Luận văn Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn tỉnh Tây Ninh (giai đoạn 2011 - 2020)

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu và các chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

Mở đầu . 1

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. . 6

1.1.Khái niệm,vai trò và sự cần thiết khách quan đẩy nhanh CNH, HĐH

nông nghiệp, nông thôn . 6

1.1.1. Một số khái niệm . 6

1.1.2. Vai trò đẩy nhanh CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn . 9

1.1.3. Sự cần thiết khách quan đẩy nhanh CNH, HĐHnông nghiệp, nông thônTây Ninh. 11

1.2. Những quan điểm cơ bản của các nhà kinh tế học, chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn . 12

1.2.1. Quan điểm của các nh à kinh tế học. . . 12

1.2.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin. 14

1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh . 17

1.2.4. Quan điểm của Đảng ta. 18

1.3. Các nhân t ốcơ bản ảnh h ưởng đến quá trình đẩy nhanh CNH, HĐHnông

nghiệp, nông thôn. . . . 23

1.3. 1. Nguồnvốn . . . . 23

1.3. 2. Nguồn nhân lực. 24

1.3. 3. Khoa học –công nghệ. 25

1.3. 4. Thị trường nông nghiệp, nông thôn . 26

1.4. Kinh nghiệm đẩy nhanhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,

nông thôn và bài học rút ra cho Tây Ninh . 27

1.4. 1. Kinh nghiệm đẩy nhanh CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn. 27

1.4. 2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Tây Ninh trong quá trình đẩy nhanh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. 35

Chương 2: Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,

nông thôn tỉnh Tây Ninh . . 37

2.1. Đặc điểm tự nhiên -kinh tế –xã hội tỉnh Tây Ninh . 37

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên . 37

2.1.2. Nguồn lực kinh tế -xã hội . 39

2.2.Thực trạng quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông

thôn giai đoạn2001 -2010 . 42

2.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,nông thôn . 42

2.2.2. Ứng dụng tiến bộ khoa học -công nghệvào nông nghiệp, nông thôn . 49

2.2.3. Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn . 51

2.2.4. Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp . 53

2.2.5. Nguồn nhân lực . . 56

2.2.6. Giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe . 57

2.2.7. Xây dựng đời sống văn hóa -xã hội . 58

2.2.8. Đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân thành tựu, hạn chế . 59

2.2.9. Bài học kinh nghiệm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

nông nghiệp, nông thôn Tây Ninh. 65

2.2.10. Những vấn đề đặt ra trong quá trình đẩy nhanh công nghiệp hóa,

hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn . 66

Chương 3: Quan điểm, phương hướng, giải pháp đẩy nhanh CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn Tây Ninh đến năm 2020 . 68

3.1. Quan điểm . 68

3.2. Phương hư ớng . 69

3.2.1. Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu, nâng cao hiệu quả kinh tế nông

nghiệp, nông thôn . . 69

3.2.2. Đẩy nhanh đầu tư xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội . 74

3.2.3. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu

của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa . 74

3.2.4. Nâng cao hiệu quả của khoa học và công nghệ đối với sự nghiệp

phát triển kinh tế-xã hội . 75

3.2.5. Quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường bền vững . 76

3.2.6. Chuyển dịch cơ cấu lao động, đào tạo và đào tạo lại, giải quyết việc

làm, xóa đói giảm nghèo. . 76

3.2.7. Phát triển mạnh sự nghiệp văn hóa, y tế, nâng cao chất lượng chăm

sóc sức khỏe nhân dân . 77

3.3. Các giải pháp chủ yếu đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn .78

3.3.1. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, phát triển nhanh kết cấu

hạ tầng KT-XH và xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại . 78

3.3.2. Đẩy nhanh phát triển công nghiệp –tiểu thủ công nghiệp phù hợp ở

từng vùng để hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn phát triển . 82

3.3.3. Phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của

quá trình phát triển nhanh và bền vững . 83

3.3.4. Đẩy nhanh phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. . 85

3.3.5. Huy động, sử dụng có hiệu quả vốn và các nguồn lực đầu tư phát triển . 86

3.3.6. Phát triển thương mại –dịch vụ . 87

3.3.7. Thực hiện tốt các chính sách kinh tế -xã hội . 88

3.4. Kiến nghị. 90

Kết luận. . 91

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

pdf111 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 24/10/2013 | Lượt xem: 923 | Lượt tải: 16download
Tóm tắt tài liệu Luận văn Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn tỉnh Tây Ninh (giai đoạn 2011 - 2020), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ều này cần quan tâm hơn nữa trong thời gian tới, đặc biệt là chuẩn bị nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao đáp ứng yêu cần của thị trường lao động khi Tây Ninh tham gia hội nhập kinh tế và phát triển công nghiệp. 2.2. Thực trạng quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001-2010 2.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, nhìn bảng cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) dưới đây ta thấy tốc độ chuyển dịch này còn chậm. Bảng 2: Cơ cấu GDP theo ngành (tính theo tỷ lệ %) Năm Ngành 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 N/nghiệp 47,20 46,88 42,33 40,45 38,25 35,12 32,19 30,30 28,75 26,80 C/nghiệp 20,50 21,02 25,56 25,06 25,14 25,62 26,33 25,40 27,09 28,97 Dịch vụ 32,30 32,10 32,11 34,49 36,61 39,26 41,48 44,30 44,16 44,23 Nguồn: Niên giám thống kê năm 2009, 2010 - Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh 43 Tổng sản phẩm toàn tỉnh (GDP) tăng bình quân giai đoạn 2001 – 2010 là 14%/năm, tăng cao hơn so với mức tăng bình quân của giai đoạn 1996 – 2000 (13,5%) và cao hơn so với mức tăng GDP bình quân của cả nước giai đoạn 2006 – 2010 (7%). + Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân hàng năm: giai đoạn 2001 – 2005 tăng 9,16%, giai đoạn 2006 – 2010 tăng 7%. + Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm: giai đoạn 2001 – 2005 tăng 17,85%, giai đoạn 2006 – 2010 tăng 16,8%. + Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân hàng năm: giai đoạn 2001 – 2005 tăng 17,88%, giai đoạn 2006 – 2010 tăng 21,5%. Cơ cấu kinh tế theo thành phần đang chuyển dịch theo hướng sắp xếp lại và đổi mới khu vực kinh tế nhà nước, phát huy tiềm năng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. 2.2.1.1. Ngành nông nghiệp Ngành nông nghiệp có vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Sự tăng trưởng và phát triển ổn định của ngành nông nghiệp là cơ sở cho sự ổn định xã hội và đẩy nhanh tốc độ phát triển cũng như tăng trưởng nhanh của ngành công nghiệp và dịch vụ. Sản xuất nông nghiệp liên tục tăng trưởng ở mức cao, tốc độ phát triển bình quân giai đoạn 2001-2010, giá trị sản xuất nông nghiệp (giá chuyển đổi năm 1994) tăng bình quân hàng năm 7,71%. Trong đó, nông nghiệp tăng 7,71%, lâm nghiệp tăng 5,69%, thủy sản tăng 12,57%/năm. Năm 2010, giá trị sản xuất ngành nông – lâm – thủy sản đạt 5.806.012 triệu đồng, trong đó nông nghiệp 5.541.102 triệu đồng chiếm 95,44%, lâm nghiệp 153.912 triệu đồng chiếm 2,65%, thủy sản 110.998 triệu đồng chiếm 1,91%. (Phụ lục 2, 3) Trong toàn bộ giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản thì ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng cao. Về thành phần kinh tế trong nông nghiệp thì kinh tế ngoài quốc doanh đóng vai trò quan trọng và chiếm tới 91,1% trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp trên địa bàn chưa đáng kể. 44 2.2.1.1.1. Ngành trồng trọt Ngành trồng trọt vẫn là ngành sản xuất chính trong ngành nông nghiệp; với hình thức đa canh, thâm canh, giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 6,08% chiếm tỷ trọng lớn 79,68% trong giá trị sản xuất ngành nông nghiệp. Ngành chăn nuôi, dịch vụ trong nông nghiệp có xu hướng tăng dần nhưng còn thấp. Bảng 3: Cơ cấu GDP theo ngành nông nghiệp (tính theo tỷ lệ %) Năm Nông nghiệp 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Trồng trọt 91.60 91.70 90.40 90.23 87.76 87.85 86.37 82.90 82.36 79.68 Chăn nuôi 7.56 7.48 8.62 8.71 10.37 10.13 11.24 14.09 13.61 15.80 Dịch vụ 0.85 0.82 0.98 1.06 1.87 2.02 2.40 3.00 4.03 4.52 Nguồn: Niên giám thống kê năm 2009, 2010 - Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh + Cây lúa là cây trồng chính, năm 2010 với diện tích 154.510 ha chiếm 44,44% tổng diện tích đất nông nghiệp, sản lượng đạt 739.000 tấn. Do ứng dụng tiến bộ KH-KT, mặt dù diện tích đất giảm bình quân hàng năm 0,77%/năm , nhưng sản lượng lúa tăng bình quân hàng năm 3,51%. Sản lượng lúa bình quân đầu người năm 2001 đạt 540,06 kg/người/năm, năm 2005 đạt 564 kg/người/năm, năm 2010 đạt 687,22 kg/người/năm. (Phụ lục 4, 5, 6). Mô hình liên kết 4 nhà, thâm canh lúa hiệu quả, bền vững theo hướng VietGAP trong vụ lúa đông xuân 2010-2011 trên địa bàn 11 xã, thuộc 6 huyện, với 920,75 ha và 653 hộ nông dân tham gia. Tổng lợi nhuận trên 01 ha của nông dân trong mô hình là 17,9 triệu đồng, tăng hơn 3,4 triệu đồng so với các hộ nông dân ngoài mô hình. + Cây mì (sắn) có tốc độ tăng nhanh về diện tích, năm 2005 diện tích 43.279 ha đạt sản lượng 1.071 nghìn tấn, năm 2010 diện tích trồng mì là 45.713 ha đạt sản lượng 1.150 nghìn tấn. Diện tích trồng mì năm 2010 tăng 45 1,8 lần so năm 2001, chiếm 18,26% diện tích cây hàng năm. Diện tích trồng mì tăng là do giá cả, điều kiện thuận lợi và ít đầu tư về vốn. Điều này cũng ảnh hưởng chung đến quy hoạch đất nông nghiệp. + Cây mía là cây có lợi thế so sánh của tỉnh đối với cả nước. Diện tích trồng mía năm 2010 là 25.478 ha, sản lượng 1.828.441 tấn, năng suất bình quân 71,77 tấn/ha. Do áp dụng giống mới, kỹ thuật thâm canh, áp dụng cơ giới hóa… để tăng năng suất và chất lượng mía. Cây Mía trồng tập trung ở các huyện: Tân Châu, Châu Thành, Dương Minh Châu, Tân Biên. Mô hình đưa mía xuống vùng đất thấp với giống K88-65, K88-92, K95- 156… năng suất đạt 80 - 100 tấn/ ha, trong khi sản xuất mía trên cao năng suất bình quân chỉ đạt 45 – 55 tấn/ha; Đây là mô hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao. + Cây cao su, diện tích năm 2001 là 28.957 ha, năm 2010 là 76.213 ha, năng suất 116.530 tấn. Diện tích tăng bình quân hàng năm 11,32%, chiếm 77,46% diện tích cây công nghiệp lâu năm. Cây cao su trồng với diện tích lớn ở huyện Tân Biên, Tân Châu. + Cây ăn quả, diện tích năm 2001 là 15.185 ha, năm 2010 tăng lên 18.650 ha. Cây ăn quả chủ yếu là nhãn, xoài, mãng cầu và chuối… + Cây điều, đậu phộng diện tích đều giảm do biến động mạnh về thị trường và giá cả làm ảnh hưởng đến lợi ích người sản xuất. Cây điều, đậu phộng là những cây có thế mạnh của vùng đất Tây Ninh tuy nhiên sự đầu tư, định hướng chưa phù hợp nên người nông dân phải chuyển đổi cây trồng. Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tích cực, các loại cây như: lúa, mía, mì... phát huy lợi thế cạnh tranh. Góp phần đảm bảo an toàn lương thực trên địa bàn, đang hình thành vùng nguyên liệu mía, mì, đậu phộng và cao su tập trung lớn của tỉnh và cả nước. Việc ứng dụng tốt tiến bộ khoa học trong chọn giống, gieo trồng thích hợp và trong canh tác đã làm tăng năng suất, sản lượng. Tuy nhiên, việc phát triển một số cây trồng biến động thất thường làm ảnh hưởng đến sản xuất chế biến và gây ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập, đời sống người dân. Bên cạnh đó, diện tích đất nông nghiệp 46 có xu hướng giảm do quá trình đô thị hóa và xây dựng các khu, cụm công nghiệp (Năm 2010 giảm so với năm 2001: 22.211 ha). 2.2.1.1.2. Ngành chăn nuôi Ngành chăn nuôi có bước phát triển, hình thành các mô hình chăn nuôi trang trại. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2001 (giá so sánh 1994) đạt 205,2 tỷ đồng, năm 2005 tăng lên đạt 418,2 tỷ đồng, năm 2010 đạt 894 tỷ đồng chiếm 15,8% giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp và đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm 16,3%. (Phụ lục 2, Phụ lục 7). Tổng đàn gia súc, gia cầm đều tăng qua các năm, nhất là bò sind hướng thịt, heo hướng nạc phát huy được lợi thế cạnh tranh. Các dự án thuộc Chương trình giống của tỉnh: “Phát triển chăn nuôi bò sữa”, “Lai cải tạo đàn bò hướng Zêbu và hướng thịt”, “Phát triển chăn nuôi heo hướng nạc”… nuôi theo trang trại ghép (kết hợp nuôi heo, trồng trọt hoặc nuôi cá) được triển khai đã góp phần nâng cao chất lương con giống, tăng sản lượng sữa, thịt, trứng góp phần nâng cao chất lượng con giống và đẩy nhanh tốc độ phát triển chăn nuôi trong tỉnh. Giai đoạn 2001-2010: Đàn bò tăng bình quân 10,31%/năm; Đàn trâu giảm 5,20%/năm; Đàn lợn tăng 7,04%/năm; Đàn gia cầm tăng 4,5%/năm. Nhìn chung, dù đạt được tốc độ tăng trưởng cao song tỷ trọng giá trị sản xuất của lĩnh vực chăn nuôi trong ngành nông nghiệp chưa cao, sự phát triển của ngành chưa bền vững do yếu tố dịch bệnh gia súc, gia cầm. 2.2.1.1.3. Ngành dịch vụ nông nghiệp Trong những năm qua, cuộc sống người dân đã từng bước được cải thiện, nhu cầu của nông dân ngày càng cao nên các loại hình dịch vụ nông nghiệp từng bước phát triển. Các loại hình dịch vụ như: cung cấp giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y… góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Giá trị sản xuất ngành dịch vụ nông nghiệp chiếm 4,52% trong giá trị sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, việc phát triển thị trường dịch vụ nông nghiệp, nông thôn còn chậm, những hình thức kinh doanh thương mại hiện đại, văn minh vẫn còn phát triển chậm. 47 2.2.1.2. Ngành thủy sản Nuôi trồng thủy sản đang có chiều hướng phát triển tập trung chủ yếu ở các huyện Trảng Bàng, Dương Minh Châu, Châu Thành; diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng bình quân hàng năm 5,29%. Năm 2010 diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản đạt 1.620,69 ha, gấp 2 lần so với năm 2005. Bên cạnh các mô hình thủy sản truyền thống (cá mè, cá chép, cá rô phi), các mô hình thủy sản có giá trị cao như: cá rô đồng, cá bống tượng, cá điêu hồng…có chiều hướng phát triển; hiện nay, đang có một số doanh nghiệp đầu tư nuôi cá tra thâm canh qui mô lớn phục vụ công nghiệp chế biến cá. Nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu tại huyện Trảng Bàng được xây dựng hoàn thành và đưa vào hoạt động từ tháng 8/2010. Giá trị sản xuất ngành thủy sản: năm 2001 đạt 37 tỷ đồng, năm 2005 đạt 67 tỷ đồng và năm 2010 đạt 110 tỷ đồng, tăng bình quân 8,45%/năm. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng bình quân 10,6%/năm. Mặt dù vậy, ngành thủy sản vẫn đóng góp rất thấp trong tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, đạt khoảng 1,9%. Mô hình nuôi cá Sặc rằn và cá Rô đồng đã được phát triển mạnh trong tỉnh. Nông dân được tập huấn kỹ thuật sinh sản nhân tạo giống cá Sặc rằn và cá Rô đồng do Trung Tâm Khuyến ngư Quốc gia chuyển giao; hiện nay nông dân đã tự sản xuất giống đáp ứng nhu cầu giống tại địa phương. Ngành thủy sản bước đầu đã hình thành các mô hình trang trại nuôi thủy sản quy mô vừa và nhỏ có giá trị cao như cá rô đồng, cá bống tượng, cá điêu hồng, cá sấu,… và có xu hướng phát triển mạnh. Các cơ sở sản xuất và cung ứng giống cũng tăng nhanh về số lượng con giống, chất lượng con giống cũng bảo đảm. Bên cạnh đó vẫn còn bọc lộ hạn chế như nuôi nhỏ lẻ, sản phẩm giá trị thấp như cá mè, cá chép, cá rô phi… vì đầu tư nuôi các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao đòi hỏi nhu cầu vốn lớn. 2.2.1.3. Ngành lâm nghiệp Ngành lâm nghiệp đã có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế vào bảo vệ và phát triển rừng như trồng và nuôi rừng, khai thác gỗ, dịch vụ lâm 48 sản. Giá trị sản xuất lâm nghiệp (theo giá so sánh 1994) tăng đều qua các năm (phụ lục 2), năm 2001 là 95.091 triệu đồng, năm 2010 là 153.912 triệu đồng (Năm 2010 so với năm 2001 tăng 61,86%). Diện tích rừng trồng mới giai đoạn 2006 - 2010 bình quân 560 ha/năm. Đến năm 2010 diện tích đất có rừng 45.282 ha (chưa kể diện tích khoanh nuôi rừng tái sinh 10.354 ha), nâng tỷ lệ độ che phủ tự nhiên đạt 40,5%, trong đó độ che phủ rừng (không tính cây cao su) là 11%. Sản phẩm lâm nghiệp chủ yếu là: trồng rừng tập trung, phân tán, chăm sóc rừng, khai thác gỗ tròn, củi, tre nứa… Mức độ tăng bình quân của ngành là 5,7% năm cao hơn so với tăng bình quân của cả nước (1,3%) là thành quả đáng khích lệ của ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên, do hầu hết rừng ở Tây Ninh là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng còn rừng kinh tế (rừng sản xuất) chiếm tỷ lệ nhỏ nên mức độ đóng góp của ngành lâm nghiệp trong nền kinh tế rất thấp chỉ đạt 2,65% tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh. 2.2.1.4. Ngành công nghiệp chế biến trong nông nghiệp, nông thôn: Đây là ngành sản xuất có thế mạnh hàng đầu của tỉnh Tây Ninh với nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, thông qua việc sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ và có tác động thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển; giá trị sản xuất công nghiệp chế biến nông – lâm – sản luôn chiếm tỷ trọng cao (trên 50% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp). Những ngành có công suất chế biến lớn như: Công nghiệp chế mía đường, hiện có 3 nhà máy chế biến, tổng công suất là 12.500 tấn/ngày; công nghiệp chế biến mì, hiện có 8 nhà máy chế biến, công suất chế biến từ 100 – 200 tấn tinh bột/ngày, tuy nhiên vấn đề xử lý môi trường chưa tốt; công nghiệp chế biến cao su, hiện có 4 đơn vị quốc doanh và 22 cơ sở tư nhân đang hoạt động chế biến, tổng công suất chế biến cao su trên địa bàn tỉnh gần 150.000 tấn/năm… Những thành tựu đạt được trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp là kết quả thực hiện chủ trương đầu tư kết cấu hạ tầng; thực hiện các chương trình, chính sách đổi mới phát triển nông nghiệp, nông thôn; ứng dụng những tiến 49 bộ về khoa học công nghệ vào sản xuất; gắn sản xuất với chế biến và thị trường, giải quyết tốt đầu ra nông sản. 2.2.1.5. Ngành nghề tiểu - thủ công nghiệp truyền thống ở nông thôn: Hiện có khoản 30 ngành nghề nông thôn, tạo việc làm cho 3% lao động trong tỉnh. Các ngành nghề truyền thống như: bánh tráng, sản phẩm từ mây tre, đồ mộc gia dụng, se nhang… có tốc độ tăng trưởng khá cao, đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh gần 2%. Từ năm 2005 – 2010, đầu tư trên 12,67 tỷ đồng từ quỹ đầu tư phát triển cho 7 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn như: dự án sản xuất Mây tre xuất khẩu, chế biến gỗ, chế biến nhựa tái sinh… Bằng nhiều dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, tỉnh đã hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề nông thôn đạt nhiều kết quả. Hỗ trợ 61 hộ phát triển ngành nghề làm bánh tráng xuất khẩu ở ấp Láng, xã Chà Là, huyện Dương Minh Châu. Đào tạo nghề, giải quyết việc làm và phát triển sản xuất ngành nghề mây tre xuất khẩu huyện Hoà Thành và Bến Cầu. Ổn định, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp gắn với chế biến tiêu thụ sản phẩm thuộc chương trình 135, dự án hướng dẫn người nghèo làm khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư… Ngành nghề tiểu – thủ công nghiệp truyền thống ở nông thôn Tây Ninh đã có từ lâu đời đây là thế mạnh của tỉnh cần được khai thác, kết hợp đẩy nhanh phát triển ngành công nghiệp du lịch tổng hợp. Tuy nhiên, ngành nghề tiểu – thủ công nghiệp truyền thống đang bị mai một do thiếu quy hoạch vùng nguyên liệu, thiếu công nghệ tiên tiến chủ yếu làm thủ công, nhất là sự hỗ trợ của nhà nước về vốn, về tìm kiếm thị trường xuất khẩu… 2.2.2. Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào nông nghiệp, nông thôn Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật được đầu tư vào phát triển sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường… với hơn 117 đề tài, dự án được triển khai thực hiện. 50 Trong lĩnh vực nông nghiệp đã triển khai 10 đề tài, dự án có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn như thiết kế chế tạo cày bừa sâu được Công ty mía đường Tây Ninh và các hộ nông dân trồng mía ứng dụng. Quy hoạch nghiên cứu phát triển cơ giới hóa nông nghiệp và ngành nghề nông thôn đến năm 2010 là cơ sở để UBND tỉnh ban hành “Chương trình phát triển cơ giới hóa nông nghiệp và nông thôn tỉnh Tây Ninh đến năm 2010”. Các đề tài nghiên cứu ứng dụng giống lúa, giống khoai mì, giống mía thực hiện có hiệu quả cao, được bổ sung vào cơ cấu bộ giống của tỉnh và được nông dân sử dụng rộng rãi. Ngoài ra còn có dự án áp dụng tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp nhằm góp phần ổn định nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc như dự án xây dựng mô hình sơ chế bảo quản nông sản, xây dựng mô hình sản xuất nấm. Đề án tin học hóa quản lý nhà nước được triển khai, website thông tin của tỉnh được đưa lên mạng Internet bước đầu góp phần quảng bá nông nghiệp, ngành nghề nông thôn Tây Ninh. Việc áp dụng cơ giới hóa nông nghiệp: hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cơ giới hóa, trên Đậu phộng, trên mía… và một số loại cây trồng khác, tỷ lệ cơ giới hóa trong nông nghiệp đạt 50%. Cơ bản đã giải quyết được phần nào nhân công lao động đang khan hiếm và tranh thủ kịp thời vụ. Cụ thể trên Đậu phộng, mía, các khâu từ khi làm đất đến gieo trồng, bón phân gần như đã áp dụng cơ giới hóa toàn bộ (Cày, xới, cày âm không lật, rạch hàng, bón phân, gieo trồng…), tuy nhiên ở khâu thu hoạch còn nhiều khó khăn, chưa giải quyết được, mặc dù các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng chưa thành công và đạt hiệu quả như mong muốn do đó chưa khuyến cáo. Riêng đối với cây lúa hiện đã áp dụng cơ giới hóa rất thành công từ khâu làm đất đến thu hoạch, giảm tối thiểu thất thoát nông sản khi thu hoạch. Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, từ khi thực hiện chương trình Khuyến công, nguồn vốn do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đầu tư từ năm 2007 đến nay, tổng số máy đã đầu tư là 19 máy (Máy có nguồn gốc sản xuất trong nước, máy Trung Quốc và máy Nhật). Hiệu quả mang lại rất thiết thực, bình quân mỗi 51 ngày 1 máy thu hoạch từ 3 - 4 ha, khả năng nhân rộng mô hình rất cao. Toàn Tỉnh hiện nay có trên 100 máy, chưa kể máy phóng thường và máy cắt xếp dãy). Với mục tiêu là đẩy nhanh phát triển cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả trong sản xuất và hàng hóa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thì việc áp dụng cơ giới hóa là một hướng đi đúng và kịp thời. 2.2.3. Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn - Hệ thống giao thông nông thôn: Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng tham gia khôi phục phát triển giao thông nông thôn, giao thông phường khu phố đã được nhân dân đồng tình ủng hộ. Tỉnh Tây Ninh đã tập trung đầu tư nâng cấp và làm mới được hơn 3.500 km đường giao thông các loại. Những tuyết đường huyết mạch của tỉnh Tây Ninh phải kể đến như: Quốc lộ 22B, các tuyến nối thị xã với các huyện Châu Thành, Dương Minh Châu. Ngoài ra tỉnh cũng đã tham gia phối hợp triển khai xây dựng đường Hồ Chí Minh, một tuyến đường đi qua các vùng sâu, vùng xa, góp phần nối liền các địa phương còn cách trở về địa lý với các trung tâm kinh tế, văn hóa, thương mại lại gần nhau hơn. Đường giao thông nông thôn từng bước được nâng cấp và làm mới, đến nay 95/95 xã có đường ôtô được nhựa hóa đến trung tâm xã, đường giao thông liên ấp đã được nhân dân tích cực tham gia cùng Nhà nước nâng cấp mở rộng. Nhìn chung, hệ thống giao thông hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, quốc phòng của tỉnh, các tuyến đường chỉ có một số ít là đường cấp phối hay trải nhựa, còn lại chủ yếu là đường đất chưa đạt tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn theo quy định. - Hệ thống cấp nước sinh hoạt, môi trường: Chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, xử lý chất thải, phát triển cây xanh được quan tâm đầu tư. Hoàn thành xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung ở khu công nghiệp, khu chế xuất Linh Trung 3, giai đoạn 1 dự án chôn lấp rác Tân Hưng. Triển khai xây dựng Đài hỏa táng, nghĩa địa xanh. Đến cuối năm 2010, tỷ lệ hộ dân nông thôn dùng nước sạch, hợp vệ sinh đạt 85%, 100% khu công 52 nghiệp, khu chế xuất đi vào hoạt động đều có hệ thống xử lý nước thải tập trung theo đúng quy định; 50% chất thải rắn, 50% chất thải y tế được thu gom xử lý. - Hệ thống điện: được quan tâm đầu tư và phát triển nhanh chóng. Xây dựng trên 2.254 km đường dây điện trung thế và 3.922 km dây hạ thế, tính đến nay có 100% số xã, ấp có điện lưới quốc gia hơn 99% hộ dân sử dụng điện. Ngoài ra, Tây Ninh cũng có nhà máy thủy điện nhỏ công suất 1,5MW, vận hành từ năm 2007, điện năng huy động trung bình là 2.794 MWh/năm. - Việc hiện đại hóa hệ thống thủy lợi được đẩy mạnh góp phần cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Công tác duy tu bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống thủy lợi và quản lý điều tiết nước tưới từng bước được cải tiến, nên mặc dù thời tiết diễn biến phức tạp, khô hạn kéo dài nhưng đã phục vụ tưới an toàn cho sản xuất nông nghiệp. Hàng năm tỉnh đều cấp kinh phí cải tạo, nạo vét và xây mới hệ thống kênh tưới tiêu trên địa bàn một cách đồng bộ. Tỉnh đã đầu tư hơn 357 tỷ đồng để xây dựng hoàn chỉnh hệ thống kênh tưới Tân Hưng và hệ thống tưới tự chảy vùng nguyên liệu mía Tân Châu và bê tông hoá hơn 421,3 km kênh mương trọng yếu, đã xây dựng thêm được 3 trạm bơm là Hoà Thạnh, Bến Đình và Long Hưng. Năm 2010, cơ bản hoàn thành dự án hiện đại hóa hệ thống thủy lợi hồ Dầu Tiếng, tưới tiêu 97.450 ha và cung cấp nước phục vụ chế biến cho các nhà máy công nghiệp. Tuy nhiên, hệ thống thủy lợi mới tập trung chủ yếu ở hạ lưu hồ Dầu Tiếng, nhiều khu vực còn chưa phát triển, số lượng kênh cấp 3, 4 chỉ đáp ứng khoảng 20% so với yêu cầu; tiến độ kiên cố hóa kênh mương còn chậm, gây tổn thất và rất lãng phí nguồn nước. - Bưu chính viễn thông: Bưu chính viễn thông ở nông thôn cũng phát triển mạnh. Mạng lưới bưu chính viễn thông hiện nay đã phủ khắp các địa phương trong tỉnh. Dịch vụ bưu chính, viễn thông có tốc độ tăng trưởng nhanh, mật độ điện thoại 132 máy/ 100 dân (năm 2006: 20,1 máy/ 100 dân), mật độ thuê bao internet đạt 3,3 thuê bao/ 100 dân, tỷ lệ người sử dụng internet 21% (năm 2006: 4,7%), số thuê bao điện thoại di động năm 2010 là 53 1.095.097. Các nhà cung cấp mạng viễn thông và bưu chính lớn trong nước đều có mặt ở Tây Ninh. Chất lượng dịch vụ ngày càng tốt hơn đã phủ khấp đến các xã trong tỉnh. - Thương mại dịch vụ: Các ngành dịch vụ có bước phát triển khá, tăng bình quân hàng năm 17,3%, ngày càng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh, phục vụ đời sống dân cư và góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Hoạt động tài chính, tín dụng có bước phát triển quan trọng. Thu ngân sách nhà nước tăng bình quân hàng năm 14,9%. Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu chuyển biến tích cực. Tổng kim ngạch xuất khẩu từ 2006 đến 2010 đạt 2.939 triệu USD (năm 2010: 897 triệu USD, năm 2005: 261 triệu USD), tăng bình quân hàng năm 21,8%. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là cao su, tinh bột mì, hạt điều nhân… Tổng kim ngạch nhập khẩu từ 2006 đến 2010 đạt 1.758 triệu USD (năm 2010: 535 triệu USD, năm 2005: 182 triệu USD), trong đó, năm 2010 nhập khẩu máy móc thiết bị rất thấp 3,4%. Các thị trường xuất khẩu chủ yếu là Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, Campuchia và các nước khác. Song, lĩnh vực nông nghiệp lại chưa thu hút được dòng vốn đầu tư do các chính sách ưu đãi chưa đủ sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Hệ quả là ngành nông nghiệp không có đủ vốn để đầu tư phát triển theo chiều sâu nên nông sản nước ta vẫn chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô, sức cạnh tranh thấp. Toàn tỉnh có 108 chợ/95 xã, phường, thị trấn (trong đó có 83 chợ nội địa, 16 chợ biên giới, 03 chợ liên xã, 05 cửa khẩu và 01 chợ trong khu kinh tế cửa khẩu), 9 siêu thị và 3 trung tâm thương mại đã đáp ứng nhu cầu giao lưu hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về địa điểm kinh doanh của các thành phần kinh tế và góp phần mở rộng thị trường nông thôn. 2.2.4. Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp Trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn kinh tế hộ nông dân sản xuất với quy mô ngày càng lớn, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. 54 Những năm gần đây cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế đã có sự dịch chuyển ngày càng hợp lý. Bảng 4: Cơ cấu GTSX công nghiệp TT Thành phần kinh tế Tỷ trọng năm 2001 (%) Tỷ trọng năm 2005 (%) Tỷ trọng năm 2010 (%) 1 Nhà nước 27,5 24,3 19,8 2 Ngoài quốc doanh 24,5 31,9 37,4 3 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 48,0 43,8 42,8 (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh 2010, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010 – 2015) - Khu vực kinh tế Nhà nước được sắp xếp tổ chức lại, đổi mới cơ chế quản lý, thực hiện nguyên tắc tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Cơ bản đã hoàn thành công tác đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp: trong đó cổ phần hóa 42 doanh nghiệp (DN) và bộ phận doanh nghiệp, chuyển 05 DN Nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, giải thể 02 DN. Với vốn đa sở hữu, các công ty cổ phần thay đổi phương thức quản lý, khai thác tốt hơn nguồn lực tại doanh nghiệp; một số doanh nghiệp đã đầu tư thêm máy móc, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh đa ngành nghề; sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, nâng cao được sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển khu vực nhà nước chiếm 31%. - Hợp tác phát triển được mở rộng, môi trường đầu tư được cải thiện ngày càng thông thoáng hơn. Huy động được nhiều nguồn vốn cho đầu tư phát triển, nhất là nguồn vốn đầu tư từ khu vực dân doanh chiếm 37,4% và khu vực đầu tư nước ngoài 42,8%. Cuối năm 2010, trên địa bàn tỉnh có 222

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfday_nhanh_cong_nghiep_hoa_hien_dai_hoa_nong_nghiep_nong_thon_tinh_tay_ninh.pdf