Luận văn Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp tại cục thuế Ninh Bình

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU iv

MỞ ĐẦU 5

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu. 5

2. Tình hình nghiên cứu. 7

3. Mục tiêu nghiên cứu. 8

3.1. Mục tiêu chung.8

3.2. Mục tiêu cụ thể .8

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài . 9

4.1. Đối tượng nghiên cứu.9

4.2. Phạm vi nghiên cứu.9

5. Phương pháp nghiên cứu . 9

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn: . 10

7. Kết cấu của luận văn. 10

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT 11

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu. 11

1.2. Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT . 14

1.2.1. Khái niệm thuế Giá trị gia tăng .14

1.2.2. Đặc trưng của thuế giá trị gia tăng .14

1.2.3. Cách tính thuế giá trị gia tăng .15

1.2.4. Vai trò của thuế giá trị gia tăng.20

1.3. Khái quát chung về quản lý thuế GTGT . 22

1.3.1. Khái niệm quản lý thuế GTGT .22

1.3.2.Nguyên tắc quản lý thu thuế giá trị gia tăng.23

1.3.3. Nội dung quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp.26

1.4. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý thu thuế GTGT. 30

pdf41 trang | Chia sẻ: anan10 | Ngày: 02/11/2020 | Lượt xem: 106 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp tại cục thuế Ninh Bình, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp tại Cục Thuế Ninh Bình. Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp tại Cục Thuế Ninh Bình. 11 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản l{ thuế GTGT là hoạt động quản l{ nhà nước của cơ quan thuế tác động đến để đảm bảo thực thi pháp luật về thuế GTGT với mục đích thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thuế GTGT cho NSNN. Do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau nên thuế GTGT được áp dụng ở các quốc gia cũng có những đặc điểm khác nhau, vì vậy công tác quản l{ thuế GTGT ở mỗi nước có những đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện ở nước đó. Ngay cả công tác quản l{ thuế GTGT trong một quốc gia ở các địa phương, các cấp khác nhau cũng có sự khác nhau tùy thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi địa phương cũng như chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi cấp, mỗi bộ phận. Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu về thuế và quản l{ thuế ở Việt Nam khá phong phú đa dạng. Cũng có nhiều công trình nghiên cứu về một sắc thuế cụ thể như Giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp với các giải pháp cụ thể áp dụng ở phạm vi toàn quốc hoặc một địa phương cụ thể: Với đề tài luận án tiến sỹ: “Quản l{ thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” (2011) của Tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương đãchỉ rõ, các tiêu chí để đánh giá một hệ thống thuế tốt phải xét đến mối quan hệ giữa cơ quan thuế với người nộp thuế, quan hệ với các nhân viên quản l{ thuế, những tiêu chí về lập pháp, những đặc điểm về quản l{, đảm bảo tính linh hoạt trong điều hành.Luận án cũng chỉ ra những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến quản l{ thuế, bao gồm gia tăng hợp tác thuế giữa các nước, thúc đẩy cạnh tranh thuế, thay đổi chính sách thuế và quản l{ thuế, đặc biệt tăng cường đối phó với hiện tượng trốn và tránh thuế quốc tế. Tuy nhiên, nghiên cứu của đề tài mới chỉ dừng lại ở mốc thời gian 2010, các giải pháp chưa gắn với tình hình cụ thể của địa phương nào. 12 ”Hoàn thiện công tác quản l{ thuế GTGT đối với các Doanh nghiệp tại Chi cục thuế thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”, của Th.s Nguyễn Văn Nhuận, năm 2014, Trường Đại học Thái Nguyên đã hệ thống hóa được những vấn đề l{ luận về thuế GTGT và quản l{ thuế GTGT. Đánh giá thực trạng công tác quản l{ thuế GTGT tại Chi cục thuế thị xã Từ Sơn và đưa ra các đề xuất, giải pháp hoàn thiện công tác quản l{ thuế GTGT tại CCT thị xã Từ Sơn tuy nhiên các giải pháp chưa có tính đột phá để cải thiện về cơ bản công tác quản l{ thuế ở việt nam hiện nay. “Pháp luật về quản lý thuế GTGT tại Việt Nam” của Th.s Trương Thị Hồng Nhung, năm 2013, Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã hệ thống vấn đề pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam dưới góc độ pháp l{, đưa ra kết luận khoa học về thực trạng pháp luật quản l{ thuế GTGT và thực tiễn áp dụng pháp luật quản l{ thuế, kết luận về nguyên nhân của thực trạng để làm cơ sở cho việc xây dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật quản l{ thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay. Luận văn mới chỉ dừng lại ở mặt l{ luận, chưa đề cập về hiệu quả quản l{ thuế. “ Báo cáo kinh nghiệm cải cách chính sách thuế giá trị gia tăng của một số nước trên thế giới” (kèm theo Tờ trình Quốc hội số 161/TTr-CP ngày 23 tháng 4 năm 2013) trình bày 8 nội dung của chính sách thuế GTGT ở một số nước trên thế giới gắn với những nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung trong Luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam. Báo cáo cũng nêu lên xu hướng của các nước trên thế giới trong lộ trình cải cách thuế suất và cơ cấu biểu thuế GTGT, phạm vi áp dụng thuế suất 0%, hàng hóa và dịch vụ không chịu thuế GTGT, ngưỡng kê khai áp dụng thuế GTGT, thuế GTGT đối với đối tượng không cư trú Qua báo cáo cho chúng ta thấy xu hướng chung của các nước hiện nay là tăng cường vai trò của thuế GTGT, đồng thời từng bước giảm dần thuế suất thuế thu nhập để tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Do đó ngoài việc cải cách chính sách thuế thì việc tìm kiếm các nguồn thu mới, quản 13 l{ chặt chẽ căn cứ tính thuế sẽ góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Bài nghiên cứu điều tra : “ Giải pháp chống gian lận trong hoàn thuế GTGT” của tác giả Lê Thị Hòa - Đại học Kinh tế kỹ thuật công nghiệp đăng trên Tạp chí tài chính tháng 7/2014 đã chỉ ra những thủ đoạn để gian lận thuế GTGT trong hồ sơ hoàn thuế, nhấn mạnh đến những kẽ hở trong công tác quản l{ hóa đơn, quản l{ doanh thu dẫn đến thất thoát ngân sách nhà nước. Bài nghiên cứu chỉ đề cập tới một góc độ của quản l{ thuế là vấn đề hoàn thuế GTGT. Nhìn chung, các công trình trên đã nêu rõ được các căn cứ pháp l{, cơ sở l{ luận về pháp luật thuế GTGT, quản l{ thuế GTGT và cũng đưa ra một số biện pháp và kiến nghị có { nghĩa thực tiễn đối với công tác quản l{ thu thuế GTGT. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, địa phương, cấp ngành khác nhau thì việc vận dụng chính sách và áp dụng các giải pháp không hoàn toàn giống nhau. Chính vì vậy, tôi đã linh hoạt khi tham khảo những nội dung mà tôi cho là phù hợp đối với đơn vị mà tôi nghiên cứu, để tránh áp dụng một cách máy móc, không hiệu quả cho thực tiễn việc nghiên cứu giải pháp để nâng cao hiệu quả quản l{ thu thuế GTGT đối với Doanh nghiệp tại Cục thuế Ninh Bình.  Những điểm mới trong luận văn của học viên - Luận văn là chuyên khảo khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về vấn đề quản l{ thu thuế GTGT đối với Doanh nghiệp ở Cục thuế Ninh Bình. Các giải pháp đề xuất đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả quản l{ thu thuế GTGT gắn với việc phân tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, tính đặc thù của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. - Luận văn cũng đưa ra các chỉ tiêu định tính, định lượng cụ thể để đánh giá hiệu quả quản l{ thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp tại Cục thuế Ninh Bình. Các chỉ tiêu này được xây dựng, phân tích, so sánh, đánh giá để thấy được { nghĩa cũng như sự biến động của chúng. 14 1.2. Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT 1.2.1. Khái niệm thuế Giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế hiện đại, được các nhà kinh tế nghiên cứu từ rất sớm. Trên thế giới, thuế GTGT đã có lịch sử từ lâu đời, lần đầu xuất hiện năm 1917 và qua nhiều quá trình áp dụng, kiểm nghiệm ở nhiều quốc gia trên thế giới. Do đó, có rất nhiều quan điểm, cách nhìn nhận về thuế GTGT. Theo quan điểm chung của các quốc gia thì, thuế GTGT là một loại thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh qua mỗi khâu của quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế được tính trên giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng. Thuế GTGT do các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ nộp hộ người tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải trả cho người bán. Người tiêu dùng là người chịu thuế. Ở Việt Nam, thuế giá trị gia tăng được hiểu là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng (Điều 2, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12) 1.2.2. Đặc trưng của thuế giá trị gia tăng  Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế, là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và dịch vụ, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác chính là giá mua hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng trả đã bao gồm cả thuế GTGT.  Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên phần giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. 15 Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng. Tuy nhiên, trên thực tế khó xác định được đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng trung gian. Do vậy cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế. Số thuế GTGT ở khâu trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và người tiêu dùng cuối cùng là người phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hoá đó. Tổng số thuế người tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ.  Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao, được biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của NNT, do NNT chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít.  Về phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu. 1.2.3. Cách tính thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT mà doanh nghiệp phải nộp được tính theo một trong hai phương pháp: khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp. a. Phương pháp khấu trừ thuế 16  Đối tượng áp dụng:Các cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ bao gồm: ♦ Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh; ♦ Cơ sở kinh doanh đăng k{ tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh.  Xác định số thuế GTGT phải nộp: Số thuế GTGT phải nộp = Số thuế GTGT đầu ra - Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ Trong đó: - Số thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn GTGT. Thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó. Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì thuế GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ (-) giá tính thuế. Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ được xác định theo nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT quy định tại Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 17 Thông tư 219/2013/TT- BTC. Căn cứ tính thuế là Giá tính thuế và thuế suất. Luật thuế GTGT quy định 3 mức thuế suất phổ thông là 0%, 5%,10% và nhóm 28 mặt hàng, dịch vụ không chịu thuế (Điều 4, luật quản l{ thuế số 13). Việc quy định các mức thuế suất khác nhau thể hiện chính sách điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hóa, dịch vụ. Hàng hóa xuất khẩu bao gồm cả hàng gia công xuất khẩu (xuất khẩu ra nước ngoài hoặc xuất khẩu và khu chế xuất ) được áp dụng mức thuế suất 0% nhằm thực hiện khuyến khích 17 xuất khẩu. Những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, phục vụ trực tiếp cho sản xuất và tiêu dùng được áp dụng mức thuế suất thấp là 5% như thuốc chữa bệnh.Các hàng hóa, dịch vụ khác không nằm trong mức thuế suất 0% và 5% được áp dụng thuế suất phổ thông là 10% b) Phương pháp trực tiếp  Đối tượng áp dụng: ♦ Doanh nghiệp, hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng doanh thu một tỷ đồng, trừ trường hợp đăng k{ tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này (Luật số 31/2013/QH13); ♦ Hộ, cá nhân kinh doanh; ♦ Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có doanh thu phát sinh tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ, trừ tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam khấu trừ nộp thay; ♦ Tổ chức kinh tế khác, trừ trường hợp đăng k{ nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này (số 31/2013/QH13);  Cách tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu Số thuế GTGT phải nộp = Doanh thu * Tỷ lệ % Như vậy căn cứ để tính thuế là Doanh thu tính thuế và tỷ lệ % để tính GTGT + Tỷ lệ % để tính GTGT trên doanh thu được quy định theo từng hoạt động như sau: – Phân phối, cung cấp hàng hoá: 1%; 18 – Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%; – Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%; –Hoạt động kinh doanh khác: 2%. + Doanh thu để tính thuế GTGT: – Là tổng số tiền bán hàng hóa, dịch vụ thực tế ghi trên hóa đơn bán hàng đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT bao gồm các khoản phụ thu, phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng. – Trường hợp cơ sở kinh doanh có doanh thu bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT và doanh thu hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thì không áp dụng tỷ lệ (%) trên doanh thu đối với doanh thu này. Cơ sở kinh doanh nhiều ngành nghề có mức tỷ lệ khác nhau phải khai thuế GTGT theo từng nhóm ngành nghề tương ứng với các mức tỷ lệ theo quy định; Trường hợp người nộp thuế không xác định được doanh thu theo từng nhóm ngành nghề hoặc trong một hợp đồng kinh doanh trọn gói bao gồm các hoạt động tại nhiều nhóm tỷ lệ khác nhau mà không tách được thì sẽ áp dụng mức tỷ lệ cao nhất của nhóm ngành nghề mà cơ sở sản xuất, kinh doanh.  Cách tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên GTGT( Áp dụng đối với các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng vàng, bạc, đá quý) Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế GTGT . Giá trị gia tăng của vàng, bạc, đá qu{ được xác định bằng giá thanh toán của vàng bạc đá qu{ bán ra trừ (-) giá thanh toán vàng, bạc, đá qu{ mua vào tương ứng. Giá thanh toán của vàng, bạc đá qu{ bao gồm cả tiền công chế tác (nếu có), thế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng. 19 Giá thanh toán của vàng, bạc, đá qu{ mua vào được xác định bằng giá trị vàng bạc, đá qu{ mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho mua bán, chế tác vàng, bạc, đá qu{ bán ra tương ứng. Theo các qui định trên, thì những Doanh nghiệp có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng doanh thu một tỷ đồng sẽ có 2 sự lựa chọn phương pháp tính thuế: i/ Hoặc là theo phương pháp trực tiếp (mặc định) ii/ Hoặc theo phương pháp khấu trừ (phải thông báo đăng k{ với cơ quan thuế) Chính vì có 2 sự lựa chọn, nên vấn đề được đặt ra là doanh nghiệp sẽ chọn cách tính nào để có lợi cho doanh nghiệp – số thuế GTGT phải nộp là nhỏ nhất.Câu trả lời là tùy vào tình hình, đặc điểm của mỗi doanh nghiệp, mà có sự lựa chọn tối ưu. Theo một số chuyên gia về thuế : “Những doanh nghiệp có số thuế GTGT mua vào gần tương ứng với số thuế GTGT bán ra, có nghĩa là chênh lệch giữa thuế GTGT bán ra và thuế GTGT mua vào không nhiều dẫn đến số thuế GTGT phải nộp là nhỏ, hoặc không phải nộp thuế GTGT. Những doanh nghiệp loại này thì nên chọn cách tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, thường là các doanh nghiệp sau: – Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình cho doanh nghiệp chế xuất; vận tải quốc tếáp dụng mức thuế suất đầu ra là 0%; doanh nghiệp kinh doanh các hàng hóa dịch vụ không phải khai, tính nộp thuế GTGT. Các doanh nghiệp này, thì thuế GTGT đầu ra là bằng 0 nhưng thuế GTGT đầu vào thì được khấu trừ toàn bộ do đó không phát sinh số thuế GTGT phải nộp, nhưng lại được hoàn thuế đầu vào. – Doanh nghiệp kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT như: sản phẩm trồng trọt, giống vật nuôi, giống cây trồng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ cấp tín dụng, kinh doanh chứng khoán bao, dịch vụ y tế, dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích, dạy học, dạy nghề, không phát sinh số thuế GTGT phải nộp. 20 – Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, hay các ngành nghề khác mà có đầy đủ hóa đơn GTGT của hàng mua vào tương ứng với hàng bán ra chịu thuế GTGT, và chênh lệch giữa giá bán ra và giá mua là nhỏ (tỷ lệ lợi nhuận thấp) dẫn tới số thuế GTGT phải nộp là không đáng kể. Đối với những doanh nghiệp không có số thuế GTGT mua vào, hoặc thuế GTGT mua vào là quá nhỏ so với số thuế GTGT bán ra dẫn đến số thuế GTGT phải nộp là rất lớn nếu chọn theo phương pháp khấu trừ. Những doanh nghiệp loại này thì nên chọn cách tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.Thường là các doanh nghiệp sau: – Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tư vấn thiết kế, lập dự toán, tư vấn pháp l{, dịch vụ nhân sự, các dịch vụ khác mà chi phí chủ yếu là tiền lương (nhân công/chất xám) hoặc chi phí không có hóa đơn GTGT. – Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, hay các ngành nghề khác mà không có hóa đơn GTGT của hàng mua vào như mua bán sản phẩm nông/lâm/ngư nghiệp, đất đá cát sỏi (mua từ người trực tiếp sản xuất bán ra)thì số thuế GTGT đầu vào là hầu như không có hoặc rất nhỏ so với thuế GTGT đầu ra. Nếu chọn theo phương pháp khấu trừ thì thuế GTGT phải nộp là rất lớn. Chính vì thế nộp theo phương pháp trực tiếp sẽ tối ưu hơn vì số thuế GTGT phải nộp là nhỏ.” Về phía cơ quan thuế, đối với mỗi phương pháp tính thuế sẽ có những đặc thù riêng do đó phương pháp quản l{ cũng khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này đối tượng chính là các doanh nghiệp Cục thuế Ninh Bình quản l{ do đó chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa nên đề tài không đề cập tới quy trình quản l{ thu thuế của hộ kinh doanh cá thể mà chỉ tập trung chủ yếu vào đối tượng là doanh nghiệp. 1.2.4. Vai trò của thuế giá trị gia tăng. Thứ nhất, Thuế GTGT đảm bảo nguồn thu lớn cho NSNN. Thuế GTGT thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch vụ, nên tạo được 21 nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN. Thuế GTGT ngày càng khẳng định đây là loại thuế tiên tiến nhằm tạo ra sự công bằng và tiến bộ. Thuế GTGT đã góp phần làm tăng NSNN, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Sự đóng góp của thuế GTGT vào NSNN tăng liên tục qua các năm được thể hiện ở bảng sau: Bảng 1. 1: Tổng hợp số thu thuế GTGT giai đoạn 2011-2015 Chỉ tiêu Thu NSNN giai đoạn 2011 – 2015 (Tỷ đồng) (%) Năm sau so với năm trước 2011 2012 2013 2014 2015 2012 2013 2014 2015 Tổng thu nội địa (trừ dầu thô) 382.09 8 430.87 8 460.307 560.58 3 539.081 112.8 106.8 121.8 96.2 Tổng thu thuế GTGT 183.12 2 192.10 2 193.726 257.39 7 251.634 104.9 100.8 81.2 223.4 Tỷ lệ Thuế GTGT/ Tổng thu nội địa( Trừ dầu thô) 47,9% 44,6% 42,1% 45,9% 46,7% (Nguồn: – Website Bộ Tài chính) Thứ hai,Thuế GTGT góp phần ổn định giá cả, mở rộng lưu thông hàng hoá Với ưu điểm của thuế GTGT là Nhà nước chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lưu thông mà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát sinh. Nếu như không có các sự kiện biến động về tài chính, tiền tệ, sản xuất và lưu thông giảm sút, yếu kém, kinh tế suy thoái và các nguyên nhân khác tác động thì việc áp dụng thuế GTGT sẽ không ảnh hưởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu 22 dùng, mà trái lại giá cả càng hợp l{ hơn, chính xác hơn vì tránh được hiện tượng “thuế chồng lên thuế” như khi áp dụng đối với Luật thuế doanh thu trước đây. Theo nghiên cứu và thống kê của ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì phần lớn các nước trong đó có cả Việt Nam sau khi áp dụng thuế GTGT, giá cả các loại hàng hoá, dịch vụ đều không thay đổi hay chỉ thay đổi một tỷ lệ không đáng kể và mức sản xuất cuả các doanh nghiệp, mức tiêu dùng của dân chúng không sút giảm, hay chỉ sút giảm một tỷ lệ nhỏ trong thời gian đầu, kể cả các trường hợp tăng thuế suất thuế GTGT. Thứ ba, Thuế GTGT góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của cả cơ quan Thuế và NNT Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác quản l{ kinh doanh đã bắt đầu trú trọng đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản l{ và sử dụng hoá đơn chứng từ. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn chứng từ của các doanh nghiệp, qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế đã giúp cơ quan chức năng và cơ quan thuế từng bước nắm được tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp. Chính sách hoàn thuế GTGT đầu vào đã tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển công nghệ, đầu tư đổi mới tài sản cố định, góp phần thúc đẩy vốn đầu tư xã hội tăng trưởng. 1.3. Khái quát chung về quản lý thuế GTGT 1.3.1. Khái niệm quản lý thuế GTGT Theo giáo trình “Tài chính công” của khoa Tài chính Nhà nước Trường đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2005) thì: “ Quản l{ thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện” “Đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định”*47, tr.139+. 23 Như vậy Quản l{ thuế là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp thích hợp tác động lên đối tượng của quản l{ thuế làm cho chúng vận động phù hợp với mục tiêu đặt ra. Quản l{ thuế GTGT là hoạt động quản l{ nhà nước của cơ quan thuế tác động đến để đảm bảo thực thi pháp luật về thuế GTGT với mục đích thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thuế GTGT cho NSNN. Đối tượng của quản l{ thuế là các quan hệ phát sinh trước, trong và sau quá trình triển khai tổ chức thu nộp thuế cho nhà nước. Các quan hệ này có thể diễn ra giữa cơ quan thuế với NNT, giữa NNT với nhau, giữa nội bộ cơ quan thuế, thậm chí giữa cơ quan thuế trong nước với cơ quan thuế các nước khác Vì vậy nó hết sức đa dạng và phức tạp đòi hỏi phải có các công cụ và phương pháp quản l{ thích hợp. Luật Quản l{ thuế số 78/2006/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 là khuôn khổ pháp l{ cao nhất cho hoạt động quản l{ thuế và là cơ sở để thực hiện đổi mới phương thức quản l{ thuế từ cơ chế chuyên quản, NNT thực hiện nghĩa vụ thuế thụ động, sang cơ chế tự khai, tự nộp, đề cao trách nhiệm của NNT trong việc chủ động tính thuế, nộp thuế. Luật có phạm vi điều chỉnh toàn diện, áp dụng với tất cả các khâu trong quá trình thu nộp các sắc thuế và khoản thu ngân sách; qui định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của NNT, công chức thuế, cơ quan thuế và đặc biệt là Luật đã đề cao trách nhiệm pháp l{ của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và cá nhân khác trong công tác quản l{ thuế. 1.3.2.Nguyên tắc quản lý thu thuế giá trị gia tăng. Một là, tuân thủ pháp luật. Nguyên tắc này chi phối hoạt động của các bên trong quan hệ quản l{ thuế bao gồm cả cơ quan nhà nước và NNT. Nội dung của nguyên tắc này là quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản l{, quyền và nghĩa vụ của NNT đều do pháp luật qui định. Trong quan hệ quản l{, các bên liên quan có thể được lựa chọn 24 những hoạt động nhất định nhưng phải trong phạm vi qui định của pháp luật về quản l{ thuế. Hai là, đảm bảo tính hiệu quả. Giống như mọi hoạt động quản l{ khác, hoạt động quản l{ thuế phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả. Các hoạt động quản l{ thuế được thực hiện, các phương pháp quản l{ thuế được lựa chọn phải đảm bảo số thu vào NSNN là lớn nhất theo đúng luật thuế. Đồng thời, chi phí quản l{ thuế thấp nhất. Ba là, công khai, minh bạch. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng của quản l{ thuế. Nguyên tắc công khai đòi hỏi mọi qui định về quản l{ thuế, bao gồm hệ thống chính sách thuế và các qui trình, thủ tục thu nộp thuế phải công bố rộng rãi, công khai cho NNT và tất cả các tổ chức, cá nhân có liên quan được biết qua đó thúc đẩy hoạt động quản l{ thuế đúng luật, trong sạch và tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Bốn là, tuân thủ và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi mỗi quốc gia cần có những thay đổi qui định về quản l{, cũng như các chuẩn mực quản l{ phù hợp với các cam kết và thông lệ quốc tế. Việc thực hiện các cam kết và thông lệ quốc tế về thuế tạo điều kiện cho hoạt động quản l{ của các cơ quan nhà nước hội nhập với hệ thống thuế thế giới. Tuân thủ thông lệ quốc tế cũng tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài. Ðể áp dụng thuế giá trị gia tăng cho đúng đắn, công bằng, có hiệu quả, đáp ứng được chủ trương " góp phần thúc đẩy sản xuất, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập cuả người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước", cầnphải giải quyết trước hết một số vấn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf00050008099_0691_2006099.pdf
Tài liệu liên quan