Luận văn Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp hạch toán độc lập thuộc Tổng Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Thanh Hoá

Khi xây dựng các công trình, nhà thầu căn cứ vào hồ sơ thiết kế kỹ thuật và hồ sơ dự toán đã thẩm định để thi công.

 Đối với các doanh nghiệp xây lắp có các đội nhận khoán không tổ chức bộ máy kế toán riêng cho thấy công tác hạch toán tương đối tốt các khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh, phòng kế toán doanh nghiệp mở sổ theo dõi chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trinh. Kế toán đội định kỳ một tháng tập hợp chứng từ(hoá đơn giá trị gia tăng, phiếu xuất kho, phiếu nhập kho )gửi lên phòng kế toán doanh nghiệp. Kế toán doanh nghiệp căn cứ vào tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ và sổ theo dõi chi tiết của từng công trình, hạng mục công trình phản ánh lên tài khoản 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

 

doc103 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 26/07/2014 | Lượt xem: 1484 | Lượt tải: 13download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp hạch toán độc lập thuộc Tổng Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Thanh Hoá, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ần xây dựng Thanh Hóa có thể thấy mô hình tổ chức quản lý sau (Sơ đồ 2.02: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại các doanh nghiệp hạch toán độc lập thuộc tổng công ty cổ phần xây dựng Thanh Hóa) SƠ ĐỒ 2.02: CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP HẠCH TOÁN ĐỘC LẬP THUỘC TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG THANH HOÁ Theo mô hình này, dưới doanh nghiệp là các đội thi công xây lắp đứng đầu là đội trưởng chịu trách nhiệm về tổ chức sản xuất, điều hành quá trình thi công các công trình, hạng mục công trình. Để đảm bảo quyền tự chủ của đội thi công trong mức độ cho phép và tùy thuộc vào hình thức tổ chức bộ máy của mỗi đội mà kế toán đội có nhiệm vụ sau: đối với đội thi công có tổ chức bộ máy kế toán riêng kế toán đội theo dõi, ghi chép toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tổng hợp và báo sổ về phòng kế toán tài chính của doanh nghiệp(Doanh nghiệp xây lắp số 1, doanh nghiệp xây lắp số 2), đối với đội thi công không tổ chức bộ máy kế toán riêng kế toán đội chỉ tập hợp chứng từ phát sinh rồi gửi về phòng tài chính kế toán của doanh nghiệp (doanh nghiệp xây lắp số 3, doanh nghiệp xây lắp số 5) để kế toán doanh nghiệp có nhiệm vụ tổng hợp kết quả kinh doanh của từng công trình, hạng mục công trình 2.2.2. Đặc điểm về tổ chức sản xuất Tổ chức sản xuất sản phẩm xây lắp chủ yếu ngoài hiện trường, quá trình sản xuất rất phức tạp tiêu hao lớn về nhân lực, vật lực; có nhiều chủ thể và sử dụng nhiều công nghệ khác nhau tham gia vào quá trình hình thành sản phẩm xây lắp. Tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay phổ biến theo phương thức “Khoán gọn” các công trình, hạng mục công trình, khối lượng hoặc công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp(đội). Trong giá khoán gọn, không chỉ có tiền lương mà còn có đủ các chi phí về vật liệu, công cụ, dụng cụ thi công, chi phí chung của bộ phận nhận khoán. Nhìn chung để một sản phẩm xây lắp hoàn thành thường có quy trình công nghệ sản xuất như sau (Sơ đồ 2.03: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm xây lắp) SƠ ĐỒ 2.03: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SẢN PHẨM XÂY LẮP 2.2.3. Đặc điểm về tổ chức bộ máy kế toán. Tại các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tổng công ty cổ phần xây dựng Thanh Hóa hiện nay có hai hình thức tổ chức bộ máy kế toán đó là: hình thức tập trung và hình thức phân tán 2.2.3.1. Hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung Theo hình thức này thì toàn doanh nghiệp chỉ tổ chức một phòng kế toán ở đơn vị chính, còn ở các đội chưa tổ chức bộ máy kế toán riêng chỉ có kế toán đội làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, theo dõi quá trình hoạt động sản xuất, ghi chép, thu thập số liệu và kiểm tra chứng từ để định kỳ một tháng chuyển chứng từ về phòng kế toán của doanh nghiệp. Tại đây, kế toán trưởng hạch toán quá trình sản xuất sản phẩm xây lắp, ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính, tổ chức bảo quản, lưu trữ hồ sơ, chứng từ kế toán, cung cấp thông tin kinh tế cho giám đốc và lãnh đạo doanh nghiệp. Giúp việc cho kế toán trưởng còn có các nhân viên kế toán khác (Sơ đồ 2.04: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán theo loại hình tổ chức kế toán tập trung) SƠ ĐỒ 2.04: MÔ HÌNH TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN THEO LOẠI HÌNH TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP TRUNG 2.2.3.2. Hình thức tổ chức bộ máy kế toán phân tán Theo hình thức này thì bộ máy tổ chức kế toán doanh nghiệp phân thành hai cấp: phòng kế toán trung tâm được đặt ở đơn vị chính, kế toán trực thuộc được đặt ở các đội và đã được phân cấp quản lý tài chính. Nhiệm vụ của sự phân cấp như sau: Đối với phòng kế toán trung tâm: - Thực hiện các phần hành công việc kế toán phát sinh ở đơn vị chính và tổng hợp số liệu báo cáo của các đội, lập báo cáo tài chính cho các cơ quan tổ chức quản lý - Hướng dẫn và kiểm tra công tác kế toán của các đội - Xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính của doanh nghiệp Đối với bộ phận kế toán của các đội trực thuộc: - Thực hiện toàn bộ khối lượng công tác kế toán phần hành từ giai đoạn hạch toán ban đầu tới giai đoạn lập báo cáo kế toán theo sự phân cấp quy định gửi về phòng kế toán trung tâm - Thực hiện các công việc kế toán phát sinh ở đơn vị mình - Xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính ở đơn vị (Sơ đồ 2.05: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán theo loại hình tổ chức kế toán phân tán) SƠ ĐỒ 2.05: MÔ HÌNH TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN THEO LOẠI HÌNH TỔ CHỨC KẾ TOÁN PHÂN TÁN 2.3. Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp hạch toán độc lập thuộc tổng công ty cổ phần xây dựng Thanh Hóa Qua khảo sát một số doanh nghiệp xây lắp hạch toán độc lập thuộc tổng công ty cổ phần xây dựng Thanh Hóa, tác giả lựa chọn số liệu của doanh nghiệp xây lắp số 2(Đại diện cho các doanh nghiệp áp dụng hình thức tổ chức bộ máy kế toán phân tán) và doanh nghiệp xây lắp số 5(Đại diện cho các doanh nghiệp áp dụng hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung) làm ví dụ minh họa trong phạm vi nghiên cứu của đề tài. 2.3.1. Cách phân loại chi phí sản xuất Theo quy định hiện hành của Bộ xây dựng, giá thành xây lắp công trình, hạng mục công trình được cấu thành từ 4 khoản mục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công và chi phí sản xuất chung Chi phí vật liệu được xác định theo công thức: VL = Trong đó: - : Lượng vật liệu thứ i (i=1÷n) tính cho một đơn vị khối lượng công tác xây dựng quy định trong định mức xây dựng công trình - : Giá vật liệu đến hiện trường của một đơn vị vật liệu thứ i (i=1÷n) được xác định như sau: + Được xác định phù hợp với tiêu chuẩn, chủng loại và chất lượng vật liệu sử dụng cho công trình xây dựng trên cơ sở giá thị trường do tổ chức có năng lực cung cấp, báo giá của nhà sản xuất, thông tin giá của nhà cung cấp hoặc giá đã được áp dụng cho công trình khác có tiêu chuẩn, chất lượng tương tự + Đối với những vật liệu không có trên thị trường nơi xây dựng công trình thì giá vật liệu này bằng giá gốc cộng chi phí vận chuyển đến công trình và các chi phí khác có liên quan - : Hệ số tính chi phí vật liệu khác so với tổng chi phí vật liệu chính quy định trong định mức xây dựng công trình của công tác xây dựng Chi phí nhân công được xác định theo công thức: NC = B×gNC×(1+f) Trong đó: - B: lượng hao phí lao động tính bằng ngày công trực tiếp theo cấp bậc bình quân cho một đơn vị khối lượng công tác xây dựng quy định trong định mức xây dựng công trình - gNC: Đơn giá nhân công bình quân của công trình tương ứng với cấp bậc quy định trong định mức xây dựng công trình - f: Tổng các khoản phụ cấp lương, lương phụ có tính chất ổn định được tính vào đơn giá bằng công thức: f = f1+f2+f3 Trong đó: +f1: Tổng các khoản phụ cấp lương có tính chất ổn định +f2: Một số khoản lương phụ tính bằng 12% lương cơ bản và một số chi phí có thể khoán trực tiếp cho người lao động tính bằng 4% lương cơ bản +f3: Hệ số điều chỉnh cho phù hợp với thị trường nhân công khu vực và đặc thù của công trình. Chi phí máy thi công được xác định theo công thức: MTC = Trong đó: - Mi: Lượng hao phí ca máy của loại máy, thiết bị chính thứ i (i=1÷n) tính cho một đơn vị khối lượng công tác xây dựng quy định trong định mức xây dựng. - : Giá dự toán ca máy của loại máy, thiết bị chính thứ i (i=1÷n) theo bảng giá ca máy và thiết bị thi công của công trình hoặc giá thuê máy - : Hệ số tính chi phí máy khác(nếu có) so với tổng chi phí máy, thiết bị chính quy định trong định mức xây dựng công trình của công tác xây dựng. Chi phí sản xuất chung được xác định: bằng cách lấy tổng chi phí trực tiếp nhân với tỷ lệ % do bộ xây dựng quy dịnh đối với từng loại công trình. Do đó để tiện cho việc quản lý các doanh nghiệp xây lắp hiện nay thực hiện phân loại chi phí sản xuất theo bốn khoản mục nói trên cho từng đối tượng công trình, hạng mục công trình là nơi phát sinh chi phí. Trên cơ sở đó, kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục cho từng công trình, hạng mục công trình. Qua cách phân loại chi phí thực tế tại các doan nghiệp có thể kết luận là việc phân loại chi phí theo công dụng chung của chi phí và nơi phát sinh chi phí cho từng đối tượng tập hợp chi phí đã đáp ứng được yêu cầu của hạch toán kế toán trong việc tính giá thành sản phẩm và lập các báo cáo tài chính. Tuy nhiên chưa đáp ứng được nhu cầu tông tin phụ vụ cho kế toán quản trị. 2.3.2. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất * Đối tượng tập hợp chi phí Do đặc thù của của ngành xây lắp nên các doanh nghiệp xây lắp đều xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các công trình hoặc hạng mục công trình * Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất Trên cơ sở phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí, đối với những chi phí trực tiếp phát sinh của từng công trình, hạng mục công trình như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công trực tiếp, kế toán dùng phương pháp phân bổ trực tiếp để tập hợp thẳng chi phí cho từng công trình, hạng mục công trình đó. Còn đối với những khoản chi phí không thể tập hợp được cho từng đối tượng công trình, hạng mục công trình như khấu hao tài sản cố định, chi phí công cụ dụng cụ…phải tập hợp chung theo nơi phát sinh chi phí rồi tiến hành phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình theo các tiêu thức thích hợp. Hiện nay, tiêu thức dùng đề phân bổ chi phí sản xuất chung mà các doanh nghiệp áp dụng là dựa trên doanh thu, nhân công trực tiếp, nguyên vật liệu trực tiếp…của từng công trình, hạng mục công trình 2.3.3. Nội dung hạch toán các khoản mục chi phí sản xuất Hiện nay, các doanh nghiệp xây lắp hạch toán độc lập thuộc tổng công ty cổ phần xây dựng Thanh Hóa tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. * Về hệ thống chứng từ kế toán Hệ thống chứng từ kế toán bao gồm các chứng từ liên quan đến các yếu tố chi phí nguyên vật liệu, nhân công, khấu hao tài sản cố định …được các doanh nghiệp sử dụng rất phong phú và đa dạng, đảm bảo đúng mẫu và các yêu cầu quy định của bộ tài chính, cụ thể: - Các chứng từ liên quan đến nguyên vật liệu: Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ… - Các chứng từ liên quan đến nhân công: Bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương, hợp đồng giao khoán, biên bản thanh lý hợp đồng giao khoán… - Các chứng từ liên quan đến tài sản cố định: Biên bản giao nhận tài sản cố định, biên bản thanh lý tài sản cố định… * Về hệ thống tài khoản kế toán. Để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, kế toán sử dụng các tài khoản sau: TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp TK 623: Chi phí máy thi công trực tiếp TK 627: Chi phí sản xuất chung TK 632: Giá vốn hàng bán TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Các tài khoản này được mở chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí là công trình, hạng mục công trình. Ngoài ra, do đặc thù của ngành xây dựng hiện nay đều thực hiện cơ chế khoán nên các doanh nghiệp có các đội tổ chức bộ máy kế toán riêng còn sử dụng tài khoản 141.3 - Tạm ứng để đối chiếu công nợ giữa doanh nghiệp và đội. * Về sổ sách kế toán Hệ thống sổ kế toán dùng để hệ thống hóa thông tin kế toán, có chức năng ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Hiện nay, hệ thống sổ kế toán của các doanh nghiệp xây lắp bao gồm sổ chi tiết và sổ tổng hợp. Hình thức sổ kế toán chủ yếu được các doanh nghiệp lựa chọn là: Hình thức nhật ký chung: việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp được phản ánh trên sổ nhật ký chung, sổ chi tiết các tài khoản: TK 621, TK 622, TK 623, sổ cái các tài khoản: TK 621, TK 622, TK 623, TK 632, TK154 (doanh nghiệp xây lắp số 2, doanh nghiệp xây lắp số 4) Hình thức chứng từ ghi sổ: Việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp được phản ánh trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ chi tiết các tài khoản: TK 621, TK 622, TK 623, sổ cái các tài khoản TK 621, TK 622, TK 623, TK 632, TK154 (doanh nghiệp xây lắp số 1, doanh nghiệp xây lắp số 5) 2.3.3.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá vốn hàng bán, thường từ 60-70%. Vì vậy, việc hạch toán chính xác và đầy đủ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định giá thành công trình xây dựng. Để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, các doanh nghiệp sử dụng tài khoản 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Tài khoản này được mở chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí đó là công trình, hạng mục công trình. Doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên và áp dụng phương pháp giá thực tế đích danh để tính trị giá thực tế của nguyên vật liệu xuất dùng. Khi xây dựng các công trình, nhà thầu căn cứ vào hồ sơ thiết kế kỹ thuật và hồ sơ dự toán đã thẩm định để thi công. Đối với các doanh nghiệp xây lắp có các đội nhận khoán không tổ chức bộ máy kế toán riêng cho thấy công tác hạch toán tương đối tốt các khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh, phòng kế toán doanh nghiệp mở sổ theo dõi chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trinh. Kế toán đội định kỳ một tháng tập hợp chứng từ(hoá đơn giá trị gia tăng, phiếu xuất kho, phiếu nhập kho…)gửi lên phòng kế toán doanh nghiệp. Kế toán doanh nghiệp căn cứ vào tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ và sổ theo dõi chi tiết của từng công trình, hạng mục công trình phản ánh lên tài khoản 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Sổ chi tiết TK 621 Công trình trường PTTH huyện Mường lát do doanh nghiệp xây lắp số 5 thi công (Phụ lục 2.01) Đối với các doanh nghiệp xây lắp có các đội nhận khoán tổ chức bộ máy kế toán riêng, doanh nghiệp theo dõi và hạch toán các khoản ứng tiền, nguyên vật liệu cho các đội vào bên nợ tài khoản 141.3 (chi tiết cho từng đội). Đội nhận tiền, nguyên vật liệu được kế toán đội phản ánh vào bên có tài khoản 141.3 (chi tiết cho từng công trình) đồng thời phản ánh nguyên vật liệu xuất dùng cho các công trình thông qua tài khoản 621 Sổ chi tiết tài khoản 621 công trình Ngân hàng Chính sách huyện Quan Hoá do đội xây lắp số 5 thuộc doanh nghiệp xây lắp số 2 thi công (phụ lục 2.02) Định kỳ 3 tháng (1 quý), các đội xây lắp hạch toán theo hình thức báo sổ gửi lên phòng kế toán doanh nghiệp, kế toán doanh nghiệp căn cứ vào sổ chi tiết tài khoản 621 của từng công trình của từng đội tổng hợp thành bảng chi tiết tài khoản 621 của toàn doanh nghiệp. Bảng chi tiết tài khoản 621 của doanh nghiệp xây lắp số 2 thi công (Phụ lục 2.03) Bên cạnh một số các doanh nghiệp đã hạch toán tương đối tốt chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vẫn còn một số các doanh nghiệp hạch toán chưa đúng với chế độ kế toán hiện hành quy định. Tại doanh nghiệp xây lắp số 2, số 3 có các đội hạch toán thiết bị xây lắp công trình vào tài khoản 153 - Công cụ dụng cụ mà không hạch toán vào tài khoản 152 – Nguyên vật liệu (Đội xây lắp số 5 thuộc doanh nghiệp xây lắp số 2), Chi phí sản xuất chung phát sinh ở từng công trình, kế toán đội lại hạch toán vào chi phí sản xuất chung của đội, chi phí vận chuyển nguyên vật liệu không phản ánh trực tiếp vào TK 621 mà lại hạch toán vào tài khoản 627 – Chi phí sản xuất chung như đội xây lắp số 1, số 3 thuộc doanh nghiệp xây lắp số 3, đội xây lắp số 5 thuộc doanh nghiệp xây lắp số 2 2.3.3.2. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp Nhân công trực tiếp của các doanh nghiệp xây lắp chính là lực lượng lao động trực tiếp tham gia sản xuất, cấu thành sản phẩm xây lắp gồm có chi phí về tiền lương và các khoản phụ cấp của lực lượng lao động của doanh nghiệp và khi cần có thể thuê lực lượng lao động bên ngoài. Đối với các công nhân của doanh nghiệp thì doanh nghiệp trả lương theo thời gian Lương thời gian được tính như sau: Mức lương ngày tuỳ thuộc vào trình độ thành thạo kỹ thuật, nghiệp vụ hoặc chuyên môn của người lao động. Số ngày thực tế làm việc trong tháng được các tổ trưởng hàng ngày chấm công. Đối với lực lượng công nhân thuê ngoài, doanh nghiệp trả lương theo hình thức lương khoán. Trước khi thực hiện khối lượng công việc thì giám đốc các doanh nghiệp hoặc đội trưởng các đội và tổ trưởng các nhóm thợ kí kết hợp đồng giao khoán. Trong hợp đồng thể hiện rõ đơn giá từng khối lượng công việc * khối lượng công việc dự tính đồng thời nêu rõ trách nhiệm của mỗi bên như doanh nghiệp cung cấp vật tư, bên tổ thợ hoàn thành theo đúng thiết kế và tiến độ. Sau khi khối lượng làm xong, hai biên tiến hành nghiệm thu khối lượng thực tế hoàn thành. Tổ trưởng là người phân phối tiền lương cho từng cá nhân trong nhóm thợ theo hình thức trả lương theo thời gian. Chi phí nhân công trực tiếp cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá vốn hàng bán, từ 17-20%. Qua khảo sát cho thấy các doanh nghiệp xây lắp hạch toán khoản mục chi phí nhân công trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình dúng theo nội dung của chuẩn mực số 15(chuẩn mực xây dựng) và đúng theo quy định của chế độ kế toán hiện hành. Doanh nghiệp sử dụng tài khoản 622 – Chi phí nhân công trực tiếp để theo dõi khoản mục chi phí nhân công trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình, đồng thời không phản ánh vào tài khoản này các khoản trích theo lương(BHXH, BHYT, KPCĐ) cho công nhân sản xuất, các khoản này được tính vào TK 627. Đối với các doanh nghiệp có các đội thi công không tổ chức bộ máy kế toán riêng (doanh nghiệp số 3, số 5) thì doanh nghiệp hạch toán tương đối tốt khoản mục chi phí nhân công trực tiếp. Định kỳ một tháng, kế toán đội tập hợp chứng từ nhân công gửi lên phòng kế toán doanh nghiệp để hạch toán và tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình trên tài khoản 622 –Để theo dõi và hạch toán tiền lương phải trả cho công nhân, kế toán sử dụng 2 tài khoản: TK 334.1 – Công nhân trong doanh nghiệp; TK 334.8 – Công nhân thuê ngoài đúng vơi chế độ kế toán. Sổ chi tiết TK 622 công trình trường PTTH Mường lát do doanh nghiệp số 5 thi công(Phụ lục 2.04) Đối với các doanh nghiệp có các đội thi công tổ chức bộ máy kế toán riêng thì bên cạnh một số đội hạch toán tốt khoản mục chi phí nhân công trực tiếp như đội xây lắp số 1 thuộc doanh nghiệp xây lắp số 1 thì có một số đội hạch toán chưa đúng theo quy định của chế độ kế toán. Kế toán đội trực tiếp hạch toán tiền lương của công nhân phải trả thông qua tài khoản 622 mà không thông qua tài khoản 334 (như đội xây lắp số 4, thuộc doanh nghiệp xây lắp số 1, số 2). Trình tự hạch toán TK 622 giữa đội và doanh nghiệp tương tự như trình tự hạch toán TK 621 Sổ chi tiết tài khoản 622 công trình ngân hàng CSXH huyện Quan Hóa do đội xây lắp số 5 thuộc doanh nghiệp xây lắp số 2 thi công(Phụ lục 2.05) Bảng chi tiết tài khoản 622 của doanh nghiệp xây lắp số 2(Phụ lục 2.06) 2.3.3.3.Hạch toán khoản mục chi phí sử dụng máy thi công Có 2 hình thức sử dụng máy thi công tại các doanh nghiệp xây lắp: Hình thức thuê ngoài trọn gói và hình thức thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của doanh nghiệp. Đối với hình thức thuê ngoài trọn gói, cơ sở để xác định chi phí máy thi công là hợp đồng thuê máy và biên bản thanh lý hợp đồng. Nội dung của hợp đồng thuê máy bao gồm khối lượng công việc và đơn giá thuê. Đối với hình thức máy thi công thuộc quyền sở hữu, sử dụng của doanh nghiệp thì doanh nghiệp tiến hành trích khấu hao cho từng loại máy theo từng tháng. Nếu trong tháng, máy thi công chỉ phục vụ cho một công trình thì tính khấu hao máy cho công trình đó. Trong trường hợp máy thi công phục vụ cho nhiều công trình trong một tháng thì kế toán tiến hành phân bổ khấu hao máy thi công cho từng công trình dựa vào nhật trình sử dụng máy thi công Hầu hết các doanh nghiệp xây lắp hạch toán tốt khoản mục chi phí máy thi công trực tiếp, ngoài việc mở tài khoản 623 chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình, kế toán doanh nghiệp còn mở tài khoản cấp 2 để theo dõi chi tiết từng loại chi phí: + TK 6231: Chi phí nhân công trực tiếp điều khiển máy thi công + TK 6232: Chi phí vật liệu phục vụ máy thi công + TK 6233: Chi phí dụng cụ sản xuất dùng cho máy thi công + TK 6234: Chi phí khấu hao máy thi công + TK 6237: Chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho máy thi công + TK 6278: Chi phí bằng tiền khác Cuối tháng, kế toán đội sẽ dựa vào nhật trình theo dõi hoạt động của xe, máy thi công để hạch toán chi phí tiền lương, tiền công cho công nhân điều khiển xe, chi phí nhiên liệu, vật liệu, dụng cụ, điện, nước vào TK 623 chi tiết theo từng khoản mục chi phí, từng đội, từng công trình, hạng mục công trình và được hạch toán như sau: Nợ TK 623(6231, 6232, 6233, 6234, 6237, 6238)(chi tiết cho từng đội, từng công trình) Nợ TK 133(Nếu có) Có TK 334, 152, 153, 111 Sổ chi tiết tài khoản 623 công trình trường PTTH huyện Mường lát do doanh nghiệp xây lắp số 5 thi công (Phụ lục 2.07). Đội xây lắp số 5 thuộc doanh nghiệp xây lắp số 2 không theo dõi cụ thể, chi tiết các nghiệp vụ liên quan đến chi phí sử dụng máy thi công mà phản ánh trực tiếp vào tài khoản 623. Sổ chi tiết TK 623 công trình ngân hàng CSXH huyện Quan Hóa do đội xây lắp số 5 thuộc doanh nghiệp xây lắp số 2 thi công(Phụ lục 2. 08) Đối với các doanh nghiệp có các đội tổ chức bộ máy kế toán riêng, định kỳ 3 tháng (1 quý), các đội xây lắp hạch toán theo hình thức báo sổ gửi lên phòng kế toán doanh nghiệp, kế toán doanh nghiệp căn cứ vào sổ chi tiết tài khoản 623 của từng công trình của từng đội tổng hợp thành bảng chi tiết tài khoản 623 của toàn doanh nghiệp. Bảng chi tiết TK 623 của doanh nghiệp xây lắp số 2 thi công(Phụ lục 2.09) 2.3.3.4. Hạch toán khoản mục chi phí sản xuất chung. Chi phí sản xuất chung của mỗi công trình chiếm từ 5-10% tổng giá vốn hàng bán. Chi phí sản xuất chung trong doanh nghiệp xây lắp được chia thành 2 loại: - Chi phí sản xuất chung trực tiếp là những khoản chi phí phát sinh trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình. Những khoản chi phí trực tiếp này được hạch toán trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình liên quan(Lương nhân viên bảo vệ công trình, chi phí lán trại cho công nhân trực tiếp, chi phí xây nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công). Đối với những khoản chi phí chung trực tiếp này được các doanh nghiệp sử dụng tài khoản 627 – Chi phí sản xuất chung để tập hợp chi phí cho từng công trình, hạng mục công trình. Một số doanh nghiệp như doanh nghiệp số 1, số 5 tài khoản này được mở thêm các tài khoản cấp 2 để ghi chép, theo dõi chi tiết từng đối tượng hạch toán cụ thể: + TK 6271: Chi phí nhân viên phân xưởng + TK 6272: Chi phí vật liệu + TK 6273: Chi phí công cụ dụng cụ + TK 6274: Chi phí khấu hao tài sản cố định + TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài + TK 6278: Chi phí bằng

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc21794.doc
Tài liệu liên quan