Luận văn Đánh giá năng lực áp dụng nguyên tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp trong thực hành tâm lý học lâm sàng cho trẻ em và vị thành niên

MỤC LỤC

Lời cảm ơn.i

Lời cam đoan .ii

Danh mục viết tắt.iii

Mục lục .iv

Danh mục bảng .vii

Danh mục biểu đồ .viii

MỞ ĐẦU.1

CHưƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.6

1.1. Lịch sử nghiên cứu.6

1.1.1. Sơ lược các nghiên cứu về thực hành đạo đức nghề trên thế giới .6

1.1.2. Lịch sử nghiên cứu thực hành đạo đức hành nghề ở Việt Nam.16

1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu.19

1.2.1. Đạo đức, Đạo đức nghề nghiệp.19

1.2.2. Tâm lý học, Nhà tâm lý học và Dịch vụ tâm lý.21

1.2.3. Tâm lý học lâm sàng và Nhà tâm lý học lâm sàng .21

1.2.4. Nguyên tắc và tiêu chuẩn.22

1.2.5. Khái niệm năng lực áp dụng và lý thuyết Bloom .22

1.2.6. Trẻ em và Vị thành niên .23

1.2.7. Hoạt động đánh giá năng lực áp dụng của người thực hành tâm lý học lâm sàng cho

trẻ em và vị thành niên.24

1.3. Cơ sở nền tảng đánh giá năng lực của nhà tâm lý lâm sàng .24

1.3.1. Luật Việt Nam hiện hành.24

1.3.2. Hướng dẫn đạo đức của các Hiệp hội nghề tâm lý trên thế giới.28

1.3.3. Hướng dẫn thực hành đạo đức trong y tế (y đức) .34

1.3.4. Hướng dẫn thực hành đạo đức trong ngành Công tác xã hội .36

1.3.5. Hướng dẫn thực hành đạo đức của luật sư.36

1.3.6. Hướng dẫn thực hành đạo đức tại một số cơ sở cung cấp dịch vụ tâm lý ở Việt Nam

.37

1.4. Các nguyên tắc đạo đức sử dụng để đánh giá năng lực áp dụng của nhà tâm lý lâm

sàng ở Việt Nam .38

Tiểu kết chương 1. .42

CHưƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHưƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .43

2.1.1. Tiến trình nghiên cứu.43v

2.1.2. Các giai đoạn nghiên cứu.44

2.2. Chọn mẫu điều tra.45

2.3. Sơ lược về địa bàn nghiên cứu.46

2.3.1. Miền Bắc.46

2.3.2. Miền Trung .46

2.3.3. Miền Nam .46

2.4. Mẫu nghiên cứu .47

2.5. Đặc điểm khách thể nghiên cứu.48

2.5.1. Tuổi.48

2.5.2. Giới tính.48

2.5.3. Trình độ chuyên môn.48

2.5.9. Giám sát hành nghề.51

2.6. Phương pháp nghiên cứu .51

2.6.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, thang đo.51

2.6.2. Phương pháp phỏng vấn .66

2.6.3. Phương pháp thống kê toán học.67

2.6.4. Đạo đức nghiên cứu .68

CHưƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.69

3.1. Thực trạng thực hành năng lực đạo đức nghề nghiệp của nhà tâm lý lâm sàng trẻ em và

vị thành niên.69

3.1.1. Những vấn đề chung .69

3.2.2. Trong lĩnh vực bảo mật.72

3.1.3. Trong lĩnh vực quan hệ đa chiều/sóng đôi.74

3.1.4. Trong lĩnh vực ứng xử với đồng nghiệp .75

3.1.5. Trong lĩnh vực năng lực.78

3.1.6. Trong lĩnh vực đánh giá và chẩn đoán.79

3.1.7. Trong lĩnh vực can thiệp và trị liệu.81

3.1.8. Trong lĩnh vực quảng cáo và phát ngôn.84

3.1.9. Chưa phân loại .86

3.1.10. So sánh ĐTB giữa hành vi, năng lực ra quyết định đạo đức và lý lẽ biện minh .87

3.2. Mối quan hệ giữa các đặc điểm nhân khẩu học và nguồn hỗ trợ thông tin đối với kết

quả thực hành năng lực đạo đức nghề nghiệp của nhà tâm lý .88

3.2.1. Các biến nhân khẩu học .88

3.2.2. Sử dụng nguồn hỗ trợ .91vi

3.3. Kiểm định hồi quy dự báo sự ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu học tới tổng điểm

năng lực thực hành đạo đức nghề nghiệp .94

Tiểu kết chương 3. .96

KẾT LUẬN.98

ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ .102

1. Đề xuất khuyến nghị chung .102

2. Đối với từng chủ thể .102

TÀI LIỆU THAM KHẢO.104

PHỤ LỤC .108

pdf56 trang | Chia sẻ: phuongchi2019 | Ngày: 02/11/2020 | Lượt xem: 60 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Đánh giá năng lực áp dụng nguyên tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp trong thực hành tâm lý học lâm sàng cho trẻ em và vị thành niên, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ối quan hệ xã hội và các mối quan hệ kinh doanh chồng chéo trong một cộng đồng có quy mô dân số nhỏ. Các nhà tâm lý học đã biết nội dung của quy tắc đạo đức nhưng thường phải vật lộn trong việc lựa chọn làm thế nào để áp dụng các quy tắc trong lợi ích tốt nhất của khách hàng. Các tình huống lưỡng nan được báo cáo thường xuyên nhất đứng thứ hai trong các tình huống khó xử liên quan đến mối quan hệ sóng đôi hoặc mơ hồ. Điều đó cho thấy rằng, các quan hệ sóng đôi xảy ra trong thực tế thường xuyên hơn là các báo cáo dưới dạng “có” hoặc “không” tham gia quan hệ sóng đôi từ các nhà tâm lý [45]. Về ứng xử với đồng nghiệp Ứng xử với đồng nghiệp, đặc biệt là với những đồng nghiệp có vi phạm về đạo đức chưa ba giờ là dễ dàng đối với nhà tâm lý. Pettifor & Sawchuk (2006) cho biết những khó khăn về đạo đức liên quan đến năng lực và ứng xử với các đồng nghiệp đã được xếp hạng thứ ba và bốn trong các lần xuất hiện trong nghiên cứu tại 9 quốc gia gồm Mỹ, Thụy Điển, Nam Phi, Vương quốc Anh, Mexico, Canada, Na Uy, Phần Lan và New Zealand sử dụng thiết kế phân loại 23 lĩnh vực của Pope và Vetter (1992) [12]. Về đánh giá và chẩn đoán. Qian và cộng sự (2008) đã dẫn chiếu các nghiên cứu trước đó của Qian và cộng sự (2006); Deng và cộng sự (2008) rằng một số nhà tâm lý đã tiến hành đánh 15 giá không cần thiết để tăng thu nhập của họ, hoặc để cung cấp cho khách hàng với kết quả giám định mà không có lời giải thích hoặc dán nhãn đối với trẻ em bằng sử dụng kết quả trắc nghiệm thông minh [14]. Trong khi đó, Lindén & Johanna Rådeström (2008) đưa ra kết luận của Knauss (2001) thì các vấn đề đạo đức thường xuyên nhất trong việc đánh giá tâm lý học sinh trong môi trường trường học là quy trình có sự đồng ý và tham gia của cha mẹ. Nhà tâm lý cung cấp dịch vụ vì lợi ích tốt nhất của trẻ em hay vì lợi ích tốt nhất của những người yêu cầu đánh giá là câu hỏi không dễ dàng có câu trả lời phù hợp. Ngoài ra , nhiều nhà tâm lý quan tâm là chất lượng dịch vụ đánh giá, chẩn đoán nếu công cụ đánh giá được thiết kế bởi các nước phương Tây trong khi chưa được chuẩn hóa tại các quốc gia phi phương Tây như Việt Nam [45]. Về can thiệp trị liệu Trong các nghiên cứu tại 9 quốc gia (nêu ở mục tình huống lưỡng nan) sử dụng các thiết kế của Pope và Vetter (1992) liên quan đến can thiệp nghi vấn và có hại được xếp loại là tiến thoái lưỡng nan thứ sáu về đạo đức thường xuyên nhất [12]. Còn Lindén & Johanna Rådeström (2008) dẫn chiếu phát hiện trong thống kê của Pope và Tabachnick (1994) thấy rằng 22% các nhà tâm lý học thừa nhận việc điều trị gây hại đã xảy ra [45]. Về năng lực chuyên môn Những nhà tâm lý làm việc trong trường đại học ở Slovakia đã cảm giác rằng họ thiếu khả năng và kiến thức vì phải giảng bài về các chủ đề vượt quá giới hạn của họ về kinh nghiệm và đào tạo; trong khi những nhà tâm lý làm việc ở trường học cấp thấp hơn thì phải đối mặt với tình trạngcác giáo viên, người quản lý hoặc cha mẹ học sinh can thiệp vào tất cả các vấn đề, yêu cầu giải quyết theo cách của họ. Thiếu kiến thức, không đủ năng lực để phân tích một cách chính xác tình huống khó xử, sợ hãi quá mức và không có khả năng hoạt động độc lập đối với người liên quan là những gì mà phần lớn những nhà tâm lý đang làm việc trong trường học ở Slovakia phải đối mặt [11]. Như vậy, vấn đề năng lực của nhà tâm lý có thể là sự thiếu tự tin hoặc mất tự do khi làm công việc của mình. Pope và Vetter (1992) đã xếp năng lực chuyên môn đứng vị trí thứ ba trong 23 loại khó khăn mà các nhà tâm lý Mỹ phải đối mặt trong quá trình hành nghề [13]. Điều này cũng xảy ra tương tự với 8 nước còn lại sử dụng cùng phân loại của 16 Pope và Vetter (1992) [13]. Thống kê của Gibson và Pope (1993) cũng cho thấy có 64% các nhà tham vấn sẵn sàng “đưa lời khuyên cá nhân trên đài, ti vi”, 7% các nhà tham vấn vẫn “làm việc mặc dù quá mệt mỏi”, không đảm bảo đầy đủ năng lực khi cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây trên thế giới cho thấy có vẻ năng lực đã không phải là khó khăn của các nhà tâm lý nữa, do sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục và yêu cầu cao hơn về trình độ của người xin cấp chứng chỉ hành nghề [7]. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, năng lực chuyên môn có thể sẽ vẫn phải tính đến khi mà việc đào tạo tâm lý và tuyển dụng còn nhiều bất cập. Về quảng cáo, phát ngôn Quảng cáo và phát ngôn chưa bao giờ được ghi nhận là một khó khăn khi quyết định thực hiện hành vi đối với nhà tâm lý. Tuy nhiên, trong báo cáo của Gibson và Pope (1993) cho thấy có tới 22% nhà tham vấn “nói với thân chủ rằng giá trị của họ là không có hiệu lực” và 66% “nói với thân chủ về thất vọng đối với thân chủ” [7]. Ngoài ra, trong bối cảnh nghề tâm lý đang được hình thành với nhiều người mạo danh nhà tâm lý để tư vấn thì lĩnh vực này vẫn cần được quan tâm để nghiên cứu. 1.1.1.5. Các lĩnh vực khảo sát năng lực áp dụng nguyên đạo đức nghề nghiệp Trong khuôn khổ của luận văn này, các lĩnh vực nghiên cứu sẽ được quan tâm để gồm 7 lĩnh vực chính mà có báo cáo các nhà tâm lý thường xuyên gặp khó khăn khi ra quyết định đạo đức và có vi phạm đạo đức đã được thống kê. Bảy lĩnh vực bao gồm bảo mật, quan hệ đa chiều, ửng xử với đồng nghiệp, năng lực, đánh giá và chẩn đoán, can thiệp và trị liệu, quảng cáo và phát ngôn. Bảng hỏi và thang đo sẽ được xây dựng trên cơ sở các lĩnh vực này và được thực hiện để tiến hành điều tra đối với người đang cung cấp dịch vụ tâm lý. 1.1.2. Lịch sử nghiên cứu thực hành đạo đức hành nghề ở Việt Nam Do hạn chế chưa có Quy tắc đạo đức hành nghề cho nhà tâm lý ở Việt Nam, chưa có tổ chức quản lý hay cấp phép hành nghề cho các nhà tâm lý nên việc thống kê và nghiên cứu về thực hành đạo đức nghề nghiệp còn nhiều hạn chế. Dưới đây là thống kê một số nghiên cứu tham khảo được cho tới thời điểm này. 1.1.2.1. Nghiên cứu của Trần Đình Lâm Trần Đình Lâm (2003) đã thực hiện nghiên cứu về thái độ của nhà tư vấn về những sai phạm trong hoạt động tham vấn tâm lý [23]. Nghiên cứu đã được tiến hành 17 trên 20 nhà tư vấn và 10 cử nhân tâm lý được đào tạo về lý thuyết và thực hành tư vấn tâm lý với bảng hỏi 19 câu hỏi mở cho khách thể là nhà tư vấn, 18 câu hỏi cho khách thể là cử nhân nhằm thu thập thông tin trực tiếp từ người làm tư vấn hiện nay và phân tích 10 ca tư vấn thu thập được trên các chuyên mục tư vấn của đài, báo, tạp chí và các ca tư vấn trên mạng internet được cung cấp từ các nhà tư vấn. Kết quả cho thấy, công việc của các cán bộ tư vấn chủ yếu là đưa ra lời khuyên hoặc giải pháp dựa trên kinh nghiệm cá nhân bất kể là khách hàng có thực hiện được hay không và họ cũng biết là không đem lại hiệu quả gì cho khách hàng. Trình độ tư vấn phản ánh sự thiếu chuyên nghiệp trong hành nghề tư vấn bởi các quy định chuẩn về trình độ tư vấn chưa có nên ai cũng có thể làm tư vấn tâm lý. Những cán bộ tâm lý được phỏng vấn đều cho rằng đào tạo về tư vấn chưa có hiệu quả và chưa giải quyết được yêu cầu của thực tiễn. Các nhà tư vấn được đào tạo chuyên ngành tâm lý không chứng minh được có khả năng vượt trội so với các ngành học khác (ví dụ như Văn học). Quyền lợi của thân chủ được đảm bảo hay không phải trông đợi vào “Lương tâm” của nhà tư vấn. Các cán bộ tư vấn thiếu tôn trọng các giá trị cá nhân của khách hàng, ngầm phê phán hành vi của khách hàng, áp đặt giá trị của mình lên giá trị của khách hàng làm cho khách hàng không tự tin và không tự giải quyết được vấn đề của mình. Đa số các nhà tư vấn không có hành vi tích cực trước những sai phạm của người khác. Có sự mâu thuẫn giữa nhận thức và hành vi của nhà tư vấn trước những hoạt động sai phạm trong tư vấn tâm lý. Các nhà tâm lý cũng khó có thể nhận biết được đầy đủ về các sai phạm của bản thân nếu không có sự giám sát. Tóm lại, các ca tư vấn trên đài, báo, tạp chí không đảm bảo thực thi các nguyên tắc đạo đức hành nghề như tôn trọng nhân phẩm và giá trị cá nhân của khách hàng, thiếu năng lực chuyên môn, sự chính xác và trách nhiệm. Hạn chế của nghiên cứu là chưa đưa ra được định nghĩa thế nào là đạo đức nghề nghiệp, nhưng mạnh dạn tham khảo các hướng dẫn đạo đức hành nghề của các nước có nghề tâm lý phát triển và dùng quy tắc của Hiệp hội tham vấn Hoa Kỳ ACA và sử dụng 11 nguyên tắc (cam kết) tham khảo từ các nguyên tắc tư vấn của Hiệp hội tư vấn Canada. Vì nghiên cứu các trường hợp tư vấn qua phương tiện truyền thông công cộng với thời gian cung cấp dịch vụ rất ngắn nên nghiên cứu không đánh giá về mức độ bảo mật, việc đánh giá hay trị liệu cũng như mối quan hệ với đồng nghiệp. 1.1.2.2. Nghiên cứu của Tô Thị Hạnh 18 Tô Thị Hạnh (2007) đã thực hiện nghiên cứu trên 15 người làm tham vấn từ các 4 trang mạng internet cung cấp dịch vụ tham vấn tâm lý, 10 người cung cấp dịch vụ tham vấn qua điện thoại và 5 người làm tham vấn trực tiếp độc lập trên địa bàn Hà Nội. Nghiên cứu tiến hành quan sát các nhà tư vấn làm việc tại 4 cơ sở tham vấn tâm lý là chủ sở hữu các website www.tamsubantre.org; www.tuoiomai.net; www.gioitinhtuoiteen.org.vn; và www.ulsa.edu. Kết quả cho thấy, một số tư vấn viên có thái độ bộc lộ ra ngoài như bực tức, khó chịu thông qua lời nói hoặc lựa chọn khách hàng. Chỉ có 1/4 cơ sở thông báo cho khách hàng về giới hạn bảo mật và những trường hợp tiết lộ thông tin. Có 1/4 cơ sở có địa điểm để lưu trữ hồ sơ khách hàng ổn định và cố định, có 3/4 cơ sở còn lại thì các tư vấn viên lưu trữ ở đâu cũng được và không có việc giám sát bảo mật thông tin. Cơ sở có nơi lưu trữ hồ sơ thì hoạt động lưu trữ mang tính tập trung và tất cả các tư vấn viên đều có quyền truy cập vào hồ sơ khách hàng của nhau. Ở 2/4 cơ sở, quản trị viên công nghệ thông tin đều có quyền truy cập vào hồ sơ của khách hàng. Tô Thị Hạnh (2007) kết luận “những người hành nghề tham vấn qua mạng đã có những kiến thức cơ bản về đạo đức hành nghề tham vấn” nhưng vẫn “xảy ra các hoạt động không công bằng hay có nguy cơ ảnh hưởng tới quyền lợi của họ (khách hàng) như lựa chọn khách hàng, chậm trễ trong trả lời thư, không lưu trữ thông tin về ca tham vấn” [20] 1.1.2.3. Nghiên cứu của Trần Thị Minh Đức Trần Thị Minh Đức là một trong những người tiên phong nghiên cứu và giảng dạy các quy định về đạo đức nghề nghiệp cho các nhà tâm lý ở Việt Nam. Bà là người đã giới thiệu “các nguyên tắc đạo đức căn bản” trong quá trình giảng dạy tại các trường Đại học và điều này ảnh hưởng tới nhiều thế hệ các nhà tâm lý của Việt Nam hiện nay. Các nguyên tắc bao gồm (1) giữ bí mật, (2) thân chủ trọng tâm, (3) chấp nhận thân chủ, (4) tôn trọng thân chủ, (5) tin tưởng vào khả năng tự giải quyết của thân chủ, (6) nhà tham vấn không gắn mình vào mối quan hệ cá nhân với thân chủ, và (7) bảo vệ phúc lợi của thân chủ [18]. Trần Thị Minh Đức sử dụng bộ câu hỏi 88 hành vi thiết kế bởi Gibson và Pope (1993) để điều tra thử nghiệm đối với 176 sinh viên ngành tâm lý và 20 nhà tham vấn đang hành nghề tại Hà Nội. Kết quả điều tra cho thấy các sinh viên đều có nhận thức tốt hơn về mối quan hệ sóng đôi, mối quan hệ tình dục với khách hàng là 19 vi phạm đạo đức nghề nghiệp so với các nhà tham vấn Mỹ (theo điều tra năm 1993). Trong nhóm hành vi ứng xử đúng về đạo đức với đồng nghiệp, người tham gia ở Việt Nam có nhận thức không tốt bằng những đồng nghiệp ở Mỹ (trong cuộc điều tra năm 1993). Tuy vậy, người Mỹ cũng thể hiện sự sai lầm đáng kể ở một số hành vi không đúng về đạo đức, chẳng hạn như “tính phí thù lao theo phần trăm lương của khách hàng” (12,1% ở Việt Nam và 55% ở Mỹ) [43]. Trần Thị Minh Đức (2016) đã thực hiện điều tra nhận thức của nhà tâm lý về bảo mật với số mẫu thu được n = 124 nhà tâm lý đang thực hành tại Hà Nội, trong đó 54,5% là giảng viên tâm lý học, 14,9% là nhà thực hành chuyên nghiệp, 10,7% là nhà nghiên cứu tâm lý và 19,8% là nhà tâm lý đang làm công việc khác. Tiêu chuẩn bảo mật được dựa trên cơ sở tham khảo quy tắc đạo đức của Hiệp hội tham vấn Hoa Kỳ, Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ, Hiệp hội Tham vấn và Trị liệu Tâm lý Canada, Hiệp hội các nhà trị liệu Gestalt Châu Âu và các Hiệp hội tâm lý khác từ Thụy Sỹ, Philippines và Hội nghề Công tác xã hội Quốc gia. Kết quả thu được cho thấy “chỉ có 44,5% các nhà tâm lý có nhận thức đúng khi cho rằng các nhà tham vấn phải nói với khách hàng về ngoại lệ, giới hạn của việc giữa bí mật thông tin khách hàng”. Qua tổng hợp 16 tình huống đòi hỏi hành vi đạo đức thuộc hai nhóm “các nhà tham vấn phải nói với khách hàng về ngoại lệ, giới hạn của việc giữa bí mật thông tin khách hàng” và “tình huống không được tiết lộ bí mật của khách hàng”, Trần Thị Minh Đức (2016) kết luận rằng “chỉ có 50,8% số nhà tâm lý được khảo sát thật sự có các hiểu biết đúng đắn về các tình huống ứng xử đạo lý liên quan đến bảo mật” [19]. 1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu 1.2.1. Đạo đức, Đạo đức nghề nghiệp Nội dung và mục tiêu của đạo đức luôn mang tính nhân văn cao cả. Thứ nhất, đạo đức thường có nội dung và hướng tới sự tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Các quyền cơ bản được chia thành ba nhóm gồm (1) được sống trọn vẹn cuộc đời với thể chất và tinh thần khỏe mạnh, (2) được nhận sự tôn trọng và bảo vệ từ những người khác, và (3) được tự do biểu đạt ý chí của mình và tự do thực hiện các ý chí đó. Thứ hai, sự ra đời của quy tắc đạo đức là để hướng tới xây dựng một cộng đồng lành mạnh, bình đẳng, đoàn kết – tương hỗ, nhân ái và vì sự 20 phát triển. Thứ ba, quy tắc đạo đức được xây dựng để nhằm kiềm chế và ngăn chặn sự tấn công các quyền cơ bản của con người và lợi ích cộng đồng. Khái niệm đạo đức được phổ biến khá rộng rãi và được đề cập nhiều trong các văn bản chính thức. Theo Từ điển Tiếng Việt ghi nhận đạo đức là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và với xã hội” [24]. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” [27]. Tuy nhiên, nếu khái niệm về đạo đức nghề nghiệp chỉ dừng ở sự tự nguyện hoặc “Lương tâm” [23] của người hành nghề thì sẽ không ngăn chặn được hành vi thiếu ý thức hoặc được thực hiện bởi một lỗi cố ý có chủ đích. Bởi lẽ, nhờ công việc đặc biệt của mình mà nhà tâm lý được tiếp cận với những thông tin vốn có thể gây hại cho khách hàng hoặc người nào đó. Và để bảo vệ những người yếu thế và tránh sự lạm dụng, đạo đức nghề nghiệp không thể ngang hàng với đòi hỏi đạo đức thông thường, nó là đặc trưng riêng của nghề nghiệp, có nhiệm vụ lấp đầy phần khuyết thiếu mà pháp luật không thể bao quát hết cho ngành nghề đó. Đạo đức hành nghề thể hiện tính chất chuyên nghiệp của một ngành nghề nào đó, góp phần quan trọng trong quá trình ra quyết định của chuyên gia, giúp chuyên gia làm rõ những trách nhiệm của mình đối với xã hội, mang lại sự yên tâm cho xã hội đồng thời giúp các chuyên gia duy trì sự công bằng và liêm chính khi hành nghề cũng như trong quan hệ với thân chủ và cộng sự. Tô Thị Hạnh (2007) lại có tư tưởng “đạo đức trong tham vấn là làm đúng, làm có trách nhiệm, làm hết mình vì công việc. Nó không chỉ là không làm điều xấu cho thân chủ mà còn mà là phải là làm hết sức vì lợi ích của thân chủ” [20]. Tuy nhiên, nhà tâm lý khi hành nghề không chỉ phục vụ cộng đồng xã hội mà còn cố gắng xây dựng cộng đồng tâm lý học chuyên nghiệp. Khác với nội dung của đạo đức thông thường, nhà tâm lý khi hành nghề không sử dụng bạo lực tinh thần. Ngược lại, Nhà tâm lý sử dụng các biện pháp tích cực như khuyến khích, khen thưởng, ca ngợi để hướng những người khác và bản thân vào các suy nghĩ, cảm xúc, hành vi tích cực thay thế cho điều tiêu cực. Vì thế, nhà tâm lý tự đặt ra cho mình những nguyên tắc, tiêu chuẩn và có trách nhiệm phải tuân theo nó. Sự tự vấn và tự trừng phạt bản thân của người vi phạm được ưu tiên sử dụng trước khi các thiết chế xã hội thực hiện nhiệm vụ trừng phạt người vi phạm. Lê Thị Huyền Trang và Trần 21 Thành Nam (2016) đã đưa ra quan điểm rằng “đạo đức hành nghề cần được hiểu là một tập hợp những nguyên tắc, quy tắc hay chuẩn mực ứng xử do một hiệp hội nhà nghề nào đó thừa nhận hoặc ban hành dựa trên các giá trị cơ bản của xã hội và nghề nghiệp nhằm điều chỉnh hành vi của những người hành nghề trong quan hệ với nhau, với người khác và với xã hội. Chúng vừa phải được các thành viên của hiệp hội cam kết tự nguyện thực hiện, vừa phải được đảm bảo thi hành bởi một cơ quan chuyên môn của hiệp hội đó” [36]. 1.2.2. Tâm lý học, Nhà tâm lý học và Dịch vụ tâm lý Tâm lý học là ngành khoa học độc lập nghiên cứu về sự hình thành, vận hành và phát triển của hoạt động tâm lý – một hiện tượng tinh thần được sinh ra do thế giới khách quan tác động vào não của con người [33]. Nhà tâm lý là “một người được đào tạo về nghiên cứu tâm lý hoặc thực hành lâm sàng về tâm lý và thường tích cực tham gia vào một trong những lĩnh vực này. Những người như vậy thường có trình độ tiến sĩ tâm lý và được yêu cầu phải có giấy phép để tham gia vào thực hành lâm sàng trong hầu hết các lĩnh vực, mặc dù trong một số khu vực, một số hoạt động được thực hiện mà không có bằng tiến sĩ” [5]. Trong giới hạn Luận văn này, khái niệm “nhà tâm lý” được hiểu là những người được đào tạo chuyên ngành tâm lý hoặc tự nhận mình là nhà tâm lý để quảng cáo và cung cấp dịch vụ tâm lý cho cộng đồng. Dịch vụ là “công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” [24]. Bộ luật dân sự mô tả về Hợp đồng dịch vụ “là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ” [29]. Như vậy, dịch vụ tâm lý có thể hiểu là công việc do người có chuyên môn tâm lý thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn, tư vấn, đánh giá, trị liệu hay các hoạt động hỗ trợ tâm lý khác và được trả công trên cơ sở thỏa thuận với bên yêu cầu dịch vụ. 1.2.3. Tâm lý học lâm sàng và Nhà tâm lý học lâm sàng Theo APA, “tâm lý học lâm sàng là ngành tâm lý học đặc thù, cung cấp liên tục và toàn diện CSSKTT và hành vi đối với cá nhân và gia đình; tư vấn cho các cơ quan và cộng đồng; đào tạo, giáo dục và giám sát; và thực hành dựa trên nghiên cứu. Đó là một ngành đặc thù theo bề rộng - một ngành mà khái quát bao gồm bệnh 22 tâm thần nghiêm trọng - và được chỉ rõ bởi sự toàn diện và tích hợp các kiến thức và kỹ năng từ một mảng rộng lớn của ngành trong và ngoài tâm lý thích hợp. Phạm vi của tâm lý học lâm sàng bao gồm tất cả các lứa tuổi, nhiều sự đa dạng và hệ thống đa dạng” [38]. Trong khi đó, Từ điển Cambridge định nghĩa tâm lý học lâm sàng là “một ngành của tâm lý học, áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học tâm lý để trị liệu những rối loạn tâm thần hoặc để nghên cứu cách chữa trị các rối loạn tâm thần” [5]. Nói theo cách của Ủy ban Tâm lý học chuyên nghiệp Hoa Kỳ (ABPP) thì “tâm lý học lâm sàng là sự kết hợp của thực hành chung và một nhà cung cấp dịch vụ y tế chuyên khoa tâm lý học chuyên nghiệp” [39]. Nhà tâm lý học lâm sàng “là cá nhân có bằng tiến sĩ về tâm lý thực hiện áp dụng các trắc nghiệm, đánh giá, trị liệu, tư vấn hoặc các nhiệm vụ tâm lý khác đối với cá nhân riêng lẻ hoặc một nhóm người mắc rối loạn tâm thần” [5]. ABPP thì ghi nhận rằng “nhà tâm lý lâm sàng cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp cho việc chẩn đoán, đánh giá, thẩm định, điều trị và phòng ngừa các rối loạn tâm lý, tình cảm, tâm sinh lý và hành vi trên tuổi thọ” [39]. 1.2.4. Nguyên tắc và tiêu chuẩn Nguyên tắc là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [24]. Nguyên tắc có đặc điểm là tính bao trùm (một số các quy phạm cụ thể, một lĩnh vực), tính hệ thống (chỉ mối quan hệ giữa các nguyên tắc), tính ổn định (khả năng ít thay đổi) và tính phổ quát (thừa nhận rộng rãi). Trong phạm vi nghiên cứu này, “nguyên tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp tâm lý học lâm sàng là những quy phạm đạo đức cơ bản nhất, khái quát nhất, do cộng đồng những người hành nghề thừa nhận và/hoặc được Hiệp hội nhà nghề ban hành có khả năng chi phối một loạt những việc làm của người thực hành tâm lý học lâm sàng”. Tiêu chuẩn là “cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng” [24]. Một số tài liệu sử dụng một từ khác có ý nghĩa gần giống là chuẩn mực. Trong phạm vi nghiên cứu này, từ tiêu chuẩn và chuẩn mực sẽ được sử dụng thay thế với ý nghĩa tương đương nhau; từ năng lực áp dụng đôi khi có thể được thay thế bằng từ năng lực thực hành. 1.2.5. Khái niệm năng lực áp dụng và lý thuyết Bloom Từ điển Tiếng Việt (2000) đã diễn giải năng lực là “phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất 23 lượng cao” [24]. Trong lĩnh vực tâm lý, “năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả”[37]. Áp dụng được hiểu là “đem dùng trong thực tế điều đã nhận thức được” [24]. Benjamin Bloom (1913-1999) là người tiên phong trong việc đưa ra lý thuyết về mô hình năng lực ASK được hợp thành bởi 3 yếu tố Attitude (phẩm chất/thái độ thuộc về xúc cảm, tình cảm), Skill (kỹ năng, thao tác) và Knowledge (nhận thức, khả năng tư duy). Bloom cũng phát kiến ra Phân loại bậc thang nhận thức mà sau này được, Lorin Anderson, một cựu sinh viên của Bloom, và David Krathwohl thực hiện một số thay đổi để thành 6 bậc gồm Ghi nhớ (remember) được hiểu là gọi lại được các nhân tố và khái niệm cơ bản; Hiểu (understand) là giải thích ý tưởng hoặc khái niệm; Áp dụng (apply) là sử dụng thông tin trong hoàn cảnh mới; Phân tích (analyze) là tìm các liên kết giữa các ý tưởng; Đánh giá (evaluate) là đánh giá, chứng minh một luận điểm hoặc một quyết định cụ thể; và Sáng tạo (create) là tạo ra một sản phẩm mới hoặc nguyên bản. Từ những thông tin trên và trong phạm vi nghiên cứu này, “năng lực áp dụng các nguyên tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp được hiểu là khả năng của cá nhân sử dụng các kiến thức về đạo đức nghề nghiệp để cư xử với thân chủ/khách hàng, đồng nghiệp và những người liên quan nhằm đạt mục tiêu cung cấp dịch vụ có chất lượng”. Việc đảm bảo rằng những hoạt động dịch vụ tâm lý được cung cấp mang tính nhân văn không chỉ dựa vào việc có hay không có quy tắc đạo đức sẵn có mà còn phụ thuộc vào năng lực áp dụng của đối tượng bị điều chỉnh bởi quy tắc đó. Ellen Lindén & Johanna Rådeström (2008) chỉ ra rằng một quy tắc đạo đức không bao giờ có thể bao trùm được hết tất cả các tình huống và các nhà tâm lý học sẽ luôn dựa vào khả năng suy ngẫm về hành vi của mình và ra quyết định [45] . 1.2.6. Trẻ em và Vị thành niên Khái niệm trẻ em và vị thành niên không chỉ được mô tả rõ ràng trong Từ điển tiếng Việt mà còn được thừa nhận chính thức trong hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế. Công ước quốc tế về quyền trẻ em ghi nhận trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia quy định độ tuổi sớm hơn [16]. Ở Việt Nam, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em hiện hành chỉ công nhận trẻ em “là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [26], nhưng Luật trẻ em năm 2016, có hiệu lực 24 từ 1/7/2017 sẽ mở rộng hơn đối tượng trẻ em thành “là người dưới mười sáu tuổi” [31]. Điều đó có nghĩa là, những người dưới 16 tuổi, không phụ thuộc vào việc họ là công dân Việt Nam, công dân nước khác hoặc người không có quốc tịch, có hay không có cư trú thường xuyên trên lãnh thổ Việt Nam đều được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam coi là trẻ em. Đây là điểm hết sức quan trọng vì nó liên quan đến chính sách bảo hộ và ưu đãi đối với đối tượng được xác định là “còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt” này. Từ điển tiếng Việt ghi nhận “vị thành niên là chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân đầy đủ các quyền và nghĩa vụ” [24]. Ở Việt Nam, Bộ luật dân sự quy định “người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi” [29]. Nghiên cứu này quan tâm tới khách thể là những nhà tâm lý đang cung cấp dịch vụ tâm lý lâm sàng cho trẻ em và vị thành niên, tức là tất cả những đối tượng chưa đủ 18 tuổi. 1.2.7. Hoạt động đánh giá năng lực áp dụng của người thực hành tâm lý học lâm sàng cho trẻ em và vị thành niên Trong phạm vi nghiên cứu này, hoạt động đánh giá năng lực của người thực hành tâm lý học lâm sàng cho trẻ em và vị thành niên sẽ được thực hiện bởi những người có chuyên môn cao về tâm lý học lâm sàng cho trẻ em và vị thành niên, dựa trên các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp cơ bản được thừa nhận rộng rãi ở Việt Nam. Việc đánh giá sẽ tính đến các nhân tố có tạo thành năng lực như yếu tố sinh lý, bẩm sinh (giới tính, độ tuổi), sự giáo dục (trình độ đào tạo và chuyên ngành đào tạo), kinh nghiệm và sự từng trải (kinh nghiệm và giám sát) và ý chí nỗ lực của bản

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf05050002855_932_2002730.pdf
Tài liệu liên quan