Luận văn Giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển giao thông đường bộ ở tỉnh Xa Văn Na Khệt, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước có thể liên doanh bỏ vốn, được phép của Chính phủ, xây dựng một số công trình kết cấu hạ tầng GTĐB. Sau khi xây dựng xong, được hưởng đặc quyền khai thác công trình trong một thời gian nhất định. Thời gian khai thác được tính từ khi bắt đầu khai thác công trình, có thể đến 30 năm, tuỳ theo cụ thể loại công trình. Trong thời gian khai thác, chủ đầu tư BOT có nghĩa vụ bảo dưỡng, duy trì công trình. Hết thời gian khai thác, công trình sẽ được chuyển giao quyền sở hữu cho Chính phủ. Hình thức đầu tư BOT được xem như một giải pháp tài trợ cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng mà Chính phủ có thể bảo lãnh trực tiếp về các khoản tiền vay đầu tư vào xây dựng.

doc115 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 13/12/2013 | Lượt xem: 902 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển giao thông đường bộ ở tỉnh Xa Văn Na Khệt, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thu NSNN trong tỉnh. Do tầm quan trọng như vậy, tỉnh Xa Văn Na Khệt đã đề ra mục tiêu phấn đấu cho ngành này trong 5 năm tới (2006 - 2010) là sản xuất thịt phải đạt 10.385 tấn, cá phải đạt 8.420 tấn. Mục tiêu sản xuất cho các năm tới thể hiện trong bảng 2.1 và 2.2 dưới đây: Bảng 2.1: Số vật nuôi trong kế hoạch 2006 - 2010 [53, tr.32] Nội dung Đơn vị 2006 2007 2008 2009 2010 Trâu con 194.569 200.406 206.418 212.610 218.988 Bò con 227.168 239.662 252.843 266.479 281.420 Lợn con 150.704 158.239 166.150 174.458 183.181 Dê con 24.739 27.212 29.934 32.927 36.220 Ga cầm con 1.241.128 1.315.596 1.394.503 1.478.173 1.566.863 Những vật nuôi theo kế hoạch đã nêu ở bảng 2.1. Dự báo vật nuôi thương phẩm sẽ bán từng năm (từ năm 2006-2010) thể hiện bảng 2.2 sau đây: Bảng 2.2: Dự báo vật nuôi bán từng năm (từ năm 2006-2010) [53, tr.32] Nội dung Đơn vị 2006 2007 2008 2009 2010 Trâu con 12.218 12.585 12.963 13.351 13.752 Bò con 19.036 20.083 21.188 22.330 23.582 Lợn con 41.323 43.388 45.558 47.836 50.228 Dê con 3.802 4.182 4.600 4.600 5.567 Ga cầm con 372.338 394.678 418.350 443.451 470.058 Nhu cầu phát triển GTĐB phục vụ thương mại và phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn. - Về công nghiệp: Tỉnh Xa Văn Na Khệt có ngành công nghiệp khá phát triển. Dẫn đầu về công nghiệp là ngành khai thác khoáng sản (vàng, đồng, thạch cao, đá mày, muối...). Riêng mỏ thạch cao đã xuất khẩu hơn triệu tấn/năm trong nhiều năm qua. Sau ngành khai thác mỏ là ngành chế biến nông lâm sản với các nhà máy cỡ vừa và nhỏ tới 1963 nhà máy, đó là các nhà máy: chế biến dầu mỡ từ đậu và hạt cây, nhà máy xay gạo, nhà máy may mặc, nhà máy mì và phở... Hàng năm các nhà máy công nghiệp có doanh thu tốt, góp phần quan trọng tạo việc làm, kinh tế của tỉnh phát triển, không ngừng tạo điều kiện thuận lợi cho NSNN tỉnh tăng lên hàng năm. - Tiềm năng về nguồn nhân lực: Như đã trình bày ở mục 2.1.1. của luận văn, dân số trong tỉnh Xa Văn Na Khệt là 824.662 người, trong đó có 360.279 người trong độ tuổi lao động (từ 18-60 tuổi), chiếm 43,69%. Họ sinh sống và lao động sản xuất ở các vùng trong mọi huyện trong phạm vi toàn tỉnh. Số lượng nguồn nhân lực ở các huyện, thể hiện ở bảng sau đây: Bảng 2.3: Số người đang ở trong tuổi lao động ở từng huyện [53] Đơn vị tính: người TT Tên huyện Số lượng (người) % dân số toàn tỉnh 1 Cay Sỏn Phôm Vi Hản 51.345 6,23 2 Ót - Thum Phon 34.452 4,18 3 Ạt Xa Phăng Thoong 15.799 1,92 4 Phin 22.313 2,71 5 Sê Pôn 19.764 2,40 6 Noong 9.027 1,09 7 Thà Pang Thoong 11.245 1,36 8 Xáng Khon 40.432 4,90 9 Chăm Phon 42.914 5,20 10 Xôn Bu Ly 19.650 2,38 11 Xay Bu Ly 23.683 2,87 12 Vi La Bu Ly 13.844 1,68 13 Ạt Xa Phon 23.497 2,85 14 Xay Phu Thông 20.793 2,52 15 Pha Lan Xay 11.521 1,40 Tổng cộng 360.279 43,69 - Về thương mại và du lịch: Trong phạm vi toàn tỉnh, hiện nay có tới 6.773 cửa hàng các loại; có 55 công ty xuất nhập khẩu. Riêng trong năm tài khoá 2004-2005, tổng giá trị sản phẩm xuất khẩu là 270 triệu đô la Mỹ. Ngành du lịch của tỉnh cũng phát triển nhanh, đến năm 2005 có 5 khách sạn trang bị tương đối hiện đại và 58 nhà nghỉ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu chỗ nghỉ cho khách từ các tỉnh trong nước và nước ngoài. - Về kế hoạch và tài chính: Cùng với phong trào toàn dân thực hiện đường lối chính sách "đổi mới" toàn diện của Đảng NDCM Lào, Đảng uỷ tỉnh Xa Văn Na Khệt đã tăng cường chỉ đạo việc quản lý tài chính và quản lý vật giá của nhà nước chặt chẽ hơn, chỉ đạo cán bộ, đảng viên trong phạm vi toàn tỉnh ra sức thúc đẩy việc xây dựng và phát triÓn nguồn thu NSNN tăng lên mỗi năm. Số liệu thực tế của một số năm gần đây đã chứng minh thành tích bước đầu đạt được sẽ làm nền tảng thuận lợi cho sự thành công thu NSNN trong những năm tới. Trong năm tài khoá 1995/1996, NSNN tỉnh chỉ thu được 16,489 tỷ kÝp, sang năm tài khoá 1999/2000 thu được 252,509 tỷ kíp, tăng 16 lần so với 1995/1996. Từ năm 2000 sè thu NSNN chỉ tăng trung bình 1,5% và không đều. Tổng giá trị sản phẩm quốc nội năm 2000 đạt được 1.305,611 tỷ kíp, bình quân (GDP/người/năm) là 216,23 đô la Mỹ. Về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, tổng giá trị chi phí vật liệu là 23,282 tỷ kíp, phục vụ cho 251 công trình. Nếu so với trước "đổi mới toàn diện" là gấp 9,7lần [53, tr.32]. Như vậy, khả năng về thu NSNN và thực hiện chi đầu tư của tỉnh là tương đối thuận lợi, tăng trưởng khá. - Về dịch vụ tiền tệ: Trong tỉnh có 3 ngân hàng hoạt động đó là: Ngân hàng Lào Phắt Thạ Na, Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Phát triển nông nghiệp. Trong năm 1999, Ngân hàng Lào Phắt Thạ Na chi nhánh tỉnh đã huy động tiền gửi 356 tỷ kíp, Ngân hàng Ngoại thương chi nhánh Xa Văn Na Khệt huy động tiền gửi được 165 tỷ kíp, tăng lên 9,09 lần so với năm thứ năm trở về trước (1996) và chi tiền ra cho nhân dân vay với lãi suất linh hoạt đạt với số lượng nhiều gấp 5,45 lần so với năm 1996. Ngân hàng Phát triển nông nghiệp cũng phát huy vai trò của mình để thực hiện tốt nhiệm vụ và đạt được thành tựu đáng tự hào là đã huy động tiền gửi đạt 1,265 tỷ trong năm 1999 và cho vay 8.942 triệu cho các đối tượng với mục tiêu phát triển nông nghiệp. Ngân hàng Lào Phắt Thạ Na và Ngân hàng Phát triển nông nghiệp đã thành lập Văn phòng chi nhánh của mình tại mọi huyện để tạo điều kiện thuận lợi trong việc phục vụ nhân dân nông thôn trên phạm vi toàn tỉnh. Từ những ưu thế của đặc điểm các nguồn lực kinh tế đã tạo cho kinh tế không ngừng phát triển (GDP tăng 16%/năm), tác động mạnh tới tăng thu NSNN ở tỉnh. Tỉnh Xa Văn Na Khệt là một trong ba tỉnh thành viên chính của vùng kinh tế trọng điểm của CHDCND Lào. * Đặc điểm văn hoá - xã hội: Từ năm 1893 đÕn đầu năm 1945, thực dân Pháp vào cai trị nước Lào, coi Lào là một phần của xứ Đông Dương thuộc Pháp. Thực dân Pháp đàn áp nhân dân Lào cũng như nhân dân tỉnh Xa Văn Na Khệt rất dã man, gây ra bao khổ đau cho nhân dân ở Lào. Đời sống nhân dân rơi vào cảnh lầm than cơ cực. Từ năm 1930, dưới ánh sáng con đường cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, con đường cách mạng của Lào mới được mở ra, dần dần giành lại độc lập và từ năm 1975 bắt đầu xây dựng xã hội mới cho đến bây giờ. Về văn hoá xã hội: Tỉnh Xa Văn Na Khệt có nhiều địa danh đặc sắc và có ý nghĩa đối với cả nước như Lăm Khon Xa Vắn, Lăm Phu Thay, Lăm Tăng Vái, Lăm Bạn Sọk. Xa Văn Na Khệt còn là quê hương của các nhà lãnh tụ (Bác Cay Sỏn Phôm Vi Hản, Bác Nu Hắc Phum Xa Văn, Bác Phun Xỉ Pa Xợt...). Tỉnh Xa Văn Na Khệt là một trong những địa phương có truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng. Đây còn là nơi cư trú của cư dân nông nghiệp với nghề lúa nước. Về giáo dục: Tỉnh chăm lo tuyên truyền, khuyến khích nhân dân và đầu tư để đẩy mạnh giáo dục, phát triển trường học các cấp đến tận nông thôn vùng sâu, vùng xa... Hiện nay, toàn tỉnh có 206 trường mầm non và 1.280 trường phổ thông, trong đó tiểu học - 1.135, cấp II - 115 và cấp III - 30 trường. Tổng số giáo viên là 6.695 người, trong đó nữ 3.064 người. Nhìn chung, sự phát triển về giáo dục thể hiện khá rõ nét sau mỗi năm. Tuy nhiên, do đặc điểm về xã hội, địa hình, các trường thường nhỏ về quy mô, bố trí phân tán, chất lượng còn yếu. Về y tế: Tỉnh đã quan tâm củng cố và phát triển mạng lưới y tế xuống các địa phương. Toàn tỉnh có 16 bệnh viện và 92 trạm xá, các làng bản nông thôn vùng sâu, vùng xa đều có hiệu thuốc, tạo điều kiện cho nông dân các bộ tộc được khám, chữa bệnh và tiếp cận nguồn cung cấp thuốc chữa bệnh... Các công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, người mang thai và trẻ em, hạn chế sự phát triển của các bệnh sốt xuất huyết, sốt rét, tả... được đặc biệt quan tâm. Nhờ đó, tỷ lệ chết của các bà mẹ và trẻ em ở tỉnh đã giảm xuống rõ rệt, 70% dân số toàn tỉnh được chăm sóc y tế ở những mức độ khác nhau. Về an ninh quốc phòng: tỉnh Xa Văn Na Khệt là một địa bàn chiến lược về an ninh biên giới. Bọn phản động quốc tế và phản động Lào lưu vong đã từng sử dụng Thái Lan làm địa bàn trực tiếp để thâm nhập và câu móc bọn phản động trong nước để phá hoại cách mạng Lào. Trong khi đó, tình hình trong nước tuy có bước phát triển, có lợi nhưng chưa vững chắc, còn có nhiều yếu tố có thể gây nên mất ổn định về chính trị. Một trong những mũi nhọn của chiến lược "diễn biến hoà bình" của kẻ địch là vấn đề biên giới, vấn đề tôn giáo. Tỉnh Xa Văn Na Khệt nói riêng và trung Lào nói chung là địa bàn về khách quan hội đủ những điều kiện để kẻ địch chống phá. Để giữ vững ổn định chính trị, việc giữ vững bản lĩnh chính trị, nâng cao cảnh giác đối với cán bộ, công nhân viên toàn tỉnh Xa Văn Na Khệt là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Ở đây, đòi hỏi người cán bộ phải nắm vững quan điểm của Đảng về chính sách tôn giáo, về mối quan hệ độc lập dân tộc với an ninh - quốc phòng, có khả năng xử lý nhạy bén và đúng đắn những diễn biến phức tạp trong thực tiễn của những vấn đề đó. Để bảo đảm an ninh, đầu tư cho GTĐB rất cần thiết. Về mặt tâm lý và tín ngưỡng: Qua khảo sát thực tế cư dân của tỉnh Xa Văn Na Khệt, có thể chia quần thể dân cư làm hai bộ phận: cư dân tại chỗ và cư dân nhập cư (mới đến). Cư dân tại chỗ bao gồm các bộ tộc Lào, phần nhiều là các dân tộc Ýt người đã cư trú ở vùng sơn nguyên này chí Ýt đã hàng nghìn năm, thuộc 11 thành phần bộ tộc với hàng chục nhóm địa phương. Đặc điểm cơ bản của nhóm dân cư này là sinh sống dựa trên nền tảng của công xã nông thôn mang nhiều tính chất lạc hậu cổ truyền, sản xuất tự cung tự cấp, công cụ thô sơ, kỹ thuật lạc hậu. Phân công lao động đối với cư dân tại chỗ chưa phát triển, nếu có thì mang tính tự nhiên, tự túc tự cấp, sản xuất hàng hoá chưa phát triển. Cư dân mới đến bao gồm cư dân từ các thành thị di dân đến làm ăn sinh sống sau ngày giải phóng và cán bộ Đảng và Nhà nước được điều động về với ý đồ làm một trong những lực lượng trụ cột để xây dựng vùng Trung Lào. Trong hơn 20 năm qua, sự đóng góp của nhóm cư dân này vào thành tựu về kinh tế, chính trị, an ninh - quốc phòng, văn hoá, xã hội là đáng kể và không phủ nhận được. Tuy nhiên, một bộ phận dân cư này chưa thật sự an tâm với điều kiện địa phương, chưa quen với ngành nghề mới, với quê hương mới. Như vậy, cư dân của tỉnh Xa Văn Na Khệt Lào có kết cấu khá phức tạp, có một quá trình lịch sử hình thành đặc thù, lại rất đa dạng về ngôn ngữ, tâm lý xã hội, có phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, văn hoá, nghệ thuật. 2.1.2. Quá trình phát triển và thực trạng hệ thống giao thông đường bộ của tỉnh Xa Văn Na Khệt * Sự phát triển của hệ thống giao thông đường bộ qua các thời kỳ: Khi đất nước được giải phóng (1975), hệ thống GTĐB của Lào rất non yếu và lạc hậu. Mạng lưới GTĐB của tỉnh Xa Văn Na Khệt có đặc điểm nổi bật là không thống nhất chưa có đường trục xuyên dọc sông Mê Kông, phân bố không đều, chỉ tập trung ở vùng đồng bằng của tỉnh. Từ sau giải phóng, ngành GVTV của tỉnh mặc dù đã có những nỗ lực, cố gắng nhưng cũng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của các ngành, cũng như nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tỉnh. Ngành GTVT tỉnh sau nhiều năm giải phóng vẫn là một trong những ngành non yếu nhất. Tỉnh không có đường biển, đường hàng không, việc vận tải chủ yếu là bằng đường ô tô, còn đường sông cũng chỉ sử dụng được ở một số địa phương có điều kiện cho phép. Ngành GTĐB được coi là phát triển nhất, nhưng còn lạc hậu và non yếu, thể hiện ở chỗ: tỷ lệ đường giao thông còn thấp, 4 huyện trong sè 15 huyện của tỉnh có đường ô tô không bảo đảm giao thông tới huyện lỵ được cả hai mùa (mùa mưa và mùa khô). Nhìn chung, cho đến năm 1985, là thời kỳ bao cấp tỉnh Xa Văn Na Khệt vẫn chưa có một hệ thống đường ô tô hoàn chỉnh thông suốt từ tỉnh lỵ đến huyện. Giao thông giữa các huyện và các làng lại càng khó khăn, nhiều đoạn đường chỉ có đi bộ theo đường rừng, không thể sử dụng phương tiện vận tải cơ giới. Những con đường tốt nhất trên địa bàn chỉ đạt cấp IV, cấp V, kể cả những con đường chiến lược như đường 9 cũng chỉ đạt được cấp IV vì mặt đường yếu, không chịu được trọng tải lớn. Xét về điều kiện kinh tế - xã hội Lào lúc đó, Lào mới chỉ xây dựng những con đường cấp IV, cấp V vì nó phù hợp với điều kiện vốn đầu tư và lưu lượng xe chạy chưa nhiều. Nếu xây dựng đường cấp II, III thì đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn trong điều kiện tỉnh đang thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, trong khi đó nhu cầu vận tải trên địa bàn chưa cao, các phương tiện cơ giới còn Ýt về số lượng và không đa dạng về chủng loại. Mặc dù hệ thống đường còn lạc hậu, vận tải đường bộ của tỉnh trong thời bao cấp cũng đã có phát triển theo sự phát triển của hệ thống giao thông và phát triển kinh tế. Vận tải đường bộ được phát triển cả hai mặt, hàng hoá và hành khách. Bắt đầu từ năm 1986, nhất là từ sau 1989 là thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới, CHDCND Lào cũng như tỉnh Xa Văn Na Khệt tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, thực hiện theo đường lối chính sách của Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ IV (1986) và lần thứ V (1991) và thứ VI (1996). Nền kinh tế nói chung và ngành GTVT nói riêng đã khởi sắc và có chiều hướng phát triển rõ rệt. Mục tiêu chính trong phát triển kết cấu hạ tầng của tỉnh là tập trung phát triển và cải thiện năng lực GTVT. Trong quá trình đổi mới kinh tế, thực hiện chiến lược hướng về nông thôn và mở rộng quan hệ với nước ngoài, chương trình đầu tư công cộng của tỉnh tập trung vào cải thiện lĩnh vực giao thông, đặc biệt là GTĐB. Theo hướng này, tỉnh Xa Văn Na Khệt đã quan tâm xây dựng và tập trung nguồn lực sẵn có trong nước và kết hợp mở rộng quan hệ đối ngoại với nhiều hình thức, xây dựng, củng cố và phát triển giao thông một cách mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu nhanh chóng về kinh tế - xã hội. Cùng với đổi mới chính sách về phát triển kinh tế, coi trọng nông nghiệp làm cơ sở cho sự phát triển công nghiệp chế biến và lấy dịch vụ làm trung tâm, GTĐB càng đóng vai trò quan trọng nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển nông thôn. Theo tinh thần đó, Đảng và Nhà nước Lào cũng như chính quyền Xa Văn Na Khệt tập trung vốn rất nhiều cho việc phát triển giao thông, đặc biệt là GTĐB. Các nguồn vốn được tích cực khuyến khích như vay nước ngoài, các tổ chức quốc tế, nhận viện trợ không hoàn lại của nước ngoài, ngoài ra còn động viên toàn Đảng, toàn dân tham gia góp vốn vào việc xây dựng và phát triển mạng lưới giao thông, thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Cho đến năm 2006, sau 20 năm thực hiện đổi mới, hệ thống GTĐB đã được cải thiện rõ rệt. Nhiều tuyến đường và cầu cống đã được làm mới và nâng cấp. Nhiều đoạn đường nhựa cũ được cải tạo và xây dựng hoàn toàn mới theo chỉ tiêu kỹ thuật tiên tiến. Tổng chiều dài đường đã tăng gấp 2 lần, trong đó đường nhựa và cấp phối cũng đều tăng trên 2 lần. Mật độ đường bộ cũng đã tăng gấp đôi, giải quyết đáng kể nhu cầu đi lại. Bảng 2.4 cho thấy vốn đầu tư giai đoạn 5 năm gần đây (2001-2005) đã được tăng rất nhanh, trong đó cả phần vốn trong nước và nước ngoài đều tăng, đặc biệt nguồn vốn nước ngoài luôn ở quy mô khá lớn, tốc độ tăng nhanh và lớn hơn nhiều so với vốn đầu tư trong nước cho phát triển GTĐB. Riêng năm 2005, do chưa có thống kê đầy đủ, lượng vốn phản ánh ở số liệu không cao. Bảng 2.4: Vốn ngân sách cấp cho xây dựng cơ bản để phát triển giao thông đường bộ [53] Đơn vị: Triệu kíp TT Danh mục Năm 2001 2002 2003 2004 2005 1 Vốn trong nước 8.109,50 9.573,00 7.487,92 4.699,19 3.753,64 2 Vốn ngoài nước - 4.123,40 18.493,28 22.274,50 4.992,77 Tổng cộng 8.109,50 13.696,40 25.981,20 26.973.69 8.746,41 * Đánh giá hiện trạng hệ thống GTĐB hiện nay: Như vậy, từ khi giải phóng đất nước đến nay, ngành GTVT của tỉnh Xa Văn Na Khệt nói chung và hệ thống GTĐB nói riêng, mặc dù đã có bước chuyển biến khá to lớn như các số liệu và phân tích đã chỉ ra ở phần trên, nhưng nhìn chung, so với các tiêu chuẩn, định mức đảm bảo GTĐB, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triÓn kinh tế - xã hội của tỉnh. Mặc dù vậy, ngành GTĐB là một trong những ngành tuy còn non yếu, nhưng so với các ngành giao thông khác như đường sông, đường hàng không trên địa bàn tỉnh thì ngành GTĐB được coi là phát triển nhất. Từ đó, có thể thấy rõ sứ mệnh của GTĐB ở tỉnh như thế nào. Sự bất cập của GTĐB ở Xa Văn Na Khệt thể hiện ở chỗ: tỷ lệ đường bộ còn thấp, 4 huyện trong sè 15 huyện của tỉnh chưa có đường ô tô chạy tới huyện lỵ được cả hai mùa. Đường phần lớn chưa được rải nhựa, đường đất chiếm tỷ lệ rất lớn, chỉ đi lại được mùa khô. Về tổng thể, tỉnh chưa có một hệ thống đường bộ hoàn chỉnh như một mạng lưới nối liền giữa các huyện. Những con đường đã được xây dựng đúng kỹ thuật cho đến nay tốt nhất chỉ đạt được cấp III, IV, V kể cả một số đường chiến lược phần lớn cũng đạt được cấp IV- V (chỉ có đường số 9 đạt cấp III), mặt đường nói chung còn yếu, không chịu được trọng tải lớn, nếu các phương tiện vận tải hiện đại đi lại nhiều sẽ làm xuống cấp đường dẫn đến chi phí duy tu lớn. Số liệu hiện trạng GTĐB liệt kê ở bảng 2.5. Bảng 2.5. Hệ thống đường bộ ở Xa Văn Na Khệt tính đến cuối 2005 [56] TT Hệ thống đường bộ Tổng sè (km) Kết cấu mặt đường Đường nhựa Đường đá Đường đất Bê tông km % km % km % km % 1 Đường quốc lộ 607 445 73,31 55 9,06 97 15,98 - - 2 Đường tỉnh lộ 887,61 30,65 3,45 705,16 79,44 151,8 17,10 - - 3 Đường huyện lộ 1293,80 - - 890,36 68,81 403,5 31,18 - - 4 Đường thị chính 96,59 50,46 52,24 31,84 32,96 9,67 10,01 5 Đường nông thôn 3.080,88 - - 311,98 10,12 2768,9 89,87 - - 6 Đường chuyên dùng 47 - - 47 - - - - - Tổng cộng 6.012,94 4.536,11 75,60 2.041,34 33,94 3.425,80 56,97 9,67 0,16 Theo số liệu bảng 2.5, ta thấy mật độ đường ở Xa Văn Na Khệt mới đạt 0,27 km/km2 là mức độ rất thấp so với các địa phương khác trên thế giới và Đông Nam Á. Mật độ các loại đường từ liên huyện trở lên mới đạt 0,13 km/km2. Mật độ đường nhựa mới đạt 0,21 km/km2. Mật độ đường nông thôn mới đạt 0,14 km/km2. Điều đó cho thấy nhu cầu cần phát triển mạnh GTĐB ở tỉnh. * Tình hình cầu đường bộ: Cầu đường bộ ở tỉnh có 409 chiếc với chiều dài tổng cộng là 9.863,14 m dài được phân chia theo bảng 2.6 sau đây: Bảng 2.6: Phân loại cầu ở Xa Văn Na Khệt [56] TT Loại cầu Số lượng (chiếc) Chiều dài (m) % 1 Cầu bê tông 71 3.332,08 33,78 2 Cầu bê lê 146 3.806,55 38,59 3 Cầu dàn thép 12 214,00 2,17 4 Cầu treo 2 213,00 2,16 5 Cầu gỗ 178 2.297,51 23,29 Tổng cộng 409 9863,14 99,99 * Về cơ cấu các loại đường hiện nay: Căn cứ Luật Đường bộ số 04/99/QH, ban hành ngày 3/4/1999 thì mạng lưới đường bộ của tỉnh được chia thành 6 loại: Loại 1: Các đường quốc lộ. Đây là các đường chính yếu đối với cả nước tạo thành hệ thống đường quốc lộ. Hệ thống này đóng vai trò chủ chốt trong phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng của cả nước nói chung và tỉnh Xa Văn Na Khệt nói riêng. Đường quốc lộ bao gồm các tuyến đường bộ nối thủ đô với các trung tâm hành chính tỉnh, cũng như với các cửa khẩu nối với các nước láng giềng. Trong hệ thống này, tuyến đường 13 nối từ phía Nam đến thủ đô Viêng Chăn, đường 9 nối sang cửa khẩu Lao Bảo (Việt Nam) có vai trò trọng yếu. Tổng chiều dài đường quốc lộ ở Xa Văn Na Khệt là 607 km. Loại 2: Hệ thống đường tỉnh lộ. Đây là hệ thống đường có tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế chính trị; văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng trong phạm vi tỉnh, thành và nối giữa các tỉnh với nhau và nối các đầu mối giao thông đến thị chính huyện, nơi du lịch, nơi lịch sử quan trọng của tỉnh, thành và đặc khu. Đường tỉnh lộ ở Xa Văn Na Khệt có 887,6 km. Loại 3: Hệ thống đường huyện. Đây là hệ thống đường trong phạm vi một huyện, hoặc nói các huyện trong tỉnh với nhau, đường nối từ trung tâm thị chính huyện đến các làng, nơi du lịch, nơi lịch sử quan trọng và khu kinh tế chính của huyện. Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng trong phạm vi huyện. Loại đường này có 1293,8 km. Loại 4: Đường thị chính. Hệ thống này bao gồm các đường phục vụ sự đi lại trong các thành phố, thị trấn như thị xã Xa Văn Na Khệt, thị trấn Sê Nuôn... Loại đường này có 95,6km. Loại 5: Hệ thống nông thôn. Đây là hệ thống đường nối liền giữa các làng với nhau, từ làng đến nơi sản xuất và nơi dịch vụ khác của làng. Loại đường này ở tỉnh chiếm đến 50% tính theo độ dài nhưng chủ yếu là đường đất (89%). Loại 6: Hệ thống đường chuyên dùng. Hệ thống này gồm các đường được đầu tư bởi một hay nhiều tổ chức Nhà nước, doanh nghiệp, trường học nằm trong phạm vi của khu vực, trong khu vực công trường, khu lấy gỗ và sử dụng với mục đích đặc biệt. Loại đường này còn bao gồm cả các đường ra, vào các khu kinh tế, các đơn vị, căn cứ quân sự và kho bãi. Tổng số đường loại này có 47 km. Nhìn chung mạng lưới đường bộ tỉnh đang ở tình trạng yếu kém, lạc hậu phân bổ không đều, chất lượng kém, chưa được duy tu bảo dưỡng, nâng cấp theo quy định Nhà nước, cộng thêm chính sách quản lý, chính sách tạo vốn duy trì mạng lưới đường bộ của Nhà nước còn hạn chế, chưa tạo điều kiện cho GTĐB phát triển. Cầu đường phần lớn trước đây chưa được xây dựng hoàn chỉnh đúng tiêu chuẩn kỹ thuật của cấp đường. Nhiều vị trí qua sông, suối còn chưa có cầu phải vượt qua bằng phà hoặc đường tràn. Tình trạng cầu đường xuống cấp nhanh vì các xe quá tải chạy trên đường phá hoại nhanh cầu và đường. Đường sá ở vùng nông thôn xa xôi và miền núi hẻo lánh còn rất yếu kém, phần lớn là mặt đường cấp phối và đất. Năng lực thông qua về tải trọng và tốc độ còn thấp do đường xấu, nhiều cầu và nhiều đoạn đường phải hạn chế tải trọng xe, tốc độ vận hành của ô tô tải chỉ 20 - 25km/h. Giao thông ở đô thị mặc dù đã khắc phục và làm lại nhưng còn nhiều tuyến, đoạn hư hỏng thành ổ gà, ổ voi, nói chung còn nhiều đường xấu và chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại. 2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ HIỆN NAY Ở CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO VÀ TỈNH XA VĂN NA KHỆT 2.2.1. Thực trạng về quản lý nhà nước ngành giao thông đường bộ - Bối cảnh đổi mới quản lý nhà nước nói chung: Trước khi Đảng và Nhà nước Lào tiến hành sự nghiệp đổi mới (1986), sự phát triển về kinh tế - xã hội nói chung và GTVT nói riêng ở CHDCND Lào cũng như ở tỉnh Xa Văn Na Khệt, tuy đã đạt được một số tiến bộ, nhưng trong bối cảnh của khủng hoảng kinh tế xã hội của đất nước, nền kinh tế vẫn ở trạng thái rất trì trệ, ngành giao thông, trong đó có GTĐB vẫn là một khâu yếu kém và khó khăn. Hoạt động trong ngành GTVT còn mang tính bao cấp, ỷ lại dẫn đến hệ thống GTĐB đã thiếu lại sa sút, xuống cấp nhanh chóng. Hệ thống luật pháp QLNN về GTVT vừa thiếu lại chưa được chấp hành nghiêm chỉnh. Tổ chức QLNN trong ngành còn trùng lặp, chưa phù hợp, trình độ cán bộ công nhân viên còn hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu. Vai trò và hiệu lực QLNN trong ngành GTVT bị hạn chế. Năm 1990, Chính phủ ban hành quy chế số 17/TTCP về việc chuyển đổi sở hữu, nhằm chuyển đổi một phần sở hữu doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) sang các hình thức sở hữu khác thông qua các biện pháp cho thuê và bán. Về cơ chế quản lý, ngành GTVT cũng kiên quyết thay cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp bằng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở chuyển hẳn các công ty xây dựng cầu đường, các xí nghiệp vận tải quốc doanh sang hình thức sở hữu mới, có nghĩa là chuyển công ty xí nghiệp quốc doanh thành các doanh nghiệp xây dựng cầu đường vận tải sở hữu hỗn hợp hoặc tư nhân. Vốn cố định còn lại sau khi chuyển sang quyền sở hữu mới, các tập đoàn tư nhân phải trả dần trong thời gian mà Nhà nước và người thay mặt tập đoàn hoặc tư nhân đó thoả thuận. Cũng trong thời gian này, Chính phủ ban hành Luật Kế toán doanh nghiệp và Luật Bảo hiểm. Đại hội Đảng V của Đảng NDCM Lào năm 1991 đã đánh dấu giai đoạn mới của quá trình chuyển đổi. Trong văn kiện Đại hội V đã khẳng định: ... Về kinh tế, tiếp tục đổi mới chính sách kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế. Trước hết là xoá bỏ hoàn toàn cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, sử dụng cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, đẩy mạnh kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ. Để cho chính sách này nhanh chóng được thực hiện, vấn đề cấp bách nhất là tiếp tục đổi mới và củng cố quản lý, Nhà nước không trực tiếp quản lý sản xuất kinh doanh, nhưng Nhà nước làm chức năng điều tiết vĩ mô thông qua các công cụ kinh tế và cơ chế pháp lý là chủ yếu [35, tr.27]. Ngày 5/12/1991, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế số 91 về DNNN. Đồng thời thành lập tổ chức chuyên trách về việc chuyển đổi sở hữu, trực thuộc Bộ Kế hoạch Tài chính, nay gọi là Hội đồng Chuyển đổi cơ chế mới có văn phòng tại Uỷ ban kế hoạch và hợp tác kinh tế đối ngoại. Sau bốn năm, Hội đồng Chuyển đổi cơ chế mới đã tiến hành đánh giá thực trạng DNNN nói chung, trong ngành giao thông nói riêng và đề ra các biện pháp, hình thức sắp xếp và đổi mới quản lý. Việc chuyển đổi sở hữu góp phần quan trọng trong công cuộc đổi mới, nâng cao tính tự chủ, hiệu quả sản xuất kinh doanh, đời sống của người lao động được bảo đảm hơn,... nó còn giảm bớt sự bao cấp của Nhà nước về tài chính, hơn thế nữa Nhà nước còn tăng thu đáng kể cho NSNN. Đầu năm 1993, Bộ Chính trị Trung ương Đảng NDCM Lào đã ra Nghị quyết số 21 về nguyên tắc quản lý theo ngành. Từ đó, Bộ và Sở GTVT tỉnh đã có cơ sở

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLuan van.doc
Tài liệu liên quan