Luận văn Biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học tỉnh Bạc Liêu

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN .3

KÝ HIỆU VIẾT TẮT.4

MỤC LỤC .5

PHẦN 1: MỞ ĐẦU.9

1. Lý do chọn đề tài .9

2. Mục đích nghiên cứu.10

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.10

4. Nhiệm vụ nghiên cứu .11

5. Phạm vi nghiên cứu.11

6. Phương pháp nghiên cứu.11

7. Cấu trúc luận văn .12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI

NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC .13

1.1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu .13

1.1.1. Quản lý.13

1.1.2. Quản lý giáo dục .16

1.1.3. Quản lý trường học.17

1.1.4. Quản lý phát triển nguồn nhân lực.19

1.2. Đặc điểm hoạt động quản lý trong nhà trường tiểu học.22

1.2.1. Vị trí, mục tiêu của trường tiểu học.22

1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động quản lý của trường tiểu học .23

1.3. Vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học .25

51.3.1. Quan điểm của Đảng về vai trò người CBQL và xây dựng đội ngũ cán bộ.25

1.3.2. Tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước do

Đảng đề ra .26

1.3.3. Những yêu cầu của việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học.27

1.4. Đặc trưng người cán bộ quản lý trường tiểu học.29

1.4.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng .29

1.4.2. Mối quan hệ giữa Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng.30

1.4.3. Những phẩm chất và năng lực của người CBQL trường tiểu học.30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIÊU

HỌC VÀ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ ẤY Ở TỈNH BẠCLIÊU .33

2.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bạc Liêu .33

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, dân cư .33

2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội.33

2.2. Thực trạng về giáo dục - đào tạo tỉnh Bạc Liêu thời kỳ đổi mới.35

2.2.1.Thực trạng phát triển chung .35

2.2.2. Đặc điểm giáo dục tiểu học tỉnh Bạc Liêu .36

2.3. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học tỉnh Bạc Liêu .43

2.3.1. Quy mô về số lượng và phân loại tống quát đội ngũ CBQL.43

2.3.2. Trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý giáo dục của độingũ CBQL .43

2.3.3. Những phẩm chất, năng lực của đội ngũ CBQL các trường tiểu học .44

2.3.4. Đánh giá chung về thực trạng đội ngũ CBQL các trường tiểu học tỉnh BạcLiêu .51

62.4. Thực trạng vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học tại Bạc Liêu.53

2.4.1. Các biện pháp đã tiến hành để xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL trường

tiểu học.53

2.4.2. Các vấn đề còn hạn chế có liên quan đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ

CBQL trường tiểu học .55

2.4.3. Đánh giá chung về thực trạng phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học tại

Bạc Liêu .56

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

QUẢN LÝ TRƯỜNG TIÊU HỌC TỈNH BẠC LIÊU .59

3.1. Phương hưởng phát triển giáo dục và yêu cầu xây dựng đội ngũ CBQL trường tiểu

học tỉnh Bạc Liêu đến năm 2002.59

3.1.1. Phương hướng phát triển giáo dục tiểu học tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2000 - 2010.59

3.1.2. Yêu cầu xây dựng đội ngũ CBQL trường tiểu học giai đoạn 2000 - 2010.61

3.2. Một số biện pháp nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ trường tiểu học tỉnh

Bạc Liêu.63

3.2.1. Xây dựng, quy hoạch đội ngũ CBQL trường tiểu học .63

3.2.2. Đào tạo, bồi dưỡng CBQL các trường tiểu học .67

3.2.3. Tuyển chọn, bổ nhiệm và sử dụng hợp lý.70

3.2.4. Xây dựng môi trường quản lý, tạo động lực phát triển .74

3.3. Kiểm nhận sự đánh giá về các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL

trường tiểu học.79

PHẦN III - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.83

1.Kết luận .83

2. Kiến nghị .84

7TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH.86

PHỤ LỤC .88

pdf116 trang | Chia sẻ: lavie11 | Ngày: 17/12/2020 | Lượt xem: 12 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học tỉnh Bạc Liêu, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
h của nền giáo dục tỉnh nhà. Toàn tỉnh có 33 trường mầm non, 150 trường tiểu học, 67 trường THCS, 14 trường THPT, 6 trung tâm giáo dục thường xuyên, 1 trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề và 5 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Đã có 1 trường mầm non và 3 trường tiểu học được công nhận đạt chuẩn Quốc gia. Kết quả sự ổn định và phát triển của các ngành học, bậc học và các hoạt động hỗ trợ, kết hợp với hoạt động tự vận động của ngành GD - ĐT Bạc Liêu, đã nâng mặt bằng dân trí, trình độ văn hóa của cán bộ, nhân dân trong tỉnh lên một bước mới: Cứ 3 - 5 người dân thì có 1 người đi học. 35 Đội ngũ giáo viên khá đầy đủ, đặc biệt bậc tiểu học và trung học; đội ngũ phần lớn đã đạt chuẩn, một số đạt trên chuẩn đào tạo. Về cơ sở vật chất tuy đã khắc phục tình trạng học 3 ca ở bậc tiểu học, nhưng số phòng học ở mầm non còn thiếu nhiều, hầu hết các trường mẫu giáo ở các xã còn đặt trong trường tiểu học, chưa có cơ sở vật chất riêng. Một số lớp THCS còn sử dụng chung với tiểu học hoặc còn nằm chung nong trường THPT nên chưa có sự thống nhất trong quản lý và và tình trạng chưa có đầy đủ các phòng chức năng, thiếu phòng học để phụ đạo, ngoại khóa .... còn phổ biến. 2.2.2. Đặc điểm giáo dục tiểu học tỉnh Bạc Liêu a/ Trường, lớp, học sinh Năm học 2001 - 2002, tỉnh Bạc Liêu có 150 trường tiểu học với 3492 lớp, 99.696 học sinh. Trong đó có 8 trường dạy - học 2 buổi/ngày từ lớp 1 đến lớp 5. Đã có 3 trường được công nhận trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia: Hòa Bình A, Hộ Phòng, Ngan Dừa. Qui mô: 36 + Số trường trên 28 lớp : 34 + Số trường từ 17 đến 28 lớp : 90 + Số trường dưới 17 lớp : 26 Chia theo địa bàn: + Trường thị trấn, thị xã : 27 + Trường vùng sâu, vùng xa : 123 Số lượng, chất lượng hạnh kiểm, học lực học sinh được xếp loại qua các năm như sau: (Bảng 1) Một số nhận xét về học sinh tiểu học tỉnh Bạc Liêu trong những năm gần đây như sau: + Số lượng học sinh tiểu học giảm dần hàng năm do hiệu quả của việc giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh. + Học sinh trong độ tuổi huy động vào lớp Ì đạt tỷ lệ trên 96%, tỷ lệ năm sau cao hơn năm trước, có năm tăng 3,5%. 37 38 + Tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng ngày càng hạn chế, tuy vẫn còn ở mức khá cao nhưng so với các tỉnh trong khu vực thì đây là tỉnh có tỷ lệ học sinh bỏ học thấp. + Chất lượng hạnh kiểm và học lực học sinh được đánh giá cuối năm của các trường có chuyển biến tốt, tỷ lệ học sinh có hạnh kiểm xếp loại tốt, học lực xếp loại giỏi tăng dần. b/ Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên các trường tiểu học Tính đến tháng 8 năm 2002, đội ngũ CBCC - GV các trường tiểu học tỉnh Bạc Liêu có: Tổng số : 4552, nữ 2246 người Trong đó : CBQL : 337 người Giáo viên : 3986 người Nhân viên : 229 người Đảng viên : 201 người Chia theo trình độ đào tạo : Đại học : 540 người CĐSP : 408 người THSP : 3557 người Đào tạo khác : 47 người Qua những số liệu tiên cho thấy: - Đội ngũ CBCC - GV các trường tiểu học tương đối đảm bảo so với định biên cho phép, không chỉ năm học 2001 - 2002 mà những năm trước đội ngũ ở đây đã khá đầy đủ. Đặc biệt đội ngũ giáo viên đứng lớp thừa, do đó một số có hệ đào tạo GV phải chuyển qua nhiệm vụ nhân viên văn phòng. (Biểu đồ 2) 39 Trong những năm gần đây, đặc biệt kể từ khi có NQ Hội nghị lần thứ 2 (khóa 8) của Đảng, số lượng Đảng viên trong ngành giáo dục tăng so với các năm trước. Tuy vậy, tỷ lệ vẫn còn thấp so với tổng số đội ngũ của ngành chỉ đạt 4,42%. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ phần lớn đạt chuẩn và trên chuẩn. Trong thời gian qua, theo kế hoạch chuẩn hóa đội ngũ của ngành, số CB - GV theo học các lớp CĐSP và ĐHSP ngày càng đông. Qua các đợt kiểm tra, thanh tra của các phòng GD - ĐT cùng với quá trình chỉ đạo, theo dõi chúng tôi thấy chất lượng đội ngũ có phần chuyển biến đi lên, số giáo viên có năng lực giảng dạy ngày càng tăng. (Bảng 2) 40 Phần lớn GV yêu nghề, mến trẻ, chấp hành tốt các chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Những thuận lợi về mặt đội ngũ là một trong những nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của bậc học, nhưng vẫn có một số khó khăn, hạn chế: Đội ngũ giáo viên dạy các môn đặc thù như nhạc, họa, kỹ thuật, thể dục ... những năm gần đây có tăng song vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu, mức đạt được so với chỉ tiêu chưa đến 50%, nhiều trường chưa có giáo viên dạy các môn này. Cán bộ - giáo viên có trình độ đại học và cao đẳng chiếm trèm 20% nhưng trong số này lại có một số có nguồn gốc đào tạo để dạy bậc THCS, nên giáo viên tiểu học có trình độ trên chuẩn đúng chuyên ngành cũng chưa đáng kể. c/ Cơ sơ vật chất, thiết bị giáo dục các trường tiểu học Về cơ sở vật chất: toàn tỉnh có 1853 phòng học tiểu học, các trường đều có đủ phòng học, bàn ghế cho học sinh học 2 ca. Nhiều trường có đủ phòng học cho một số lớp học 2 buổi/ngày. Trong những năm gần đây số trường, phòng học được xây dựng khá nhiều theo hướng tầng hóa và kiên cố, hầu hết các lớp học đều có điện đảm bảo ánh sáng cho học sinh, phòng loại cấp 4 trở lên chiếm 85,2%. 41 Về thiết bị giáo dục: Thư viện, thiết bị giáo dục của các trường tiểu học được quan tâm trong việc đầu tư, xây dựng, mua sắm các loại sách, thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và học tập. Tuy vậy, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng GD - ĐT, nhiều trường không triển khai được do nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chủ yếu là không đủ phòng để làm phòng thư viện, thí nghiệm và thiếu cán bộ phụ trách. Công tác quản lý, sử dụng cơ sở vật chất trang thiết bị nhà trường còn nhiều hạn chế nên hiệu quả chưa cao. • Đánh giá chung về giáo dục tiểu học của tỉnh - Mặt mạnh: Tỉnh Bạc Liêu là tỉnh có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt khá so với cả nước, cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng nhiều hơn, mức sống nhân dân tăng cùng với sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và sự chỉ đạo sâu sát của ngành, đó là những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển giáo dục - đào tạo của tỉnh. Đội ngũ CBCC-GV các trường tiếu học tương đôi đầy đủ, tỷ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn đào tạo cao, phần lớn có năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, yêu nghề, mến trẻ. Cơ sở vật chất trường học ngày càng khang trang, số trường và số phòng học cao tầng, kiên cố trong 3 năm trở lại đây tăng nhanh. Đa số học sinh ngoan, lễ phép, có truyền thống hiếu học. - Mặt hạn chế: Trước những yêu cầu đòi hỏi chất lượng ngày càng cao nhưng các điều kiện phục vụ nhu cầu dạy và học chưa đáp ứng. Hầu hết các trường chưa có phòng chức năng, phòng thư viện, phòng nghệ thuật, phòng truyền thống ... Thiết bị giáo dục ít sử dụng hoặc sử dụng chưa có hiệu quả. Sự phân bố dân cư không đều, không tập trung, hầu hết các trường học đều có cơ sở lẻ. Tỷ lệ học sinh bình quân trong một lớp giữa các trường, các lớp không đều, có lớp trên 50 học sinh nhưng có lớp dưới lo em, ảnh hưởng đến công tác quản lý nâng cao chất lượng. 42 2.3. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học tỉnh Bạc Liêu 2.3.1. Quy mô về số lượng và phân loại tống quát đội ngũ CBQL Đội ngũ CBQL các trường tiểu học tỉnh Bạc Liêu hiện có 337 người trong đó có 150 Hiệu trưởng, còn lại là Phó Hiệu trưởng. Như vậy, bình quân mỗi trường có từ 1 - 2 Phó Hiệu trưởng. Theo Quyết định số 243/CP của Hội đồng Chính phủ về tổ chức bộ máy, biên chế của các trường phổ thông đã nêu ở chương ì, đồng thời theo tình hình cụ thể một số trường dưới 17 lớp chỉ cần một phó hiệu trưởng thì để bố trí đủ CBQL cho các trường tiểu học ở Bạc Liêu cần có 310 Phó Hiệu trưởng. Đối chiếu với thực tế hiện nay vẫn còn thiếu 123 Phó Hiệu trưởng cho các trường tiểu học, một số trường như trường Phùng Ngọc Liêm, Phong Phú B, Long Điền Đông B, An Phú B, Mai Thanh Thế... chưa đủ số Phó Hiệu trưởng quy định. Tỷ lệ nữ có 53/337 người chiếm 15,7%, đây là tỷ lệ thấp so với đội ngũ của ngành. Nữ trong đội ngũ CB - GV chiếm gần 50%. Số lượng Đảng viên có 114 người, chiếm tỷ lệ 33,8%, đây cũng là một tỷ lệ thấp so với các ngành khác. Có đến 90 Hiệu trưởng không phải là Đảng viên. Người có tuổi đời cao nhất 60 tuổi, thấp nhất 24 tuổi, tuổi bình quân khoảng 42. Người làm công tác quản lý lâu năm nhất 30 năm, ít nhất 1 năm, phần lớn bình quân số năm tham gia công tác quản lý khoảng 10 đến 15 năm. 2.3.2. Trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý giáo dục của đội ngũ CBQL Trình độ lý luận chính trị: chủ yếu có trình độ sơ cấp, có 12 Hiệu trưởng có trình có trình độ chính trị trung cấp, 2 người đang học lớp cử nhân chính trị. Trình độ chuyên môn: Có 26/150 Hiệu trưởng và 22/187 Phó Hiệu trưởng đạt trình độ cao đẳng và đại học, còn lại có trình độ THSP, có 98 người đang theo học đại học hệ tại chức và từ xa có thể nói đội ngũ CBQL trường tiểu học tỉnh Bạc Liêu đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, nhưng như thế vẫn chưa ngang tầm với nhiệm vụ quản lý vì hiện nay, số giáo viên tiểu học có trình độ cao đẳng và đại học ngày càng đông. Đặc biệt, hầu hết CBQL các trường tiểu học 43 không có trình độ về tin học và ngoại ngữ là những kiến thức công cụ để nâng cao sự hiểu biết trong quá trình lự học, tự bồi dưỡng. Chỉ có 11/337 CBQL có trình độ A tiếng Anh. Trình độ nghiệp vụ quản lý giáo dục: Phần lớn đã được bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD tại các trường CBQL li, trường CBQL tỉnh trước đây và trường CĐSP hiện nay. Trong đó có trên 1/3 được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cách đây trên lo năm (137 người). Trước yêu cầu đổi mới, đòi hỏi người CBQL phải cập nhật kiến thức, nhanh chóng tiếp cận với những yêu cầu mới trong công tác quản lý, do vậy chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD trước đây không còn hoàn toàn phù hợp trong giai đoạn hiện nay. (Bảng 3) 2.3.3. Những phẩm chất, năng lực của đội ngũ CBQL các trường tiểu học Để đánh giá thực trạng của đội ngũ CBQL các trường tiểu học trong tỉnh, chúng tôi đã tiến hành một số công việc: Nghiên cứu hồ sơ, lý lịch của đội ngũ CBQL. 44 45 Thu thập số liệu, kết luận thanh tra, kiểm tra, kết quả xếp loại thi đua của các Phòng GD - ĐT và sở GD - ĐT trong những năm gần đây. Phỏng vấn, đàm thoạt với một số CBQL, lãnh đạo và chuyên viên phụ trách giáo dục tiểu học các phòng GD - ĐT, Sở GD - ĐT. Phát phiếu khảo sát trong đó đưa ra hệ thống tiêu chí đánh giá phẩm chất và năng lực của đội ngũ CBQL, xin ý kiến đánh giá của lãnh đạo, chuyên viên các Phòng GD - ĐT, Sở GD - ĐT, ý kiến đánh giá của CB - GV khoa Cán bộ Quản lý trường CĐSP, ý kiến đánh giá của GV và ý kiến tự đánh giá của CBQL. + Phiếu trưng cầu ý kiến (phụ lục la) dành cho 100 CBQL các trường tiểu học. + Phiếu trưng cầu ý kiến (phụ lục lb) dành cho 20 lãnh đạo, chuyên viên, tiểu học các Phòng GD - ĐT và sở GD - ĐT. + Phiếu trứng cầu ý kiến (phụ lục le) dành cho 240 giáo viên các trường tiểu học. + Phiếu trưng cầu ý kiến (phụ lục ld) dành cho 8 cán bộ giảng dạy khoa CBQL trường CĐSP. Các phiếu xin ý kiến về mức độ cần thiết của những phẩm chất, năng lực ấy theo thang điểm từ 1 đến 5 (1: Không cần, 2: không cần lắm, 3: cần, 4: Khá cần, 5: Rất cần). Đồng thời người được xin ý kiến cũng đánh giá về đội ngũ CBQL hoặc tự đánh giá về bản thân mình theo những tiêu chí trên, thang điểm cũng được tính lừ 1 đến 5 (1: kém, 2: yếu, 3: trung bình, 4: khá, 5: tốt). Về mức độ cần thiết của các phẩm chất năng lực 100% số người được tham khảo ý kiến đều thống nhất những phẩm chất năng lực ghi trên phiếu là những phẩm chất năng lực cần thiết của người CBLQ trường tiểu học, trên 85% cho là rất cần. Trong đó bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu về đạo đức lối sông, có năng lực sư phạm, nắm vững chuyên môn là những phẩm chất năng lực được GV đánh giá là rất cần thiết ở mức cao. Trong khi đó các CBQL lại cho rằng, ngoài năng lực sư phạm, thì việc biết chăm lo đời sống của CB-GV, dám quyết đoán và dám chịu trách nhiệm là những phẩm chất không kém phần quan trọng. Qua đó cho thấy đa số CBQL đều ý thức được trách nhiệm của mình, thích phong cách lãnh đạo dân chủ. về đánh 46 giá, chúng tôi thống kê kết quả thu được và có những nhận xét về các phẩm chất năng lực của CBQL trường tiểu học như sau: a/ Nhóm phẩm chất về chính trị, đạo đức • Nhận xét về phẩm chất chính trị 47 Các tiêu chí 1,2,3 có trên 95% số người tham gia đánh giá xếp loại tốt - khá, đây là những mặt mạnh về phẩm chát chính trị đạo đức của đội ngũ CBQL trường tiểu học. Đại đa số CBQL trường tiểu học hiểu biết đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước, có ý thức, lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, chấp hành các chủ trương chính sách, trước hết thể hiện ý thức chấp hành các quy định của ngành. Biết phân tích đúng sai, bảo vệ quan điểm đường lối, có ý thức tổ chức kỷ luật, đồng thời tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục đội ngũ CB - GV - NV ở đơn vị mình chấp hành tốt. Tuyệt đại đa số luôn tích cực đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương, NQ của Đảng, thuận lợi cho việc đưa các hoạt động giáo dục đạt được mục tiêu, bảo đảm đúng quan điểm, đường lối. Kết quả đánh giá các tiêu chí ở các đối tượng tham gia đánh gia nói chung có sự tương đồng, tuy có chênh lệch số điểm đánh giá nhưng không đáng kể. Các tiêu chí 4, 5 đều được đánh giá ở mức thấp hơn, có lẽ đây cũng là những hạn chế của một số CBQL trong giai đoạn hiện nay. Một số CBQL giữ kẽ, sợ mất lòng, không dám đấu tranh cho lẽ phải, chống những biểu hiện tiêu cực, chưa làm tốt công tác phê và tự phê. Hầu hết các CBQL đều có điểm bình quân trên 4, 5 không có trường hợp nào bị đánh giá yếu, kém về phẩm chất chính trị. • Nhận xét về phẩm chất đạo đức Đánh giá chung của các đối tượng được hỏi qua phiếu điều tra và qua trao đổi với một số người, phần lớn đều đánh giá cao về phẩm chất đạo đức của đội ngũ CBQL các trường tiểu học, có trên 90% số người được hỏi cho rằng đội ngũ CBQL có các phẩm chất đạo đức tốt, khá. Những biểu hiện cho nhóm phẩm chất này là: họ đã gương mẫu trong lối sống, thực sự có uy tín, phát huy những phẩm chất tốt đẹp của nhà sư phạm, biết tôn trọng mọi người, xây dựng khối sư phạm đoàn kết đồng thời tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà trường và địa phương, xã hội, cha mẹ học sinh. Đa số trung thực, công tâm đối với công việc, công bằng trong đánh giá cấp dưới, báo cáo đối với cấp trên. Một số giáo viên đánh giá thấp CBQL ở tiêu chí 5, họ cho rằng do ảnh hưởng của lối sống trong cơ chế thị trường, các CBQL này có những biểu hiện chưa thật sự tiết kiệm. Lãnh đạo và 48 chuyên viên các PGD, SGD lại đánh giá thấp ở tiêu chí 3: một số CBQL chưa thể hiện phong cách lãnh đạo dân chủ, chưa thật sự công bằng trong phân công đối với cấp dưới. Điểm bình quân cho các CBQL ở phẩm chất đạo đức cũng đều đạt trên 4.5. b/ Nhóm kiến thức, năng lực chuyên môn, năng lực quản lý 49 • Nhận xét về kiến thức, năng lực chuyên môn Các tiêu chí 2,4 được đánh giá khá, tốt tương đối cao, điều đó cho thấy đội ngũ CBQL hiểu biết và nắm bắt được chương trình, phương pháp đặc trưng các môn học ở bậc tiểu học. Nắm được những qui định về quản lý nhà trường, các quy định về chương trình, nội dung, chế độ cho điểm v.v... kết quả điều tra còn cho thấy, phần lớn CBQL nắm được tình hình văn hóa, xã hội kinh tế ở địa phương. Tuy nhiên, tuyệt đại đa số các đối tượng tham gia đánh giá đều cho điểm thấp ở các tiêu chí 1,5. Điều đó cho thấy, số CBQL còn hạn chế về kiến thức, năng lực chuyên môn không phải là cá biệt. Đa số giáo viên đánh giá thấp khả năng giảng dạy các môn bắt buộc ở tiểu học của đội ngũ CBQL trường mình. Trên 25% giáo viên cho điểm trung bình và hơn 5% cho điểm yếu. Tỷ lệ đánh giá yếu ở tiêu chí sv của lãnh đạo và chuyên viên các PGD, SGD cũng tương đương 5%. Qua điều tra bằng phỏng vấn cho thấy ở trường học công việc phụ trách chuyên môn trường do Phó Hiệu trưởng đảm nhận do đó một số Hiệu trưởng ít quan tâm đến vấn đề này. Những biểu hiện đó là ít dự giờ, kiểm tra hồ sơ GV, ít quan tâm đến việc cải tiến nâng cao chất lượng đào tạo. Song song đó ý thức tự học, tự bồi dưỡng chưa cao. Theo đánh giá của Phó Giám đốc phụ trách khối Mầm non, Tiểu học của Sở GD-ĐT Bạc Liêu và Trưởng phòng GD- ĐT thị xã Bạc Liêu, các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi thì hiện nay có một số CBQL năng lực chuyên môn thấp, không có khả năng chỉ đạo, kiểm tra, đặc biệt ở các môn nhạc, họa, kỹ thuật, thể dục. Do đó thường né tránh dự giờ góp ý để nâng cao tay nghề GV. Nguyên nhân sâu xa của hạn chế về kiến thức, năng lực chuyên môn do ý thức chủ quan của đội ngũ CBQL và công tác quy hoạch, tuyển chọn. Tuy có sự chênh lệch về đánh giá nhưng điểm bình quân cho nhóm năng lực này vẫn đạt trên 4.5. + Nhận xét về năng lực quản lý Các đối tượng được hỏi ý kiến phần lớn đều đánh giá cao năng lực quản lý của CBQL, những biểu hiện cơ bản đó là: Năng lực quản lý đội ngũ, xây dựng tập thể sư phạm đoàn kết, năng lực phối hợp các lực lượng nong ngoài nhà trường. 50 Tuy nhiên, ở tiêu chí thứ 3 là sự quyết đoán trong công việc và dám chịu trách nhiệm thì đội ngũ CBQL cho rằng họ đạt ở mức khá tốt, nhưng một số GV nhận xét có CBQL còn yếu. Thực tế cho thấy những yêu cầu của giáo viên hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với yêu cầu người CBQL trong giai đoạn hiện nay. Thực hiện quá trình đổi mới giáo dục rất cần những con người năng động, sáng tạo biết đi trước nhất là đội ngũ quản lý. Nhiều CBQL chưa dám quyết đoán trong công việc dẫn đến tình trạng do dự, ngại khó. So với các phẩm chất chính trị, đạo đức thì các tiêu chí về kiến thức, năng lực chuyên môn, năng lực quản lý của đội ngũ CBQL có mức giá trị thấp hơn, mức độ đánh giá của giáo viên, phòng GD - ĐT, sở GD - ĐT cũng chênh lệnh nhiều hơn so với kết quả tự đánh giá của CBQL. Đối chiếu với kết quả thanh tra, kiểm tra và xếp loại thi đua năm học 2001. 2002 cho thấy sự đánh giá của giáo viên, phòng GD -ĐT, sở GD - ĐT là xác đáng. (Bảng 6) 2.3.4. Đánh giá chung về thực trạng đội ngũ CBQL các trường tiểu học tỉnh Bạc Liêu Qua khảo sát, nghiên cứu, tổng hợp kết quả các đợt thanh tra, kiểm tra và trao đổi với một số người, chúng tôi rút ra những nhận xét về thực trạng đội ngũ CBQL các trường tiểu học ở Bạc Liêu như sau: - Điểm mạnh: Phần lớn đội ngũ CBQL có phẩm chất chính trị tốt, giác ngộ lý tưởng cách mạng, tận tụy với công việc, gương mẫu trong công tác, sinh hoạt, chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 51 100% CBQL có trình độ THSP trở lên trong đó Đại học và Cao đẳng có 48 người, phần lớn có năng lực trong quản lý, nhiều người có kinh nghiệm và gắn bó với công việc.Đại đa số CBQL các trường phát huy được phẩm chất, năng lực, thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của người CBQL góp phần tích cực trong việc đưa các hoạt động của nhà trường đạt mục tiêu. Đây là những yếu tố cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển GD -ĐT của tỉnh Bạc Liêu. - Điểm yếu: Trước những yêu cầu đổi mới của thời kỳ Công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước nói chung và những đòi hỏi về chất lượng giáo dục đào tạo ở bậc tiểu học nói riêng, công tác quản lý trường học của một số bộ phận đội ngũ cán bộ quản lý còn có những bất cập, hạn chế. Trình độ chuyên môn của đội ngũ đạt chuẩn và trên chuẩn, tuy vậy có nhiều hệ đào tạo khác nhau, trình độ không đồng đều. Một số cán bộ quản lý chưa kinh qua công tác quản lý, hiện nay thoát ly giảng dạy, chủ yếu giải quyết công tác hành chính sự vụ. Một số khác nghiệp vụ sư phạm không vững, chưa hội đủ uy tín về chuyên môn, ít quan tâm đến tay nghề giáo viên, do đó có những khó khăn hạn chế trong công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động dạy và học. Còn tương đối nhiều cán bộ quản lý chưa được bồi dưỡng cơ bản và hệ thống về lý luận nghiệp vụ quản lý giáo dục bậc tiểu học (134 người), một số đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhưng cách đây khá lâu. Cơ cấu bố trí chưa thật hợp lý, có trường có chi bộ độc lập nhưng có trường cả Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng đều không phải Đảng viên như trường Kim Đồng, Phường 2A, Phường 2B (Thị xã Bạc Liêu); Vĩnh Mỹ, Đông Hải(Vĩnh Lợi); Phong Phú A, Tân Hiệp B (Giá Rai).v.v... ít luân chuyển cán bộ, chưa mạnh dạn thay thế cán bộ quản lý có phẩm chất, năng lực hạn chế, số lượng chưa đảm bảo để tạo nên sức mạnh tổng hợp. Tỷ lệ nữ trong đội ngũ cán bộ còn quá thấp. Tất cả các yếu kém trên đều xuất phát từ những hạn chế trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng của các Phòng Giáo dục - Đào tạo và Sở Giáo dục - Đào tạo. 52 2.4. Thực trạng vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học tại Bạc Liêu Qua điều tra, khảo sát bằng cách trao đổi trực tiếp với lãnh đạo và cán bộ tổ chức của Sở GD-ĐT, các Phòng GD-ĐT, cùng với việc nghiên cứu các văn bản bổ nhiệm cán bộ quản lý các trường tiểu học, chúng tôi có được kết quả như sau: 2.4.1. Các biện pháp đã tiến hành để xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học a/ Lập quy hoạch đội ngũ Công tác quy hoạch đội ngũ CBQL các trường trong những năm qua được tiến hành theo quy trình: Phòng Giáo dục - Đào tạo giao cho Ban giám hiệu các trường lựa chọn đội ngũ cán bộ kế cận các chức danh (mỗi chức danh chọn từ 1-3 người). BGH thống nhất về các đối tượng được lựa chọn sau đó đưa ra hội đồng nhà trường để thăm dò, bỏ phiếu tín nhiệm. Báo cáo danh sách về Phòng Giáo dục và cán bộ tổ chức sẽ tổng hợp lại thành "Danh sách đội ngũ cán bộ kế cận các trường". Phòng Giáo dục sẽ đưa đi đào tạo hoặc bồi dưỡng khi có chỉ tiêu của Sở Giáo dục - Đào tạo giao và bổ nhiệm CBQL mới khi có yêu cầu theo danh sách này. Như vậy, việc quy hoạch chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trường nên hiệu quả không cao và chất lượng không đồng đều. Ngoài ra, việc bổ nhiệm có tính chất chuyển vùng ít khi thực hiện được (phần đông người được bổ nhiệm từ chối vì "chỉ được báo quy hoạch tại trường, không muốn thay đổi..."). Thực tế, theo danh sách đội ngũ cán bộ kế cận các trường tiểu học là 588 người, sau 5 năm chỉ bổ nhiệm 121 người (chiếm tỷ lệ 20.6%) và gần 100% là có tính chất "tại chỗ". Nghĩa là giáo viên đang dạy trường nào thì bổ nhiệm làm CBQL ở trường đó. b/ Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng Hiện nay công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý nói chung và cán bộ quản lý trường tiểu học nói riêng chưa chủ động tổ chức 53 được. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên nhưng chủ yếu vẫn là: "Không có giáo viên, thiếu kinh phí và nhất là không có tài liệu". Do đó, đội ngũ kế cận trong danh sách quy hoạch vẫn có người chưa được bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý, số người đã qua bồi dưỡng chỉ đạt khoảng 70% (409 người). Công tác đào tạo cán bộ quản lý trước đây do trường CBQL tỉnh phụ trách nhưng hiện nay trường đã giải thể và sáp nhập thành một khoa của trường Cao Đẳng Sư Phạm, biên chế của khoa hiện chỉ có 4 người nên không đủ sức tổ chức các lớp đào tạo. Tuy có hạn chế về công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ QL nhưng việc đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn thì lại được quan tâm hơn, hiện nay có 105 CBQL đương chức và 397 người trong đội ngũ kế cận đang theo học các lớp đại học với nhiều hình thức khác nhau, nhưng như vậy vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu chuẩn hóa và nâng chuẩn CBQL. Một vấn đề khác là trong thực tế, kế hoạch đào tạo được duyệt hàng năm chủ yếu lệ thuộc vào khả năng kinh phí được cấp, chứ không dựa vào yêu cầu phát triển giáo dục tại địa phương, về phía các phòng Giáo dục- Đào tạo lại không được cấp ngân sách đào tạo, bồi dưỡng riêng mà chủ yếu chỉ được cấp theo đầu học sinh nên rất ngại đưa cán bộ đi đào tạo. Về vấn đề sử dụng đội ngũ CBQL: Việc điều động CBQL: Hiện nay, việc điều động CBQL chủ yếu chỉ thực hiện khi có yêu cầu của cá nhân, còn việc điều động cán bộ do yêu cầu công tác rất khó thực hiện do hầu hết CBQL đều có chỗ ở ổn định và có kinh tế phụ ở địa phương. Hơn nữa, nếu điều động từ địa phương này sang địa phương khác thì việc hiệp thương giữa phòng GD-ĐT với cấp ủy, chính quyền địa phương rất khó khăn và CBQL được điều về sẽ gặp khó khăn trong việc phối hợp công tác. Việc bổ nhiệm CBQL: Khi có nhu cầu bổ sung, thay thế một CBQL ở một đơn vị nào đó thì Trưởng phòng GD-ĐT dựa trên cơ sở đã quy hoạch, ý kiến đề nghị của trường, tham mưu của cán bộ phụ trách chuyên môn, cán bộ phụ trách tổ chức để có quyết định chọn lựa nhân sự. Sau đó hiệp thương với cấp ủy, chính quyền địa phương, nếu thống nhất thì tiến hành làm thủ tục bổ nhiệm, nếu không thống nhất ý kiến thì phòng GD-ĐT phải chọn người khác. Hiện nay, việc định kỳ bổ nhiệm CBQL mới thực hiện và còn ở mặt hình thức: chủ yếu là ra quyết định bổ nhiệm lại. Việc bãi nhiệm CBQL chỉ thực hiện khi phát hiện CBQL có những 54 vi phạm tương đối nghiêm trọng, còn việc quản lý kém hiệu quả, không tiến bộ.... chưa phải là lý do để thay thếCBQL. Cá biệt còn có CBQL có những sai phạm tuy chưa ở mức nghiêm trọng nhưng không c

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftvefile_2014_11_13_1040585474_7565_1871622.pdf
Tài liệu liên quan