Luận văn Chính sách can thiệp của nhà nước đối với hoạt động thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ỉ

MỤC LỤC 1

DANH Mụ c CÁC TƯ MẾT TẤT 3

DANH Mụ c CÁC HÌNH. 4

PHÀN MƠ ĐẤU. 5

1. Lý do chọn đò tài 5

2. Mục đích và câu hái nghiên cửu ổ

3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu.-. ổ

4. Ỷ nghĩa thực ũèn của dề tải 8

5. BẮ cục đề tãi s

PHÂN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: Bơi CÁNH NGHIÊN CƯU VÀ TÒNG QUAN ĐÈ TÀI 9

1.1. Bối canh nghiên cứu để tãi 9

1.2. Tòng quan các nghiên cứu trước 11

CHƯƠNG 2: CAN THIỆP CỦA NHÀ NƯỚC VÀO THỊ TRƯỜNG DỊCH THU GOM CHÁT thu rán SINH HOạT 14

2.1. Co sù đè nhà nước can thiệp vào thi trường dịch vụ thu gom chát thai rán sinh

hoạt: — 14

2.2. Các hình thức can thiỊp có thi 17

CHƯƠNG 3: THỤ C TRẠNG D1ÈU TIẾT HOẠ I ĐỘNG CUNG ÚNG DỊCH vụ THỤ GOM CH\T TH ứ RÁN SINH HO ẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHÓ Hố CHÍ MINH 19

3.1. Ca Sứ pháp lý điếu tià hoạt dộng cung ủng 19

3.1.1. Vin ban cúa Trung ương 19

3.1.2. Vin ban cùa TPHCM 19

3.2. Tù chức bộ máy thưc hi^n diếu úéĩ hoạt dộng thu gom CTRSH 22

3.3. Các hình thức cung ứng vã chát lượng dich vụ cung ứng 23

3.3.1. Khu vực nhả nước: „23

3.3.2. Khu vực tu nhân: 24

3.4. Đánh giá kít qua vặn hành co chẻ đièu tiét 30

3.4.1. Mặt làm dược —30

3.4.2. Mật hạn chế vá nsuvẽn nhàn cua nhừns hạn chè: 31

 

pdf87 trang | Chia sẻ: mimhthuy20 | Ngày: 19/09/2020 | Lượt xem: 68 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Chính sách can thiệp của nhà nước đối với hoạt động thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
m CTRSH hoặc bổ sung thêm chức năng thu gom CTRSH hình thành từ đầu những năm 2000. Nghiên cứu của Trần Nhật Nguyên (2008) đã khảo sát cụ thể 5 28 HTX 33 trên địa bàn TPHCM thời điểm đó cho thấy quy mô, năng lực tổ chức điều hành của các HTX còn nhiều hạn chế. Chỉ có 1/5 HTX hoạt động thu gom CTRSH trên toàn quận, còn lại chủ yếu hoạt động trong phạm vi một phường của quận. Theo điều lệ HTX, mỗi xã viên được chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp ban đầu. Tuy nhiên, do số vốn góp ban đầu thấp (từ 300.000đ đến 20.000.000đ), quản lý điều hành còn nhiều hạn chế, quy mô nhỏnên hầu như HTX chưa có lợi nhuận. 2/5 HTX có đóng BHXH, BHYT và BHTN cho NLĐ. Tuy số lượng còn hạn chế nhưng đây cũng là một tín hiệu đáng mừng. 3.3.2.3.Mô hình doanh nghiệp Để hoạt động ngày càng chuyên nghiệp và mang tính độc lập hơn, một số dây rác dân lập đã lựa chọn mô hình thành lập doanh nghiệp- chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty TNHH một thành viên. Khi thành lập doanh nghiệp, các tổ rác dân lập vẫn giữ lại gần như nguyên trạng tổ chức và hoạt động trước đó. So với gia nhập HTX, thành lập doanh nghiệp sẽ tự chủ hơn trong vấn đề kinh doanh, tránh được các khó khăn do phải phân công, phối hợp thực hiện, tránh các xáo trộn về mặt tổ chức. So với các tổ LRDL, các doanh nghiệp có thể có được hợp đồng thu gom với các chủ nguồn thải là tổ chức vì giờ đây họ đã có thể xuất hóa đơn. Hơn nữa, các doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp phải đóng nhiều khoản thuế hơn34 các tổ LRDL. Qua khảo sát 4 doanh nghiệp đang cung ứng dịch vụ trên địa bàn huyện Bình Chánh, chỉ có 1 doanh nghiệp có tổ chức công đoàn35. Chủ các doanh nghiệp đã thực hiện ký HĐLĐ, trang bị BHLĐ và mua BHYT, BHXH cho đa số NLĐ. 3.3.2.4.Đánh giá tổ chức hoạt động cung ứng của khu vực tư nhân Điểm mạnh: Có tổ chức đơn giản, giảm thiểu chi phí hành chính, đảm bảo tính nhanh chóng trong điều hành. Điều kiện tuyển dụng ít ràng buộc- chủ yếu là lao động có sức khỏe có thể đảm đương công việc- nên đã cung cấp việc làm cho những NLĐ thời vụ, lao động có trình độ học vấn thấp. Với đặc điểm này, khu vực tư nhân đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện thu nhập của một bộ phận dân cư. 70% lương của NLĐ khu vực tư nhân ở mức trên 3 triệu 33 HTX Trường Thịnh (Q9); HTX Thảo Điền (Q2); HTX Hiệp Thành (Q4); HTX Đoàn Kết (Q6); HTX Nông nghiệp dịch vụ Phường Linh Xuân (Q.Thủ Đức) 34 Bao gồm: 10% thuế VAT, 25% thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế môn bài (thường là 1 triệu đồng/năm- thuế môn bài bậc 4 do có vốn điều lệ dưới 2 tỷ đồng). 35 Công ty TNHH thương mại dịch vụ kỹ thuật môi trường Biển Xanh. 29 đồng/tháng, cộng với tiền bán phế liệu thu gom được tổng thu nhập cũng ở mức xấp xỉ 4 triệu đồng/tháng. Điểm yếu: Đa số các đơn vị còn tổ chức và hoạt động manh mún, nhỏ lẻ. Các tổ LRDL không có tư cách pháp nhân nên không thể ký hợp đồng thu gom với các chủ nguồn thải lớn. Từ đó, doanh thu không nhiều nên ít đầu tư trang bị, đổi mới phương tiện thu gom dẫn đến chất lượng thu gom hạn chế. Ngược với tình trạng trên là hiện tượng đầu nậu trong thu gom. Tuy không thể xử phạt các đầu nậu vì họ thuê mướn lao động giá rẻ nhưng cần phải xử lý các hành vi không tôn trọng luật pháp, tự ý hình thành sở hữu cá nhân đối với một phần thị trường dịch vụ thu gom CTRSH. 20% 44% 22% 2% 2% 10% Hình 3.4: Mức lƣơng bình quân hàng tháng của ngƣời lao động 1-2t/tháng 2-3t/tháng 3-4t/tháng 4-5t/tháng Tùy số phí được Không trả lời 5% 44% 24% 7% 3% 2% 15% Hình 3.5: Thu nhập bình quân hàng tháng của ngƣời lao độngtừ bán phế liệu thu gom Dưới 100000 Từ 100000 - 500000 Từ 600000 - 1000000 Từ 1000000- 1500000 Từ 1500000- 2000000 Tùy tháng Không trả lời 30 Hạn chế thứ ba là các vấn đề liên quan đến đảm bảo quyền lợi của NLĐ. Điều này thể hiện ở ba điểm chủ yếu sau: Một là, chỉ có 51,2% NLĐ được khảo sát trả lời có HĐLĐ. Theo quy định tại Bộ Luật lao động hiện hành, chỉ có một số công việc có tính chất tạm thời, dưới ba tháng hoặc lao động giúp việc nhà, giữa người sử dụng lao động và NLĐ có thể có giao kết bằng miệng. Còn lại tất cả HĐLĐ phải được ký kết bằng văn bản (điều 28, Bộ Luật lao động). Hai là, chưa đảm bảo điều kiện an toàn, vệ sinh lao động. Ba là, đa số các đơn vị thu gom tư nhân không có tổ chức Công đoàn. 3.4.Đánh giá kết quả vận hành cơ chế điều tiết 3.4.1. Mặt làm được 3.4.1.1.Về xây dựng bộ máy Thành phố đã xây dựng bộ máy điều tiết 3 cấp gần như hoàn chỉnh. Giữa các bộ phận có sự phối hợp tương đối trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần cùng thành phố thực hiện vai trò điều tiết hoạt động cung ứng dịch vụ thu gom CTRSH. 3.4.1.2.Về xây dựng thể chế Đã ban hành hệ thống các quy định tương đối đầy đủ, từ tổ chức và hoạt động của các tổ LRDL cho đến các biểu phí khác nhau, quy định trách nhiệm của các bên liên quan đến hoạt động quản lý CTRSH. 3.4.1.3.Về kết quả cung ứng dịch vụ Hệ thống cung ứng của thành phố đã góp phần đảm bảo một diện mạo đô thị tương đối cho thành phố trước áp lực khối lượng CTRSH phát sinh hàng ngày. Điều này thể hiện rõ nét qua kết quả điều tra chỉ số hiệu quả quản lý hành chính công cấp Tỉnh (PAPI) ở Việt Nam (2010) 36 , TPHCM có chỉ số hài lòng về dịch vụ công (trong đó có dịch vụ thu gom rác) cao nhất trong 30 tỉnh/thành được khảo sát. 3.4.1.4.Tạo việc làm, ổn định đời sống cho NLĐ Hệ thống điều tiết hiện hành đã góp phần giải quyết việc làm cho trên 4500 lao động ở cả hai khu vực nhà nước và tư nhân37. Với mức thu nhập tương đối khá (bình quân 3 đến 4 triệu đồng/tháng)38, cuộc sống của các lao động phổ thông có phần đỡ cơ cực hơn. 36 CECODES (2010), Chỉ số hiệu quả quản lý hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam, Trung tâm công tác lý luận MTTQVN, UNDP. 37 Số liệu tổng hợp từ Phòng QLCTR, bình quân mỗi quận/huyện có 50 lao động tại các công ty DVCI và 150 lao động thuộc các đơn vị, tổ chức tư nhân 31 3.4.2. Mặt hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế: 3.4.2.1.Về xây dựng bộ máy Năng lực chuyên môn của từng cấp không đồng đều. Trong đó, cấp phường/xã- cấp giám sát hoạt động thu gom đồng thời là cấp quản lý hoạt động của các tổ LRDL- là đáng quan ngại nhất. Mỗi phường/xã chỉ có 01 nhân viên môi trường hoặc 01 nhân viên kiêm nhiệm39. Nhân lực mỏng trong khi địa bàn rộng lớn, cộng thêm áp lực của việc thực hiện nhiệm vụ khác, các nhân viên thường khó đảm bảo giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ. Kỷ luật hành chính chưa nghiêm. Mỗi phường/xã thực thi các các quy định của thành phố khác nhau. Với quy định về tỷ lệ trích nộp để lại, có nơi giữ trích nộp 10%, có nơi giữ trích nộp 7%, nơi khác là 5%. Có phường/xã quyết toán biên lai thu phí hàng tháng, có phường/xã quyết toán hàng năm. Đặc biệt trong khi quy định các lực lượng thu gom khi thu phí phải cấp biên lai thu phí nhưng có phường chỉ thực hiện quyết toán và cấp biên lai thu phí cho năm đó vào cuối năm. Với cách làm này, các tổ lấy rác trên địa bàn phường này không thể có biên lai thu phí để cấp cho các hộ dân khi họ thu phí hàng tháng. Song song đó là thực trạng các phường/xã đều biết tỷ lệ không phát biên lai của các tổ LRDL đối với các hộ dân chiếm từ 20% đến 30%. Tuy nhiên, một số phường/xã đã không nghiêm túc giám sát, kiểm tra tình trạng này. Họ cho rằng lao động thu gom làm việc khá nặng nhọc nên tỷ lệ không phát biên lai xấp xỉ 20% là “chấp nhận được . Hơn nữa, số tiền cũng không quá lớn. Tuy nhiên, vấn đề không phải ở số tuyệt đối trích nộp bị bỏ qua là lớn hay nhỏ. Vấn đề là ở việc thực thi chính sách có nghiêm túc hay không. Chính quyền cơ sở ứng xử như thế với chính sách thì khó mà buộc mọi chủ thể trong xã hội có sự tôn trọng, chấp hành chính sách được. Qua khảo sát cũng cho thấy quyết tâm thực thi chính sách, nỗ lực thay đổi cách làm cũ bằng cách làm mới hiệu quả hơn của một bộ phận CBCC còn hạn chế. 3.4.2.2.Về xây dựng thể chế: còn một số hạn chế tại các văn bản sau: Quy chế 5424: 38 Theo công bố của Vụ lao động tiền lương, Bộ LĐTB&XH, lương trong các DNNN năm 2010 bình quân là 3.8 triệu đồng/người/tháng. 39 Thường là thanh tra xây dựng hoặc nhân viên theo dõi kinh doanh, tiểu thủ công nghiệp 32 Thứ nhất, các tổ LRDL được hình thành từ sự tổ chức của UBND các phường/xã40 là mong muốn chủ quan của các nhà hoạch định chính sách. Thực tế, để vận động họ hoạt động theo tổ, nhóm đã khó khăn; yêu cầu họ phải có giấy chứng nhận hành nghề, phải hoạt động như một tổ chức nặng tính hành chính như trên là một thách thức với phường/xã. Thứ hai, các quy định về tổ chức tổ LRDL khá chặt chẽ nhưng chưa cụ thể, do đó, khó có tính thực thi cao. Cụ thể, quy định tổ trưởng, tổ phó chịu trách nhiệm trước UBND phường/xã- nhưng đó là trách nhiệm gì, chịu trách nhiệm ở mức như thế nào. Hoặc quy định tổ có thể đề xuất khen thưởng hoặc kỷ luật nhưng căn cứ nào, tiêu chuẩn nào để đề xuất khen thưởng hoặc kỷ luật thì chưa quy định. Tương tự, quy chế cũng quy định người thu gom phải được cấp giấy chứng nhận hành nghề nhưng nội dung cụ thể, hình thức của giấy chứng nhận đó như thế nào vẫn còn để ngõ. Công văn 7345/LCQ-TNMT-TC-CT: Thứ nhất, quy định các đơn vị hiện đang thu gom có tư cách pháp nhân được tiếp tục thực hiện thu phí. Quy định này chưa x t đến loại hình doanh nghiệp thu gom CTRSH là doanh nghiệp tư nhân- vốn không có tư cách pháp nhân. Thứ hai, quy định UBND phường/xã hoặc trực tiếp thu phí hoặc ủy quyền thu phí đối với các tổ LRDL và cơ quan thu phí sẽ là đơn vị được giữ lại 10% tổng số thu. Trên thực tế phí đều do các tổ LRDL thu nhưng vẫn phải nộp lại cho phường/xã từ 5% đến 10% tổng số thu được. Cơ cấu chi đối với tổng phí thu được như sau: - 90% chi cho tổ LRDL - 4% đến 9% chi cho công tác quản lý thu phí 41 của phường/xã - 1% chi cho công tác quản lý thu phí của Phòng Tài chính kế hoạch và Phòng Tài nguyên môi trường quận/huyện Về phía tổ LRDL, các tổ được cấp phát biên lai thu phí (loại có mệnh giá in sẵn). Nhìn vào cơ cấu tỷ lệ điều tiết giữ lại khó có thể thuyết phục các tổ LRDL về tính hợp lý của nó bởi thực tế họ chỉ có nghĩa vụ đóng phí mà quyền lợi nhận được gần như không rõ ràng. 40 Phường/xã xác định số tổ lấy rác phù hợp với yêu cầu địa phương, cấp giấy chứng nhận hành nghề cho NLĐ đủ điều kiện, quyết định chấp thuận và bố trí vào tổ lấy rác địa phương, chủ trì hội nghị toàn thể của tổ lấy rác để bầu tổ trưởng, tổ phó; phân công địa điểm lấy rác 41 Chi văn phòng phẩm, chi công tác phí, chi bồi dưỡng cho cán bộ kiêm nhiệm 33 Về quyết định 130/2002/QĐ-UB: Tại khoản 5, điều 9 của quy chế ban hành kèm theo quyết định này quy định: “lực lượng vệ sinh sau thời gian tác nghiệp phải đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn vệ sinh do Sở Giao thông Công chánh và Sở khoa học và công nghệ quy định . Tuy nhiên từ thời điểm ban hành cho đến nay cả hai Sở vẫn chưa ban hành bộ tiêu chuẩn vệ sinh nào42. 3.4.2.3.Về kết quả cung ứng dịch vụ43 Qua khảo sát cho thấy người sử dụng dịch vụ chưa hài lòng với sự cung ứng của cả nhà nước hoặc tư nhân. Trong ba nguyên nhân cơ bản thì nguyên nhân lực lượng thu gom bỏ ngày lấy rác chiếm tỷ lệ cao hơn hết. Kế đến là do thu gom không đúng giờ quy định làm các hộ tồn ứ rác, một số người thu gom yêu cầu một vài khoản thu ngoài phí- tuy nhỏ nhưng gây tâm lý không tốt cho người sử dụng dịch vụ- vào các dịp lễ, Tết, ngày rằm Về ký hợp đồng thu gom: Có hơn 80% hộ đang sử dụng dịch vụ do các công ty DVCI cung ứng trả lời có hợp đồng cung cấp dịch vụ. Tỷ lệ này ở các hộ sử dụng dịch vụ của khu vực tư nhân là 70.4%. Như vậy, dù đã có nhiều cải thiện so với thời điểm trước khi quyết định 88 ra đời44 nhưng tỷ lệ không ký hợp đồng thu gom vẫn còn khá cao. 42 Chỉ đến năm 2009, UBND thành phố mới ban hành tiêu chuẩn vệ sinh- văn minh năm 2009 (ban hành kèm theo quyết định số 2607/QĐ-UBND ngày 27/5/2009) làm cơ sở thi đua cho chủ đề năm “năm 2009- năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị của thành phố. 43 Phụ lục 3 44 Hầu hết lực lượng thu gom đều thỏa thuận miệng với các hộ gia đình (Trần Nhật Nguyên, 2008, tr.67) 3.7% 7.4% 3.7% 4.3% 8.7% 0.0% 0.0% 2.0% 4.0% 6.0% 8.0% 10.0% Thu gom không đúng giờ Bỏ ngày lấy rác Thu thêm các khoản ngoài phí Hình 3.6: Các nguyên nhân chƣa hài lòng về chất lƣợng dịch vụ của các hộ gia đình 34 Trong số các hộ có ký hợp đồng thu gom, có trên 70% hộ cho biết lực lượng thu gom có thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng. Chủ yếu là sai số lần lấy rác trong tuần, thời gian lấy rác. Về việc cấp biên lai thu phí: Trên 90% các công ty DVCI có cấp biên lai thu phí. Khu vực tư nhân, đặc biệt các tổ LRDL, tỷ lệ cấp biên lai thu phí còn thấp. Các tổ LRDL báo về phường/xã tỷ lệ thất thu thường từ 20% đến 30%. Chỉ với 1000 hộ dân trong khu phố, có đến 200 hoặc 300 hộ không đóng phí là điều không hợp lý. Qua khảo sát các hộ dân, có xấp xỉ 35% hộ phản ánh khu vực mình sinh sống có hộ gia đình không đóng phí thu gom hàng tháng. Tuy nhiên khi được hỏi số tuyệt đối là bao nhiêu hộ, trên 85% hộ trả lời từ 1 70.4% 29.6% 82.6% 17.4% Có hợp đồng Không có hợp đồng Hình 3.7: Tỷ lệ ký hợp đồng thu gom sv tỷ lệ không ký hợp đồng thu gom Tư nhân Nhà nước 73.7% 26.3% 86.7% 13.3% Đúng hợp đồng Không đúng hợp đồng Hình 3.8: Thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng thu gom Tư nhân Nhà nước 35 đến dưới 10 hộ, không có hộ nào phản ánh có trên 20 hộ không đóng phí. Như vậy, tỷ lệ thất thu- nếu có- chỉ hợp lý ở mức dưới 10%. Về lịch thu gom: Lịch thu gom được ghi rõ trong hợp đồng thu gom. Tuy nhiên rất ít đơn vị thu gom thực hiện đúng theo hợp đồng. Đối với các hộ không được ký hợp đồng thu gom, việc biết lịch thu gom càng khó hơn. Về số lần thu gom trong tuần: đa số thu gom 7 lần/tuần (ở nội thành), trong đó các công ty DVCI chiếm tỷ lệ cao hơn (trên 60.9%), trong khi các đơn vị tư nhân là 40.7%. Số còn lại thu gom 2 đến 3 lần/tuần (ở ngoại thành) 62.96% 37.04% 91.30% 8.70% Có được phát biên lai Không được phát biên lai Hình 3.9: Tỷ lệ hộ gia đình đƣợc phát biên lai sv tỷ lệ hộ gia đình không đƣợc phát biên lai khi thu phí Tư nhân Nhà nước 58.3% 4.2% 8.3% 4.2% 25.0% 0.0% 18.2% 36.4% 6.1% 0.0% 33.3% 6.1% 0.0% 10.0% 20.0% 30.0% 40.0% 50.0% 60.0% 70.0% Người thu gom UBND phường/xã Tự liên hệ Chủ đường rác Tổ dân phố Khác Hình 3.10: Các chủ thể thông báo lịch thu gom cho hộ gia đình Tư nhân Nhà nước 36 Về độ sạch sau thu gom, xấp xỉ 20% hộ được hỏi cảm nhận việc thu gom hiện nay chưa sạch. Đáng lưu ý là tỷ lệ thu gom chưa sạch của các công ty DVCI lại cao hơn so với các đơn vị tư nhân. 3.4.2.4.Các can thiệp nhằm bảo đảm quyền lợi cho NLĐ còn hạn chế Như phân tích tại mục 3, vẫn còn một bộ phận không nhỏ NLĐ hiện lao động trong điều kiện an toàn vệ sinh lao động thấp, ít trang bị BHLĐ, không được đóng bất cứ loại bảo hiểm nào. Ngay cả một số doanh nghiệp cũng viện dẫn lý do lao động thu gom không ổn định, thường làm việc dưới 3 tháng nên không thể đóng các loại bảo hiểm. 40.7% 37.0% 22.2% 60.9% 21.7% 17.4% 7 lần/tuần 3 lần/tuần 2 lần/tuần Hình 3.11: Số lần thu gom trong một tuần Tư nhân Nhà nước 92.6% 7.4% 78.3% 21.7% Thu gom sạch rác Thu gom chưa sạch rác Hình 3.12: Đánh giá về độ sạch trong thu gom chất thải rắn sinh hoạt Tư nhân Nhà nước 37 Nhưng đáng quan ngại hơn hết là tình trạng NLĐ làm việc không có HĐLĐ. UBND phường/xã hiện chỉ dừng lại ở việc quản lý danh sách NLĐ, tổ trưởng mỗi tổ lấy rác. Chưa có bất kỳ kiểm tra HĐLĐ nào giữa người sử dụng lao động và NLĐ. Tóm tắt chƣơng 3: Tác giả đã trình bày những nét chính trong xây dựng và vận hành cơ chế điều tiết hoạt động thu gom CTRSH tại TPHCM hiện nay, tập trung trên bốn khía cạnh: tổ chức bộ máy, xây dựng thể chế, quản lý các đơn vị/tổ chức cung ứng dịch vụ và giải quyết việc làm cho NLĐ. Trong thời gian qua, sự vận hành đồng bộ của cả bốn yếu tố này đã góp phần vừa cung ứng cho thành phố một dịch vụ thu gom CTRSH tương đối ổn định. Tuy nhiên, với cái nhìn toàn diện hơn, hệ thống điều tiết của thành phố hiện vẫn còn nhiều hạn chế. Đó là một bộ máy với năng lực chuyên môn không đồng đều, kỷ luật hành chính chưa nghiêm. Hệ thống quy định khá chủ quan, thiếu cụ thể, ít thuyết phục và chưa đồng bộ. Đi cùng với hai hạn chế này là sự hạn chế về chất lượng dịch vụ được cung ứng đến với người dân, sự buông lỏng quản lý về điều kiện lao động. 38 CHƢƠNG 4 KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 4.1.Về quản lý cung ứng 4.1.1. Các vấn đề liên quan đến tổ chức hoạt động của đơn vị cung ứng: Quản lý tổ chức hoạt động của đơn vị cung ứng hiện nay chủ yếu là giải pháp quản lý các tổ LRDL. Để cải thiện hoạt động cung ứng, nên thực hiện việc đấu thầu lựa chọn nhà cung ứng. Cụ thể, nhóm giải pháp này bao gồm các nội dung sau: 4.1.1.1. Tất cả các tổ LRDL phải đăng ký hoạt động tại phường/xã- nơi người phụ trách tổ LRDL cư trú. Trong giấy ph p đăng ký hoạt động, UBND phường/xã phải ghi rõ năng lực thu gom của các đơn vị đăng ký (xem mục 4.2.3). Đây là cơ sở để các đơn vị có thể tham gia đấu thầu tại các phường/xã khác (xem mục 4.1.1.3) Đăng ký hoạt động có thời hiệu trong một năm và phải đăng ký lại hàng năm. Nếu đơn vị có thay đổi về trang thiết bị và số lao động, UBND phường/xã sẽ ghi nhận thay đổi về năng lực cung ứng. Hồ sơ đăng ký hoạt động nhất thiết phải kèm theo: HĐLĐ giữa người sử dụng lao động và NLĐ. Đây là cơ sở để ràng buộc người sử dụng lao động thực hiện đúng quy định về lao động. 4.1.1.2. Khuyến khích các tổ LRDL thành lập doanh nghiệp bằng các chính sách khuyến khích đặc thù dành cho doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công cộng (giảm thuế, hỗ trợ tín dụng). 4.1.1.3. Hàng năm, phường/xã tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà cung ứng. Thời gian đầu khi đưa giải pháp này vào thực hiện, có thể có tình trạng các đơn vị cung ứng khu vực tư nhân có phân chia sẵn địa bàn hoạt động (theo hình thức đầu nậu như đã nêu ở mục 3.3.2.1), nên sẽ có không nhiều hơn một nhà thầu dự thầu. Trong trường hợp này, công ty DVCI quận/huyện bắt buộc phải dự thầu. UBND phường/xã ban hành Quyết định giao cho nhà thầu cung ứng với các nội dung, điều khoản cụ thể về: địa bàn thu gom; quyền và trách nhiệm của UBND phường/xã và của nhà thầu; các ràng buộc, xử phạt khi vi phạm điều khoản đã thỏa thuận. 4.1.1.4. Hàng năm, phường/xã thực hiện đánh giá chất lượng dịch vụ cung ứng một cách công khai. Có thể lồng ghép trong các buổi họp dân cuối năm45 đề nghị người dân 45 Họp lấy phiếu tín nhiệm cán bộ chủ chốt, họp tổ dân phố định kỳ hoặc các cuộc họp tổng kết của các đoàn thể 39 đánh giá kết quả cung ứng dịch vụ thu gom CTRSH tại địa phương. Kết quả này sẽ là cơ sở để UBND phường/xã quyết định loại đơn vị cung ứng kém ra khỏi danh sách dự thầu của năm sau đồng thời có thông báo đến UBND phường/xã nơi đơn vị đó đăng ký hoạt động (để điều chỉnh giấy ph p đăng ký hoạt động cho năm sau). 4.1.2. Các vấn đề liên quan đến chất lượng dịch vụ cung ứng 4.1.2.1. Đảm bảo tất cả đơn vị cung ứng dịch vụ thu gom phải thực hiện ký kết hợp đồng thu gom bằng văn bản với người sử dụng dịch vụ. Hợp đồng thu gom phải có nội dung về mức phí; số lần lấy rác trong tuần; giờ lấy rác và cam kết về độ sạch sau thu gom. Song song đó, phải quy định rõ quyền và trách nhiệm của các bên liên quan. 4.1.2.2. Số lần thu gom trong tuần: Với khối lượng CTRSH phát sinh hàng ngày trên 5000 tấn, thành phố nên có quy định số lần thu gom mỗi tuần là từ 3 đến 7 lần, tùy quận/huyện. Các xã ngoại thành có thể thu gom từ 3 đến 5 lần/tuần; các phường/thị trấn đông dân nên thu gom từ 5 đến 7 lần/tuần. Có như thế mới có thể giải quyết hết lượng rác phát sinh, giảm thiểu tình trạng tồn ứ rác. 4.1.3. Các vấn đề liên quan đến người lao động 4.1.3.1. Tất cả NLĐ- ngay cả lao động thử việc- đều phải ký HĐLĐ. Hợp đồng phải nêu rõ 5 nội dung: Mức tiền công, tiền lương; khen thưởng và các hình thức phạt; nội dung công việc; thời gian làm việc; các trang bị BHLĐ; quyền và trách nhiệm của mỗi bên. 4.1.3.2. Quy định các trang bị BHLĐ tối thiểu phải sử dụng khi thu gom- theo nghĩa nếu thiếu một trong các dụng cụ BHLĐ nêu bên dưới, NLĐ và người sử dụng lao động có thể bị xử phạt. Cụ thể, các trang bị mà NLĐ phải sử dụng: (i) Quần áo BHLĐ; (ii) Nón bảo hộ; (iii) Khẩu trang; (iv) Ủng hoặc giày bata; (v) Găng tay; (vi) Nếu làm việc từ 18g đến 6g phải có áo phản quang. Quy định này không chỉ bảo vệ NLĐ mà còn góp phần tạo dựng hình ảnh của thành phố trước khách trong nước và quốc tế. Vì vậy, thành phố nên đặc biệt quan tâm, nhanh chóng ban hành quy định có tính cấp thiết này. 4.1.3.3. Ít nhất 50% NLĐ- đặc biệt đối với lao động có thời gian làm việc trên 3 tháng- tại tổ chức, đơn vị thu gom phải được người sử dụng lao động đóng BHYT và BHTN. 40 4.2.Về xây dựng thể chế: Trước hết phải sửa đổi, bổ sung những hạn chế trong các văn bản quy định trước đây. Kế đến, để những kiến nghị trên có thể thực thi, thành phố cần thể chế hóa chúng bằng các văn bản hành chính cụ thể. 4.2.1. Sửa đổi, bổ sung các văn bản hiện hành: Quy chế 5424: Bỏ các điều 6, 7, 8, 9 trong mục I- quy định cụ thể về tổ chức của các tổ LRDL. Các tổ LRDL hoạt động như thế nào là do họ tự tổ chức. Phường/xã chỉ quản lý ở khía cạnh cấp ph p đăng ký hoạt động. Khi muốn hoạt động thu gom trên địa bàn nào thì tổ LRDL đã qua dự thầu tại phường/xã đó và chịu trách nhiệm thực hiện đúng các điều khoản đã thỏa thuận với UBND phường/xã nơi họ thắng thầu. Công văn 7345: Bổ sung khoản a, điều 1, mục III thành “Các tổ chức có tư cách pháp nhân, các doanh nghiệp tư nhân hiện đang thực hiện việc thu gom, vận chuyển CTR thông thường được tiếp tục thực hiện việc thu phí Thống nhất sử dụng cụm từ “Tổ LRDL khi điều chỉnh các lực lượng thu gom hoạt động riêng rẽ. 4.2.2. Ban hành tiêu chuẩn vệ sinh môi trƣờng đối với hoạt động thu gom, vận chuyển CTRSH Tiêu chuẩn vệ sinh môi trường đối với hoạt động thu gom, vận chuyển CTRSH là căn cứ để phường/xã và những người sử dụng dịch vụ có thể giám sát hoạt động thu gom của các đơn vị, tổ chức. Thành phố cần ban hành hệ thống tiêu chuẩn cụ thể về: xe thu gom (độ kín bao phủ của xe, độ cao tối đa của CTRSH thu gom chứa trong xe thu gom so với dung tích/hạn mức chứa của thùng/xe thu gom); Độ sạch sau thu gom (trong bán kính 2-3m phải sạch rác, không còn rác vương vãi). Ngoài ra, phải quy định về địa điểm được chọn làm điểm hẹn giao nhận rác giữa đơn vị thu gom và công ty vận chuyển, quy định việc vệ sinh điểm hẹn sau khi đã chuyển rác lên các xe vận chuyển của công ty DVCI. 4.2.3. Ban hành tiêu chuẩn giúp UBND phường/xã thẩm định năng lực thu gom của các đơn vị đăng ký hoạt động. Tiêu chuẩn này dựa vào số trang thiết bị và số lao động mà đơn vị hiện có, có đối chiếu với quy định về số lần thu gom trong tuần ở từng quận/huyện. 41 Ví dụ, 1 xe thu gom, 2 NLĐ. Nếu cung ứng tại quận- nơi có quy định phải thu gom 7 lần/tuần thì năng lực thu gom là 500 hộ gia đình. Nếu cung ứng tại quận- nơi có quy định thu gom 3 lần/tuần thì năng lực thu gom là 1000 hộ. Số xe thu gom Số lao động Năng lực thu gom (hộ/tháng) 7 lần/tuần 5 lần/tuần 3 lần/tuần 1 2 500 750 1000 4.2.4. Về mức phí Nên quy định thực hiện thống nhất trên toàn thành phố mức trích phí để lại là 10% tổng số thu phí thu được của các tổ LRDL, đóng tại phường/xã mà tổ thực hiện thu gom. Ngay khi có quyết định giao cho nhà thầu thực hiện thu gom tại địa phương (trường hợp trúng thầu là các tổ LRDL), căn cứ số hộ thu gom được giao, UBND phường/xã ước tính số lượng biên lai thu tiền (loại in sẵn mệnh giá) để cấp trước. Cuối mỗi tháng, tổ LRDL sẽ quyết toán số thu được trong tháng, nộp phí trích giữ và nhận biên lai cho tháng sau. Mức phí 10% này nên thay đổi cơ cấu chi theo hướng tăng chi cho các nội dung vì cộng đồng nhiều hơn là chi cho công tác quản lý. Có thể tham khảo một cơ cấu chi sau: - Chi cho công tác quản lý ở cấp phường (Cả quản lý thu phí và quản lý hoạt động: tổ chức đấu thầu, đánh giá chất lượng cung ứng hàng năm) là 3%, ở cấp quận (quản lý thu phí) là 1%; - Chi bổ sung cho công tác vệ sinh môi trường toàn phường/xã là 3%; - Chi hỗ trợ, thăm hỏi, quà tết cho NLĐ của các tổ LRDL là 3%. 4.3.Về tổ chức bộ máy: 4.3.1. Phát huy vai trò của Ban điều hành tổ dân phố Ban điều hành Tổ dân phố cần tích cực tham gia vận động, tuyên truyền các hộ dân phải hợp đồng thu gom, đóng phí đầy đủ hàng tháng. Nếu có trường hợp không đóng phí, phải tìm hiểu và báo cáo với phường/xã. So sánh đối chiếu giữa báo cáo của tổ dân phố với báo cáo của các đơn vị cung ứng, phường/xã có thể kiểm soát được tỷ lệ thực thu. Tổ dân phố cũng là nơi giám sát chặt chẽ nhất chất lượng dịch vụ thu gom trên địa bàn, kịp thời phản ánh để phường/xã có biện pháp can thiệp. 42 4.3.2. Rà soát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm kỷ luật hành chính

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfvo_thi_hoang_oanh_final_5646_1849835.pdf
Tài liệu liên quan