Luận văn Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả thi hành án hành chính - Qua thực tiễn thành phố Hà Nội

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU . 1

Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THI HÀNH

ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM. 10

1.1. Khái niệm, vị trí, vai trò của thi hành án hành chính . 10

1.1.1. Nhận thức chung về hoạt động thi hành án. 10

1.1.2. Khái niệm, phạm vi và đối tượng của hoạt động thi hành án hành chính

1.1.3. Nguyên tắc thực hiện trình tự, thủ tục và xử lý trách nhiệm trong

thi hành án hành chính .

1.1.4. Quyền, nghĩa vụ trong thi hành án hành chính

1.2. Quyết định hành chính trái pháp luật và hành vi hành chính

trái pháp luật – đối tƣợng của bản án đƣợc thi hành not d

1.2.1. Quyết định hành chính .

1.2.2. Hành vi hành chính .

1.2.3. Quyết định hành chính và hành vi hành chính trái pháp luật n

1.3. Trình tự, thủ tục trong thi hành án hành chính not defined

1.3.1. Tự nguyện thi hành án.

1.3.2. Yêu cầu ra quyết định buộc thi hành án hành chính not define

1.3.3. Thi hành bản án, quyết định của Tòa án khi có quyết định buộc

thi hành án hành chính .

1.3.4. Chỉ đạo, đôn đốc việc thực hiện quyết định buộc thi hành án hành chính

1.3.5. Tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án, theo dõi việc thi hành

án hành chính, quyết định buộc thi hành án hành chính

pdf21 trang | Chia sẻ: anan10 | Ngày: 02/11/2020 | Lượt xem: 74 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả thi hành án hành chính - Qua thực tiễn thành phố Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
...... Error! Bookmark not defined. 1.3.4. Chỉ đạo, đôn đốc việc thực hiện quyết định buộc thi hành án hành chínhError! Bookmark not defined. 1.3.5. Tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án, theo dõi việc thi hành án hành chính, quyết định buộc thi hành án hành chínhError! Bookmark not defined. 1.4. Thi hành án hành chính trong các trƣờng hợp cụ thểError! Bookmark not defined. 1.4.1. Thi hành bản án, quyết định của Tòa án về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ............................... Error! Bookmark not defined. 1.4.2. Thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã hủy toàn bộ hoặc một phần quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh ... Error! Bookmark not defined. 1.4.3. Thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc .............................. Error! Bookmark not defined. 1.4.4. Thi hành bản án, quyết định của Tòa án về hành vi hành chínhError! Bookmark not defined. 1.4.5. Thi hành bản án, quyết định buộc sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thờiError! Bookmark not defined. Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM VÀ ĐẶC ĐIỂM CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ....................................... Error! Bookmark not defined. 2.1. Tình hình công tác thi hành án hành chính trên địa bàn Hà Nội hiện nay ...................................... Error! Bookmark not defined. 2.2. Về thẩm quyền thi hành án hành chínhError! Bookmark not defined. 2.3. Về thủ tục thi hành án hành chính về phần tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án ............... Error! Bookmark not defined. 2.4. Trách nhiệm pháp lý đối với các vi phạm trong thi hành án hành chính ......................................... Error! Bookmark not defined. Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY .... Error! Bookmark not defined. 3.1. Phƣơng hƣớng đổi mới công tác thi hành án hành chínhError! Bookmark not defined. 3.1.1. Phương hướng chung nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án hành chính hiện nay ở nước ta .................... Error! Bookmark not defined. 3.1.2. Phương hướng đổi mới hệ thống cơ quan thi hành án hiện nayError! Bookmark not defined. 3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi hành án hành chính ở Việt Nam và trên địa bàn thành phố Hà NộiError! Bookmark not defined. 3.2.1. Tăng cường trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan thi hành án hành chính, cơ quan tư pháp và UBND các cấp trong công tác thi hành án hành chính ............................. Error! Bookmark not defined. 3.2.2. Tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát thi hành án dân sự .................................... Error! Bookmark not defined. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................... Error! Bookmark not defined. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 12 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của Đề tài Thi hành án nói chung và thi hành án hành chính (THAHC) nói riêng là nội dung quan trọng của hoạt động quản lý Nhà nước. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vai trò của pháp chế, ý nghĩa của công lý luôn được đề cao, pháp luật luôn luôn được bảo đảm thực hiện. Pháp chế đòi hỏi phải chấp hành nghiêm chỉnh các phán quyết nhân danh công lý mà Tòa án đã tuyên. Hiến pháp năm 2013, tại Điều 106 đã quy định: “Bản án, quyết định của TAND có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Thông qua hoạt động thi hành án, những bản án, quyết định của Tòa án được thực thi, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức được bảo vệ, công lý và công bằng xã hội được bảo đảm. Phán quyết của Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước, sẽ chỉ là quyết định trên giấy nếu không được tổ chức thi hành hoặc thi hành không đầy đủ trên thực tế. Hoạt động thi hành án kém hiệu quả sẽ vô hiệu hóa toàn bộ kết quả của cơ quan tố tụng giai đoạn trước đó, gây tổn hại nghiêm trọng đến trật tự, kỷ cương làm giảm sút lòng tin của người dân vào tính nghiêm minh của pháp luật. Vì vậy, THA nói chung và THAHC nói riêng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị trí của cơ quan pháp luật, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thắng lợi quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước đã có nhiều khởi sắc, được nhân dân ta và quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, kỷ cương, sự tuân thủ vào pháp luật còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết. Ý 2 thức chấp hành pháp luật còn rất kém ngay cả khi chủ thể rất am hiểu về pháp luật. Tình trạng lợi dụng chức vụ, quyền hạn để lách luật, chây ỳ không tuân thủ pháp luật ngày càng phổ biến trong xã hội. Đặc biệt là tình trạng không thi hành, chậm thi hành, thi hành không đầy đủ và buông lỏng việc thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án trong lĩnh vực giải quyết các vụ án hành chính gây ra hiệu quả hết sức nghiêm trọng và tâm lý bất an cho toàn xã hội. Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh sẽ tạo được lòng tin của nhân dân đối với pháp luật và hiệu lực, hiệu quả của hoạt động Nhà nước, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy hoạt động thi hành án có một ý nghĩa quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN), đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế. Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác này, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra mục tiêu trong những năm tới đây là phải: “Tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác thi hành án dân sự trong đó có THAHC, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án, giải quyết căn bản tình trạng án tồn đọng. Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan Thi hành án dân sự, nâng cao vai trò trách nhiệm của các cơ quan thi hành án”. Nhiều năm qua, Chính phủ đã xác định công tác THADS trong đó có THAHC là một trong những nhiệm vụ trong tâm và đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong công tác này. Do vậy, công tác THADS trong những năm qua đạt được một số kết quả đáng khích lệ, mà kết quả nổi bật nhất theo đánh giá của Chính Phủ là: “Hệ thống cơ quan THADS được hình thành trong cả nước, công tác THADS đã được triển khai và hoạt động có hiệu quả bước đầu”. Ngày 24/11/2010 tại Kỳ họp thứ VIII Quốc hội Khóa XII, Quốc hội 3 nước ta đã ban hành Luật Tố tụng Hành chính. Thực tiễn thi hành Luật TTHC cho thấy, công tác thi hành án hành chính bên cạnh những điểm tích cực thì vẫn đang đứng trước những khó khăn, thử thách to lớn với nhiều vấn đề tồn tại, bất cập đặt ra cần phải giải quyết. Hiệu quả công tác THA chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Vẫn còn tình trạng nhiều bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính chưa được thi hành nghiêm túc. Hoạt động THAHC chưa đảm bảo được tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Tồn tại lớn nhất trong công tác THAHC những năm qua là tình trạng án tồn động nhiều, phân loại án chưa đầy đủ, chính xác việc thi hành án. Đây là vấn đề bức xúc đặt ra trong công tác THAHC hiện nay. Thực trạng này, một phần xuất phát từ nguyên nhân: hành lang pháp lý về THAHC chưa đầy đủ và rải rác ở nhiều văn bản khác nhau. Ý thức chấp hành bản án, quyết định của một số cơ quan, tổ chức, cá nhân còn hạn chế. Thậm chí, không ít cơ quan chức năng của Nhà nước chưa nhìn nhận đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác THAHC nên có nơi, có lúc vẫn còn tình trạng các cơ quan tổ chức hoặc cá nhân thiếu tôn trọng các bản án, quyết định của Tòa án, chây ỳ không chấp hành án. Mặt khác, thực trạng tồn tại trong công tác THAHC hiện nay là do quy định pháp luật còn nhiều bất cập, do tính chất phức tạp của công tác thi hành án hành chính; do nhận thức về công tác thi hành án hành chính của các cấp, các ngành còn hạn chế. Tại một số địa phương, các cấp chính quyền chưa thực sự quan tâm chỉ đạo thực hiện công tác này; tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ công chức cơ quan thi hành án chưa được kiện toàn, đào tạo, bồi dưỡng kịp thời; cơ sở vật chất, phương tiện làm việc chưa được đầu tư tương xứng với nhiệm vụ mới được giao. Để giải quyết tình trạng trên của lĩnh vực công tác này, cần nghiên cứu để tìm ra các giải pháp đồng bộ trên tất cả các phương diện. 4 Đó là lý do của việc chọn chủ đề: “Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả Thi hành án hành chính - qua thực tiễn thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sỹ luật học. Công tác THADS nói chung và THAHC nói riêng góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống và giữ gìn trật tự, kỷ cương trong Nhà nước pháp quyền XHCN. Bên cạnh những kết quả tích cực, THAHC còn nhiều hạn chế, vướng mắc đòi hỏi khoa học về Thi hành án nói chung và THAHC nói riêng phải nghiên cứu thật kỹ lưỡng để làm sáng tỏ về mặt lý luận của THAHC. Từ đó, đào sâu vấn đề để tìm ra căn nguyên của những tồn tại và đưa ra những giải pháp có ý nghĩa thiết thực nhất đối với vấn đề nghiên cứu. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả thi hành án hành chính- qua thực tiễn thành phố Hà Nội” trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Góp phần hoàn thiện pháp luật THAHC, nâng cao hiệu quả thi hành án hành chính. Đó là vấn đề mang tính cấp thiết đáp ứng yêu cầu về mặt lý luận cũng như thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đây, trước sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng thành công Hiến pháp năm 2013. Nhiều luật mới được sửa đổi bổ sung để kịp thời đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển. Trong đó có Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung có hiệu lực pháp luật tháng 7 năm 2015. Trước những đòi hỏi khách quan của công tác THADS trong đó có THAHC, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này cụ thể là: Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án”, mã số 96-98-027/ĐT do Cục THADS- Bộ tư pháp chủ trì thực hiện; Đề 5 tài cấp Nhà nước thực hiện: “Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” do Bộ tư pháp chủ trì. Một số công trình nghiên cứu khác như: Luận văn thạc sỹ luật học “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Công Long; Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn Thanh Thủy; Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Quang Thái về “Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam”; Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn về “đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam”; Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Lê Đình Phùng về “Thi hành án hành chính những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”. Bên cạnh đó là giáo trình Luật tố tụng hành chính của trường Đại học Luật và Khoa Luật- ĐHQG Hà Nội. Một số bài viết đăng trên các tạp chí dân chủ và pháp luật, tạp chí Luật học, tạp chí Nhà nước và pháp luật. Báo cáo tổng kết công tác Thi hành án dân sự và công tác Thi hành án hành chính năm công tác 2014. Báo cáo sơ kết công tác thi hành án 6 tháng đầu năm 2015 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Các công trình nghiên cứu trên đã có những nội dung nghiên cứu về THADS trong đó có THAHC một cách cơ bản nhất trên những góc độ khác nhau và mức độ cũng khác nhau. Mặc dù có đề cập đến THAHC và đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác THADS nói chung và THAHC nói riêng nhưng chưa có viện dẫn cụ thể ở một địa bàn cụ thể nào để làm nổi bật vấn đề vướng mắc cần giải quyết. Việc nghiên cứu về nội dung luận văn này được tác giả tiến hành cùng với sự ra đời của Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung có hiệu lực tháng 7/2015. Trong đó có nội dung quy định về THAHC. Và các cơ chế có liên qua đến công tác THAHC từ trước đến nay ở Việt Nam cũng như tham khảo kinh nghiệm nước ngoài về lĩnh vực này. Luận văn tiếp cận thực tiễn THAHC trên 6 địa bàn thành phố Hà Nội. Dựa trên lý luận và thực tiễn để đưa ra những giải pháp có tính ứng dụng nhằm nâng cao công tác THAHC ở nước ta nói chung và địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng. 2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Ở nhiều nước trên thế giới, vấn đề thi hành án nói chung và thi hành án hành chính nói riêng thường được tiến hành theo những huống chính sau đây: 1. Nghiên cứu về hệ thống thi hành án được đặt trong khuôn khổ các nghiên cứu về hệ thống tư pháp , Toà án. Bởi lẽ, ở các nước đó, thi hành án được quan niệm như một bộ phận của quá trình xác định và thực thi công lý. Theo hướng này, có thể chỉ ra những công trình nghiên cứu như: ở CHLB Đức:" The Courts in the Federal Republic of Germany", London,1988; ở Canada: "Canada'ssystem of justice", Ottawa, Ontario,1993; ở Australia có nghiên cứu của tác giả R. Tomasic: "The Courts in Australia: the Political Role of law Courts in modern democracies"- London, 1988. 2. Nghiên cứu về hệ thống thi hành án được đặt trong khuôn khổ nghiên cứu về hệ thống pháp luật. Các nghiên cứu này xuất phát từ quan điểm coi đặc điểm tổ chức và vận hành hệ thống thi hành án phụ thuộc phần lớn vào đặc điểm của hệ thống pháp luật- một cách nhìn rộng về thi hành án nói chung và thi hành án hành chính nói riêng. Ví dụ, điều đó rất rõ trong các công trình của các tác giả Mỹ như: A. Miller: "Politics, Democracy and Supreme Court", Westport,1985; L. Fridman: " An introduction to American Legal System", N.Y,1999 3. Nghiên cứu về hệ thống thi hành án với tính cách là một định hướng trong khuôn khổ thực thi quyền con người trước yêu cầu của chế độ pháp quyền. Trong số các công trình theo hướng này thì tiêu biểu nhất có công trình nghiên cứu công phu của tác giả người Hà Lan- là thư ký thứ nhất Liên minh các Chấp hành viên Quốc tế Jos Uitdehaag: " Eficient and Effective Enfocement- a Fundermental right under the Rule of Law", La Haag, 2010. 7 Ngoài ra, cần phải kể đến các công trình ở các nước nghiên cứu về kinh nghiệm của từng quốc gia trong việc tiến hành xã hộ hoá một số hoạt động thi hành án, trong việc xác lập cơ chế kiểm soát hoạt động thi hành án, đào tạo, bổ nhiệm chấp hành viên v. v, ví dụ, công trình của GS. A. Jongbloet:" "The European Bailiff: is it a vain hope or Utopia?", Luxemburg, 2004 3. Mục đích nhiệm vụ của Đề tài 3.1 . Mục đích của đề tài Nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về THAHC, thông qua thực tiễn công tác THAHC tại thành phố Hà Nội. Từ đó đề xuất những giải pháp để khắc phục những thiếu sót còn tồn tại trong thực tế, nâng cao hiệu quả thi hành án. 3.2. Nhiệm vụ của đề tài Để đạt được những mục đích trên, tác giả của luận văn đã đặt các nhiệm vụ cần giải quyết sau:  Làm sáng tỏ cơ sở lý luận, các khái niệm liên quan đến THAHC.  Nêu và đánh giá về thực tiễn THAHC cụ thể trên địa bàn thành phố Hà Nội.  Đề xuất phương hướng giải quyết để khắc phục những vướng mắc, tồn đọng và phát huy những mặt tích cực. Từ đó đề xuất những giải pháp thiết thực nhất nhằm nâng cao hiệu quả công tác THAHC. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1 . Đối tượng nghiên cứu của đề tài Đề tài nghiên cứu về vị trí, vai trò của công tác thi hành án hành chính nhằm bảo đảm quyền của các đương sự trong các vụ án hành chính; làm rõ đối tượng thi hành án hành chính; thủ tục thi hành án; các chủ thể thi hành án hành chính; thủ tục giải quyết khiếu nại trong quá trình thi hành án hành chính; những giải pháp bảo đảm thi hành án hành chính trên địa bàn thành phố Hà Nội. 8 4.2 . Phạm vi nghiên cứu đề tài Đề tài triển khai nghiên cứu thực tiễn thi hành án hành chính trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm làm rõ những vấn đề chung và những vấn đề đặc thù. 5. Phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của đề tài là chủ nghĩa Mac- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Pháp quyền XHCN Việt Nam về chính sách thi hành án trong đó có THAHC. Đề tài được thực hiện trên cơ sở các văn bản Luật về thi hành án nói chung và THAHC nói riêng, quan điểm mới mở ra trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 và các quy định của Luật THADS sửa đổi bổ sung 2015. Cơ sở thực tiễn là các báo cáo tổng kết quá trình thi hành án trong năm 2014 và sơ kết 6 tháng năm 2015. Kết luận rút ra từ các cuộc hội thảo về thực tiễn THA nói chung và THAHC nói riêng của Tổng cục THADS. Cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp sau: phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Kết quả nghiên cứu luận văn của tác giả có ý nghĩa đối với hoạt động THA nói chung và THAHC nói riêng. Góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về THAHC. Tạo hành lang pháp lý thông thoáng trong quá trình thi hành các vụ án hành chính và dễ dàng cho người dân tiếp cận công lý, tiếp cận đối với các thủ tục thi hành án. Giúp các cơ quan thi hành án có các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành thi hành án để có thể giải quyết các vụ án hành chính một cách nhanh chóng, hiệu quả và triệt để. Từ việc nêu ra và đánh giá thực tiễn việc thi hành án hành chính trên địa bàn thành phố Hà Nội, tác giả đã đưa ra những điểm tích cực và bất cập cần bổ sung để hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về THAHC. 9 Bên cạnh đó, tác giả phân tích tìm ra nguyên nhân của việc hoạt động chưa hiệu quả trong THAHC và đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những thiếu sót nhằm nâng cao hiệu quả THAHC. 7. Kết cấu của luận văn Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thi hành án hành chính ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng công tác Thi hành án hành chính trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án hành chính trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay. 10 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM 1.1. Khái niệm, vị trí, vai trò của thi hành án hành chính 1.1.1. Nhận thức chung về hoạt động thi hành án 1.1.1.1. Thi hành án – điều kiện bảo đảm công lý và thực hiện quyền con người Hiến pháp năm 2013 đã xác định: “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Đây là điểm mới, có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử lập hiến Việt Nam làm đậm nét tính pháp quyền của nền tư pháp nhằm khẳng định bản chất và vai trò của một nền tư pháp hiện đại là hoạt động vì công lý, bảo vệ có hiệu quả quyền con người [29, tr.47-48]. Trên cơ sở xác định chức năng bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người của Tòa án nhân dân, Hiến pháp năm 2013 cũng đã khẳng định mạnh mẽ yêu cầu về sự tôn trọng phán quyết của Tòa án: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” (Điều 106 Hiến pháp năm 2013) Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-06-2005 của Bộ Chính trị “về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã đặt ra yêu cầu “xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Như vậy, quan điểm chính trị cũng như quan điểm Hiến pháp của Đảng 11 và Nhà nước ta về thi hành bản án, quyết định của Tòa án là quan điểm dựa trên đòi hỏi có tính pháp quyền về việc bảo vệ quyền con người, duy trì, tôn trọng và bảo vệ công lý. Tôn trọng và thi hành bản án, quyết định của Tòa án chính là tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người trên thực tế. Khi nói về thi hành án, quan điểm khoa học của nhiều chuyên gia pháp lý cũng chia sẻ những giá trị nhân quyền này và tuyệt đối không coi thi hành án chỉ là vấn đề thứ yếu so với việc xét xử của Tòa án trước đó. GS. Jos Uitdehaag, Thư ký thứ nhất Hiệp hội quốc tế các chấp hành viên, thành viên Ban quản trị Hội đồng chấp hành viên Hoàng gia Hà Lan cho rằng, “thi hành án có hiệu lực và hiệu quả là một quyền cơ bản theo nguyên tắc pháp quyền” [17]. Chính vì vậy, các văn kiện quốc tế về quyền con người đều coi tiếp cận công lý là một tổ hợp các quyền của con người, từ quyền được xét xử công bằng và công khai, quyền về tố tụng công bằng (the right to fair trial) với hàm ý về sự bình đẳng về tư cách trước Tòa án, quyền được xét xử kịp thời, cho đến quyền đòi hỏi bản án phải được thực hiện. Những nội hàm này gắn bó mật thiết với nhau, không tách biệt, mặc dù mỗi loại quyền đều có giá trị nhân bản riêng của nó. Bắt đầu từ Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người năm 1948 đã xác định “quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan” (Điều 10); Đến Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 tiếp tục chỉ rõ: “Mọi người có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật” (Khoản 1 Điều 14); Khi bị buộc tội, người ta có “quyền được xét xử ngay và không bị trì hoãn vô lý” (Khoản 3, Điều 14), bởi “công lý bị trì hoãn là công lý bị chối bỏ”! Thi hành bản án, quyết định của Tòa án là nội dung yêu cầu của tính minh bạch của hoạt động tư pháp. Theo đó, “Không những công lý phải được thực hiện mà phải được nhìn thấy là đã được thực hiện” [33, p.419]. 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Tài liệu trong nƣớc 1. Hoàng Thế Anh (2015), Giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Tiến sĩ Luật học, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội. 2. Phạm Quốc Anh (2004), “Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về hoạt động Tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (62). 3. Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung Ương (2011), Báo cáo sơ kết 5 năm Hiệp hội NQ 49-NQ/TW của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tài liệu 22-23/4/2011. 4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội. 5. Bộ Tư pháp – Bộ Công an – Bộ Tài chính – Tòa án Nhân dân tối cao – Viện kiểm sát Nhân dân tối cao (2011), Thông tư liên tịch ngày 11 tháng 07 năm 2011 hướng dẫn về thủ tục Thi hành án dân sự, Hà Nội. 6. Bộ Tư pháp (2007), Thông tư 06/2007/TT-BTP của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện một số thủ tục hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự, Hà Nội. 7. Bộ Tư pháp (2010), Báo cáo tổng kết 10 năm công tác thi hành án dân sự 1993 – 2002 của Bộ Tư pháp 3/4/203; Báo cáo 16/BC-BTP ngày 29/01/2010 về công tác thi hành án dân sự năm 2009 và phương hướng nhiệm vụ năm 2010; Báo cáo sơ kết hai năm thi hành Luật Thi hành án dân sự năm 2011. 8. Bộ Tư pháp, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (1996), “Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại”, Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Mã số 95-98/114/ĐT, Hà Nội. 13 9. Chính phủ (2004), Nghị định 173/2004/NĐ-CP ngày 30 tháng 09 quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự, Hà Nội. 10. Chính phủ (2005), Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 04 năm 2005 của Chính phủ về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự, Hà Nội. 11. Nguyễn Đăng Dung (2002), “Một số vấn đề về tư pháp và các mô hình tư pháp phương Tây”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (10). 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 13. Trần Ngọc Đường (2004), “Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức thực hiện pháp luật – Nhiệm vụ trung tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (25). 14. Trần Đình Hảo (2003), “Về cải cách tư pháp và vấn đề thi hành án xét xử góc độc của luật kinh tế dân sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (14). 15. Học viện Tư pháp (2013), Tài liệu bồi dưỡng ngạch Thư ký thi hành án dân sự. 16. Lê Xuân Hồng (2002), Xã hội hóa một số nội dung thi hành án dân sự, Luậ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf00050007887_3442_2003211.pdf
Tài liệu liên quan