đọc sử dụng, sẽ bị lộn xộn do không để lại tài liệu đúng chỗ quy định của chúng trên giá. Đây là một thực tế rõ ràng, nhiều bạn đọc lấy tài liệu để xem thì sau đó quên mất vị trí của chúng trên giá hoặc do ý thức chưa cao cứ đặt bừa tài liệu lên bất kì vị trí nào cho xong. Do đó ảnh hưởng lơn stới việc phục vụ bạn đọc những ngày hôm sau vì họ không tìm thấy các tài liệu mà mình cần ở vị trí quy định cho chóng. Tuy nhiên điều này cũng đang dần được quan tâm đúng mức, ở các thư viện lớn của Việt Nam nói chung và ở Trng tâm TTTLKH&CNQG nói riêng- khi độc giả dùng xong tài liệu để vào vị trí( trên bàn) cho thủ thư xếp lên giá, đó cũng là một biện pháp hữu hiệu để không gây xáo trộn tài liệu. Dễ mất tài liệu, kho tư liệu càng lớn, các giá kệ trong kho càng nhiều sẽ hạn chế tầm kiểm soát của các cán bộ Thư viện, vì vậy một số bạn đọc”xấu”dễ lấy tài liệu ra khái kho. ở một số thư viện đã bố trí hệ thống gương, camera để theo dõi. Một số khác lại dùng báo động từ trường mà theo đó mỗi tài liệu được gắn một dây từ nếu tài liệu đó được lấy ra ngoài một cách bất hợp pháp qua cửa có thiết bị dò, cổng từ thì lập tức sẽ được báo động. Mặc dù có những nhược điểm lớn như vậy nhưng cách tổ chức kho mở vẫn được ứng dụng rộng rãi trong công tác thư viện vì hiệu qủa của nó trong phục vụ bạn đọc là khá lớn, vì đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của bạn đọc, vì bạn đọc có khả năng và có quyềnh quyết định những tài liệu nào thoả mãn được yêu cầu của họ. *Tổ chức sắp xếp tài liệu tạp chí theo hình thức kho mở. Phòng Tạp chí của Trung tâm TTTLKH&CNQG do diện tích kho có hạn nên hiện nay kho mở tạp chí mới bày được 500/1000 tên tạp chí vẫn tiếp tục về những năm mới nhất. Có thể bày được toàn bộ các tạp chí mới bởi vì việc tra cứu trong tủ mục lục cũng như trong CSDL để tìm tạp chí mới cũng là vấn đề không thuận lợi cho bạn đọc (khác với việc tìm sách thuận lợi hơn nhiều, vì vậy có thể nhiều tên tạp chí hay có trong kho mà bạn đọc không biết). Hằng năm, chúng ta tốn khá nhiều tiền bạc (nhất là ngoại tệ) và thời gian, công sức để mua được một tên tạp chí, vì vậy tổ chức nh­ thế nào để giới thiệu tất cả những tên tạp chí mới cho bạn đọc thiết nghĩ cũng là điều đáng làm. Tạp chí được phân loại theo chủ đề. Một số chủ đề thường được bạn đọc quan tâm thì được bày ở kho này, nh­ các chủ đề sau: B. Các KHTN nói chung, Môi trường C. Khoa học Toán, Lý, Thiên văn D. Hoá học Đ. Khoa học trái đất E. Sinh học Ê. KHKT nói chung, Công nghệ sinh học F. Năng lượng, Vô tuyến điện tử, Công nghệ thông tin G. Má H. CN kim loại, chế tạo máy I.CN hoá học, Công nghệ thực phẩm J. CN nhẹ K. Xây dựng, Kiến trúc L. Giao thông vận tải M. Nông lâm ngư nghiệp N. Y học Q. Kinh tế quản lý Z. Tài liệu tổng hợp Sắp xếp theo phân loại - chữ cái các tài liệu trong kho tự chọn giúp bạn đọc có thể tìm được nhanh chóng trên giá những tài liệu mà mình cần. Nếu những tài liệu đó không có thì không cần tra cứu mục lục và có thể chọn những tài liệu khác cũng gần nội dung ngay trên giá. 2.3 Khai thác và sử dụng nguồn tạp chí. 2.3.1 Xây dựng và quản trị nguồn tạp chí. Để xây dựng có hiệu quả nguồn tạp chí,, Trung tâm đã thực hiện nhiều hình thức xử lý và tổ chức bảo quản tạp chí. *Xử lí truyền thống: Tạp chí sau khi nhận từ các nguồn về được xử lí theo nghiệp vụ thư viện như đăng ký tổng quát, đăng kí cá biệt, sắp xếp tạp chí vào các vị trí kho, cập nhật số liệu vào mục lục tra cứu, lập phiếu mục lục mới đối với tên tạp chí mới... Đây là hình thức truyền thống nhưng đến nay Trung tâm vẫn duy trì vì chưa thể tin học hoá một cách hoàn toàn các khâu xử lý, bảo quản và phục vụ. *Xử lí điện tử: Được thực hiện từ những năm 1990 trở lại đây. Tạp chí nhận về, sau khi xử lí truyền thống, các số liệu tạp chí mới được cập nhật vào các cơ sở dữ liệu. CSDL Tên tạp chí: Cập nhật các số tạp chí mới về (đã có tên trong CSDL), hoặc nhập tên tạp chí mới vào biểu ghi mới. CSDL Trang mục lục từng số tạp chí: Dùng máy quét (Scanner) quét từng trang mục lục của từng số tạp chí mới. CSDL Tần số sử dụng: Nhập dữ liệu bạn đọc tạp chí hàng ngày qua phiếu yêu cầu. CSDL Mục lục liên hợp: Nhập số tạp chí mới và tên tạp chí mới của các cơ quan có trong CSDL. CSDL Thư mục bài tạp chí (SCIENTEC và STD): Nhập dữ liệu mô tả từng bài tạp chí. 2.3.2 Công tác phục vụ khai thác tìm tin. Trung tâm được hình thành trrên cơ sở hợp nhất Thư viện KHKT TW và Viện Thông tin KHKT TW, cùng với sự phát triển và lớn mạnh của mình, các hình thức phục vụ yêu cầu tin nói chung và nhu cầu tìm tin trong tạp chí nói riêng cũng ngày càng phong phú và đa dạng, bên cạnh các hình thức truyền thống, các loại hình thức mới đang ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng tin. Phục vụ tại chỗ: Là hình thức truyền thống được thực hiện từ khi thành lập, cho đến nay vẫn là loại hình phục vụ quan trọng. Người dùng tin có thể đến trực tiếp Phòng Tạp chí, ,tìm tài liệu theo yêu cầu qua tủ phiếu mục lục hoặc tra tìm trên máy tính trong các CSDl. Sau một quá trình tin học hoá thư viện, giê đây ở phòng đọc tạp chí, ngoài việc mượng xem tạp chí, các loại hình Ên phẩm của Trung tâm như các Thông báo thư mục, Bản tin chuyên đề, Tổng quan, Tổng luận... Bạn đọc còn có thể tự khai thác trên máy tính và tiếp cận với các CSDL về tạp chí do TRung tâm xây dựng, truy cập vào các mạng thông tin khác của Việt Nam và khai thác tài liệu trên mạng Internet. Phòng cũng được trang bị máy Photocopy để sao chụp tài liệu tại chỗ phục vụ bạn đọc.Lượng bạn đọc trung bình hiện nay 70- 80 người/ ngày. Kho mở tự chọn của phòng được xây dựng và trang bị tương đối hiện đại, đủ chỗ ngồi cho khoảng 50 bạn đọc cùng lúc, bảo đảm ánh sáng, yên tĩnh và thoáng mát cho người dùng tin đến khai thác, tìm tin. Tài liệu dưới dạng vi phim cũng thường xuyên được bạn đọc quan tâm khai thác, sử dụng(trung bình 3 lượt/ngày). Tuy nhiên việc đọc vi phim cũng có nhiều hạn chế vì khó đọc được lâu, hiện tại phòng chỉ còn một máy đọc, máy chụp từ phim ra giấy không có cũng hạn chế nhiều hiệu quả sử dụng kho phim. Qua thống kê lượt yêu cầu đọc(trong năm 5 từ 1997-2001) các năm của tạp chí, có thể thấy. +Đọc tạp chí các năm 1930- 1939: 20 yêu cầu. + Đọc tạp chí các năm 1940- 1949: 100 yêu cầu. + Đọc tạp chí các năm 1950- 1959: 400 yêu cầu. + Đọc tạp chí các năm 1960- 1969: 2.400 yêu cầu. + Đọc tạp chí các năm 1980- 1989: 6.700 yêu cầu. + Đọc tạp chí các năm 1990- 2002: 9.500 yêu cầu (không tính 3 năm mới nhất bày ở kho mở). Phục vô theo yêu cầu: Cùng với hoạt động chung của Thư viện, phòng tạp chí đã phát triển các hình thức phục vụ mới như phục vụ theo yêu cầu từ xa (khách hàng có thể yêu tin qua điện thoại, Fax, Thư ,điện tử...) hoặc đến thư viện đặt yêu cầu qua phiếu đặt tin... cán bộ của phòng sẽ tìm tin và trả lời trong thời gian sớm nhất. Dịch vô: Trong bối cảnh chung của cơ chế thị trường, hoạt động phục vụ nhu cầu tin tạp chí cũng đã chuyển hướng theo xu thế mới. Các hình thức dịch vụ phục vụ nhu cầu tin đã hình thành và bước đầu phát triển như phục vụ sao chụp tạp chí cho các cơ quan Thông tin Thư viện, các cơ sở sản xuất hoặc khi một đơn vị, các cá nhân có yêu cầu đột xuất về một vấn đề cần quan tâm, phòng cũng đáp ứng tuỳ theo mức độ yêu cầu như tìm tin thư mục, tìm toàn văn hoặc tìm theo chuyên đề... Chương 3 NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TẠP CHÍ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN TƯ LIỆU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA. 3.1 Nhu cầu sử dụng thông tin trong tạp chí tại Trung tâm TTTLKH&CNQG. Phòng Tạp chí thuộc Trung tâm TTTLKH&CNQG, là nơi lưu gữ một lượng lớn tạp chí, Khoa học và Công nghệ của cả nước với vốn tài liệu Khoa học Công nghệ tương đối phong phú, từ lâu đã là đại chỉ tin cậy của các nhà nghiên cứu khoa học, các kỹ sư ở các viện, các Trung tâm nghiên cứu, các giáo sư, các cán bộ giảng dạy ở các trường đại học, sinh viên đại học năm cuối... đến khai thác, sử dụng tài liệu, nhưng trong một vài năm trở lại đây, thành phần bạn đọc đã có những thay đổi. Nếu như cách đây 5- 10 măm, thành phần bạn đọc tạp chí chủ yếu là các cán bộ nghiên cứu, các kỹ sư, cán bộ giảng dạy, một số Ýt là sinh viên... thì vài năm trở lại đây hình thức đã thay đổi khác, thành phần bạn đọc là sinh viên tằng đáng kể và ngày càng trở thành đối tượng phục vụ chủ yếu của phòng tạp chí, số bạn đọc là cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy giảm đi nhiều. Tỷ lệ giữa các thành phần bạn đọc đã thay đổi hẳn, các năm 1994- 1995, cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy luôn chiếm khoảng 60- 70%, cán bộ làm công tác thông tin khoảng 10-12%, còn lại là sinh viên 20%. Sang các năm 1996- 1998, lượng bạn đọc là sinh viên đã tăng đáng kể (40-60%) bạn đọc là cán bộ nghiên cứu giảm, và 3 năm vừa qua phần lớn bạn đọc Thư viện là sinh viên (60-70%). So với những năm trước, thành phần bạn đọc đã phong phú, đa dạng hơn, ngoài bạn đọc là cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, sinh viên, cán bộ làm công tác thông tin, đã có bạn đọc ở các đại phương khác, bạn đọc làm chuyên gia, sinh viên nước ngoài mặc dù không thường xuyên)... Đặc biệt là sinh viên, một lực lượng bạn đọc đông đảo nếu như trước kia chỉ có sinh viên Trường Kiến Trúc, Xây dựng... là chủ yếu thì hiện nay thành phần sinh viên rất đa dạng... Đó là điều đáng mừng vì chứng tỏ nhu cầu, lòng ham mê học tập và nghiên cứu của sinh viên- nguồn nhân lực khoa học công nghệ rất quan trọng và không thể thiếu của công cuộc CNH-HĐH đất nước. Nhưng điều làm chúng ta phải suy nghĩ là cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy giừo đây lại Ýt đến thư viện, mà chính họ là những người đang trực tiếp làm công tác nghiên cứu Khoa học và phát triển công nghệ, là lực lượng nòng cốt quyết định sự phát triển Khoa học và Công nghệ hiện nay. Thông tin là nguồn lực không thể thiếu đối với hoạt động của con người nói chung và đặc biệt là các nhà nghiên cứu, đối với họ thông tin như là nguyên kiệu rất quan trọng và cần thiết cho hoạt động hàng ngày. Có rất nhiều cách để các nhà khoa học nghiên cứu, tra tìm tài liệu, nhưng cũng khônbg thể phủ nhận vai trò thư viện, chỉ có thư viện mới là nơi có đầy đủ các nguồn thông tin, các loại hình tài liệu, các loại hình dịch vụ cung cấp thông tin cần thiết cho người dùng tin. Nhưng qua những số liệu thống kê thực tế của Trung tâm, chúng ta thấy dường như có một số nghịch lý khi mà Khoa học và Công nghệ có những bước tiến như vũ bão, thay đổi từng ngày, từng giê, khi mà tác động của Khoa học và Công nghệ đối với sự tiến triển của xã hội ngày càng lớn, cũng như nhu cầu phát triển của xã hội đòi hỏi Khoa học và Công nghệ phải có những đáp ứng kịp thời, thì các nhà nghiên cứu Khoa học và Công nghệ lại thờ ơ với thư viện. Khoa häc vµ C«ng nghÖ l¹i thê ¬ víi th­ viÖn. Đứng trước thực tế này Trung tâm TTTLKH&CNQG nói chung và phòng tạp chí nói riêng đã thực hiện một cuộc điều tra xã hội với một số bạn đọc đến tìm tạp chí, kết hợp với phỏng vấn một số cán bộ nghiên cứu thường đến phòng đọc tạp chí. Mục đích của điều tra là thu thập thông tin về thành phần người dùng tin có nhu cầu thông tin trong tạp chí, mức độ nhu cầu tin, nội dung thông tin, loại hình thông tin, phương thức phục vụ của Thư viện, chất lượng sản phẩm thông tin, các loại hình dịch vụ để thấy được đặc điểm nhu cầu tin về tạp chí của người dùng tin, những mặt mạnh và yếu của hoạt động đảm bảo thông tin tạp chí hiện nay, từ đó đề ra những giải pháp thích hợp đảm bảo cho công tác phục vụ tìm tin tạp chí có hiệu quả nhất. Theo kết quả của cuộc điều tra (tháng 10-2002) ta có những thông số sau: Chức danh khoa học. Giáo sư chiếm 7%; Phó Giáo sư 8%; Tiến sĩ khoa học 15%; Tiến sĩ 20%; Thạc sĩ 9%; Cử nhân 17%; Kỹ sư 17%; Sinh viên 70%; các thành phần khác 6%. Lĩnh vực hoạt động. Nghiên cứu 90%; Giảng dạy 20%; Sản xuất kinh doanh 20%; Quản lý 10%; Lĩnh vực khác 5%. Ngọại ngữ sử dụng để nghiên cứu tài liệu. 100% bằng Tiếng Anh; 30% đọc được Tiếng Pháp; 50% đọc được Tiếng Nga và 10% đọc được Tiếng khác. Số người có nhu cầu thôn gtin tư liệu nhiều. 100% Lĩnh vực thường được quan tâm. Khoa học cơ bản 38%; Khoa học công nghệ và vật liệu 37%; Hoá học- Công nghệ hoá học 32%; Môi trường- CN môi trường 28%; Năng lượng 5%; Điện tử – tin học 16%; Công nghệ sinh học 20%; Nông lâm ngư nghiệp11%; ,Kiến trúc xây dựng 2%; Giao thông vận tải 2%; CN nhẹ 2%; ,Y dược học 13%; Kinh tế quản lý5%; Tổng hợp 8%. Loại hình tư liệu hay sử dụng. Tạp chí 70%; Bài thư mục 10%; Đề tài, các CSDL 13%; Các Ên phẩm thông tin do Trung tâm sản xuất 8%. Mức độ khai thác tài liệu trên mạng. thường xuyên 27%; Thỉnh thoảng 35%; Sử dụng máy cơ quan 32%; Sử dụng máy gia đình 20%. Hình thức sử dụng tài liệu. Đọc tại chỗ 80%; Hỏi đáp từ xa 15%; Sao chụp 50%. Nhận xét đánh giá chung của người dùng tin về + Vốn tư liệu và thông tin(so với việc thoả mãn nhu cầu tin) tương đối đầy đủ 90%; nghèo nàn 10%. + Hình thức phục vụ thông tin : thuận tiện 90%; chưa thuận tiện 10%. + Chất lượng các sản phẩm thông tin: 80% tốt; chưa tốt 20%. + Phương thức thu lệ phí, giá cả dịch vụ: Hợp lý 80%; chưa hợp lý 20%. + Mức độ đáp ứng yêu cầu về thông tin tư liệu: độ phù hợp 150%- 90%. + Tổ chức thông tin - thư viện chuyên ngành ở các cơ quan, đơn vị có 90%; không có 10%. + Thời gian tham khảo tài liệu ở các thư viện chuyên ngành: thường xuyên 50%; không thường xuyên 50%. + Vốn tư liệu và thông tin của các thư viện chuyên ngành (so với việc đảm bảo nhu cầu tin ): Không đảm bảo 98%; đảm bảo 2%. + Trong vài năm gần đây, thời gian đến thư viện: nhiều hơn 57%; Ýt hơn 43%. + Lý do Ýt đến thư viện: Không có thời gian 90%; Thư viện không đáp ứng được nhu cầu tin 20%; Qua các hình thức tìm tin khác(tra cứu qua mạng 80%; liên hệ từ xa 30%; thư viện cá nhân 20%). Qua những số liệu thống kê trên, có thể thấy. Thông tin là yếu tố cần thiết đối với hoạt động của cán bộ nghiên cứu, đặc biệt là sinh viên(100% có nhu cầu). Thành phần người dùng tin có học hàm, học vị chiếm tỉ lệ không nhỏ. Người đến khai thác thông tin chủ yếu là sinh viên()70%. Tuy vậy, trong số phiếu điều tra thì có tới 43% đến thư viện Ýt hơn trước đây với lý do chính là không có thưòi gian. Với những số liệu thống kê thực tế bạn đọc đến thư viện, cùng với việc tiếp xúc với một số bạn đọc lâu năm, thường xuyên cầu thư viện, về lượng bạn đọc làm công tác nghiên cứu giảm. Ngoài những nguyên nhân đã nêu ở trên và để giải quyết được vấn đề đó, cần phải có sự kết hợp, thống nhất về quan điểm chỉ đạo cũng như công tác quản lý giữa nhiều cấp, nhiều ngành, thì từ góc độ là người đảm bảo thông tin cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chúng ta cũng cần xem xét hoạt động của mình trên mọi phương diện. Về nguồn tư liệu tạp chí: Trong một vài năm gần đây, mặc dù kinh phí chung cho hoạt động thông tin thư viẹn còn hạn hẹp, song thư viện cũng đã được quan tâm đúng mức để đầu tư mua tài liệu, trang thiết bị kỹt thuật... Hằng năm ngoài số tiền gần 500.000 $ do nhà nước cấp, Thư viện đã duy trì và phát triển quan hệ trai đổi nhạn tặng với hơn 50 đối tác ở 30 nước trên thế giớo, như tổ chức SAREC của Thuỵ Điển, tổ chức FAO của Liên Hợp Quốc, Uỷ ban hợp tác hỗn hợp Pháp- Việt, Trung tâm ACAPAD của ÓC...để bổ sung hơn 1.500 cuốn sách và gần 10.000 số của hơn 100 đầu tên tạp chí. Do có khó khăn về kinh phí nên việc tạo nguồn tư liệu cũng có nhiều hạn chế, số tạp chí La tinh phải mua theo giá chung của quốc tế nên rất đắt, Tạp chí Tiếng Nga cũng giảm nhiều. Tạp chí thuộc ngành Khoa học cơ bản hầu nh­ không đợc bổ sung (trên thực tế có 38% người được hỏi đều quan tâm đến lĩnh vực này). Lượng tạp chí nhận hàng năm đều bị giảm, trong khi đó lại là loại hình tư liệu bạn đọc sử dụng nhiều nhất(tạp chí 70%), một số tạp chí quan trọng đã có ở thư viện nhưng về không đều, thiếu số, nhất là các tạp chí thuộc nguồn trao đổi, nhận tặng...cũng Ýt nhiều ảnh hưởng đến việc khai thác tìm tincủa bạn đọc. Vì số tiền để mua tài liệu rất hạn hẹp (sau khi bỏ cơ chế bao cấp, nguồn tài liệu tặng, trao đổi, giá rẻ...không còn), nên việc mua loại tài liệu gì cũng là vấn đề rát khó khăn của Trung tâm (tiêu chí lùa chọn là dùa vào định hướng phát triển Khoa học Công nghệ của Nhà nước, các hướng ưu tiên trong phát triển Kinh tế- Xã hội, vào nhu cầu thông tin của người nghiên cứu q

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc5612.doc