Luận văn Quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu tại hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.

DANH MỤC BẢNG.

DANH MỤC HÌNH VẼ.

MỞ ĐẦU.7

CHưƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THưƠNG MẠI ĐỐI VỚI NGÀNH

HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU .11

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.11

1.2 Xúc tiến thương mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu .13

1.2.1 Khái niệm xúc tiến thương mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu .13

1.2.2 Vai trò xúc tiến thương mại đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu .16

1.2.3 Đặc điểm của xúc tiến thương mại đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu18

1.3 Quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK .19

1.3.1 Khái niệm và vai trò quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK .19

1.3.2 Nội dung của quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng Thủy sản XK .20

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng

TSXK.

CHưƠNG 2: PHưƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .

2.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu, số liệu

2.2 Phương pháp xử lý thông tin, dữ liệu, số liệu .

2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả.

2.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp .

2.2.3 Phương pháp so sánh .

CHưƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THưƠNG

MẠI ĐỐI VỚI NGÀNH HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU TẠI HIỆP HỘI CHẾ

BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

3.1 Tổng quan về Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) và

ngành hàng Thủy sản xuất khẩu Việt Nam .

pdf25 trang | Chia sẻ: lanphuong92 | Ngày: 17/10/2020 | Lượt xem: 96 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu tại hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
uỷ sản Việt Nam. Để hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với nhiều Hiệp định thƣơng mại tự do song và đa phƣơng (FTAs) đã và sẽ ký trong thời gian tới, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam đã không ngừng đổi mới các phƣơng thức hoạt động trong đó hoạt động xúc tiến thƣơng mại có vai trò quan trọng trong xuất khẩu thủy sản. Do đó, quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu là một nhiệm vụ trọng yếu đƣợc VASEP quan tâm đặc biệt nhằm mục tiêu giúp cho các doanh nghiệp thành viên mở rộng thị trƣờng, phát triển thƣơng hiệu và tạo ra những lợi thế cạnh tranh mới cho ngành Thủy sản xuất khẩu Việt Nam. 9 Xét cả về lý luận và thực tiễn đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu, các chủ thể quản lý hoạt động XTTM ở Việt Nam gồm nhà nƣớc, doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ XTTM (Trung tâm XTTM, Hội, Hiệp hội). Trong số các Hiệp hội có Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam . Trong quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu các chủ thể này có các chức năng riêng nhƣng các chủ thể đó đều có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong luận văn này, chủ thể quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu ở Việt Nam đƣợc xác định là VASEP. Trong suốt thời gian 18 năm qua kể từ khi thành lập, quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu tại VASEP đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể, đƣợc Chính phủ, các Bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp thủy sản ghi nhận. Hoạt động có tổ chức và trọng tâm này của Hiệp hội đã góp phần định danh thƣơng hiệu VASEP trên thị trƣờng quốc tế, góp phần quảng bá đƣa sản phẩm thủy sản Việt Nam có mặt ở hơn 160 thị trƣờng, tăng trƣởng kim ngạch XK cao từ 1 tỷ USD năm 2000 lên mức gần 8 tỷ USD năm 2014, đƣa Việt Nam trở thành Top 5 quốc gia (cùng Trung Quốc, Indonesia, Ấn Độ, Mỹ) đứng đầu sản xuất và xuất khẩu thủy sản trên thế giới. Tuy nhiên, việc quản lý hoạt động này vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện, đặc biệt trƣớc những vận động và khó khăn chung trong bối cảnh mới của cả sản xuất và xuất khẩu thủy sản, đã đặt ra những yêu cầu và thách thức trong quản lý hoạt động XTTM của VASEP. Trƣớc thực tế đó, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động xúc tiến thương mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu tại Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam” để thực hiện luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Quản lý kinh tế, chƣơng trình định hƣớng thực hành. Đề tài được thực hiện nhằm tìm lời giải đáp cho câu hỏi nghiên cứu: Hiêp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam cần phải làm gì và làm nhƣ thế nào để hoàn thiện quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu? 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10 - Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu tại Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam. - Nhiệm vụ nghiên cứu: + Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu. + Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu tại VASEP. + Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu tại VASEP. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu tại Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam.  Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: Nghiên cứu quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu tại VASEP. + Về thời gian: Thực trạng quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu tại VASEP đƣợc phân tích, đánh giá trong giai đoạn 2010 - 2015; các giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu tại VASEP đƣợc xác định cho giai đoạn 2016 - 2020. + Về nội dung: Luận văn nghiên cứu quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu tại VASEP ở những nội dung sau: Xây dựng cơ chế chính sách về XTTM đối với ngành hàng TSXK; tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách về xúc XTTM đối với ngành hàng TSXK, kiểm tra, giám sát, đánh giá XTTM đối với ngành hàng TSXK. 4. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu. 11 Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu tại Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam. Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu tại Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam. 12 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƢƠNG MẠI ĐỐI VỚI NGÀNH HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xúc tiến thƣơng mại quốc tế nói chung và hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu nói riêng đã đƣợc quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến một số công trình đã công bố nhƣ sau: Nguyễn Lan Hƣơng (2012), Xúc tiến xuất khẩu đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân. Luận án đã hệ thống hoá đƣợc những vấn đề lý luận chung về hoạt động xúc tiến xuất khẩu, phân tích, đánh giá thực tiễn và đề xuất các giải pháp tăng cƣờng hoạt động xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Đây là công trình nghiên cứu khá cụ thể về hoạt động xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ Việt Nam, tuy nhiên những nội dung phân tích, đánh giá và giải pháp đề xuất trong công trình này chƣa có sự cụ thể hoá gắn với đặc trƣng của từng thị trƣờng xuất khẩu của Việt Nam. Phạm Thị Thu Hƣơng (2009), Thực trạng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại quốc tế của Việt Nam, luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân. Một công trình nghiên cứu khá toàn diện cả về cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xúc tiến thƣơng mại quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế, quốc tế. Trong đó, những vấn đề lý luận chung về hoạt động xúc tiến thƣơng mại quốc tế cả ở hai cấp độ vĩ mô và vi mô cũng nhƣ kinh nghiệm của một số nƣớc đã đƣợc đề cập một cách hệ thống. Thực trạng hoạt động xúc tiến thƣơng mại quốc tế của Việt Nam đã đƣợc phân tích và đánh giá một cách sát thực dựa trên cơ sở dữ liệu điều tra thông qua phiếu hỏi, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp. Công trình này đã cho ngƣời đọc thấy đƣợc một bức tranh tổng thể về hoạt động xúc tiến thƣơng mại quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy 13 nhiên ở luận án này, hoạt động xúc tiến xuất khẩu mới chỉ đƣợc nghiên cứu nhƣ một bộ phận của hoạt động xúc tiến thƣơng mại quốc tế và chƣa có xem xét đối với một thị trƣờng cụ thể. Ngô Thị Tuyết (2014), Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của ngành hàng thủy sản Việt Nam trong điều kiện hội nhập, luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân. Trong đó, đã nghiên cứu về lý luận về sức cạnh tranh của hàng hóa, thực trạng sức cạnh tranh của một số mặt hàng thủy sản chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời đề cập đến những tác động từ các cam kết của Việt Nam trong các Hiệp định Thƣơng mại tự do (FTA) với các nƣớc đến sức cạnh tranh của ngành hàng thủy sản Việt Nam. Viện nghiên cứu thƣơng mại (2003), Xúc tiến thương mại, công trình đề cập một cách hệ thống những vấn đề mang tính lý luận chung về hoạt động xúc tiến thƣơng mại (bao gồm cả xúc tiến xuất khẩu, xúc tiến nhập khẩu và xúc tiến bán hàng trong nƣớc). Bộ NN & PTNT (2016), Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành Thủy sản trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế, quốc tế, Đề án của Bộ NN & PTNT đã nhận định cần rà soát, sửa đổi thể chế quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thủy sản để ngành có thể hội nhập tốt hơn; cũng nhƣ những yêu cầu của các hiệp định FTA, hợp tác song phƣơng, quy định của các tổ chức quốc tế, quy định phi thuế quan từ các thị trƣờng, bên cạnh đó tăng cƣờng mở rộng hợp tác quốc tế để hỗ trợ, phát triển bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh nhƣ đào tạo nguồn nhân lực, tiếp thu tiến bộ kỹ thuật từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và đặc biệt là hỗ trợ cho các doanh nghiệp xây dựng thƣơng hiệu sản phẩm quốc gia cũng nhƣ các giải pháp tìm kiếm thị trƣờng (XTTM). Nhƣ vậy, cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và cập nhật về hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam dƣới góc độ quản lý kinh tế. Hầu hết, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc khái quát hoặc đi vào từng khía cạnh cụ thể về đẩy mạnh xuất khẩu của một số mặt hàng đơn lẻ, đƣa ra các giải pháp nhằm phát huy những lợi thế 14 cạnh tranh, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu ngành hàng thủy sản v..v. Thực tế cũng cho thấy rằng chƣa có công trình nào nghiên cứu về quản lý hoạt động xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu tại Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam. Vì vậy, có thể nói đề tài đƣợc lựa chọn nghiên cứu trong luận văn không trùng lặp với các công trình đã đƣợc công bố, mang tính thời sự cao, rất cần thiết, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam đã bƣớc vào giai đoạn thực hiện nhiều cam kết đa phƣơng và song phƣơng đã ký kết đồng thời chuẩn bị thực hiện các hiệp định thƣơng mại tự do thế hệ mới. 1.2 Xúc tiến thƣơng mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu 1.2.1 Khái niệm xúc tiến thương mại đối với ngành hàng Thủy sản xuất khẩu 1.2.1.1 Khái niệm xúc tiến thương mại a. Khái niệm xúc tiến Ngay từ khi xuất hiện hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá, ngƣời ta đã có những việc làm nhằm thực hiện hoạt động này một cách thuận lợi nhƣ đi tìm ngƣời muốn đổi, muốn mua; mời chào những ngƣời đi qua, Tất cả những việc làm nhƣ vậy và tƣơng tự ngày nay trong marketing ngƣời ta gọi chung là hoạt động xúc tiến và đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Xúc tiến là hoạt động thông tin tới khách hàng tiềm năng. Đó là hoạt động trao truyền, chuyển tải tới khách hàng những thông tin cần thiết về doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp, phương thức phục vụ và những lợi ích khác mà khách hàng có thể thu được từ việc mua sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp cũng như những thông tin phản hồi lại từ phía khách hàng để từ đó doanh nghiệp tìm ra cách thức tốt nhất nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Đây là quan niệm về xúc tiến gắn liền với việc bán hàng của doanh nghiệp (xúc tiến bán hàng - là quan niệm truyền thống, quan niệm hẹp về xúc tiến thƣơng mại). b. Khái niệm xúc tiến thương mại Cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau về xúc tiến thƣơng mại (XTTM): Thứ nhất, theo điều 3 Luật Thƣơng mại Việt Nam năm 2005, hoạt động xúc tiến thƣơng mại đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “XTTM là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm 15 cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thƣơng mại, trƣng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thƣơng mại”. Định nghĩa này mới chỉ nhấn mạnh những hoạt động xúc tiến thƣơng mại gắn trực tiếp với việc tiêu thụ hàng hoá, chƣa đề cập đến những hoạt động hỗ trợ gián tiếp nhƣ cung cấp thông tin, khảo sát thị trƣờng, tƣ vấn sản xuất - kinh doanh, đào tạo kỹ năng xúc tiến, nhƣng có ảnh hƣởng không nhỏ đến sự thành công của hoạt động mua bán hàng hoá. Thứ hai là một định nghĩa có tính tổng quát hơn về xúc tiến thƣơng mại do TS. Phạm Quang Thảo đƣa ra: “XTTM là các hoạt động nghiên cứu bàn giấy, khảo sát và các dịch vụ liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới hành vi mua bán nhƣng không thuộc hành vi mua bán mà chỉ hỗ trợ nhằm đem lại hiệu quả cao nhất” [1, tr.218]. Tuy nhiên, định nghĩa này cũng mang hàm ý gắn liền XTTM với hoạt động mua bán hàng hoá. Thứ ba là một quan niệm phổ biến về XTTM trên thế giới ngày nay: “XTTM là tất cả các biện pháp có tác động hỗ trợ, thúc đẩy phát triển thƣơng mại” [1, tr.218]. Định nghĩa này vừa có tính khái quát nhất (mang nghĩa rộng) và vừa phù hợp với xu thế phát triển thƣơng mại trên thế giới ngày nay. Ngoài ra, trên thực tế còn có nhiều tài liệu và tác giả đƣa ra những định nghĩa khác về XTTM, nhƣng nhìn chung đều mang nghĩa hẹp tƣơng tự nhƣ định nghĩa thứ nhất và thứ hai. Hiện nay, để có chính sách quản lý phù hợp và sự đầu tƣ hiệu quả cho hoạt động XTTM, ngƣời ta đã tiến hành phân loại XTTM theo các tiêu chí cụ thể khác nhau. Một là, theo chủ thể thực hiện, XTTM bao gồm: XTTM của thƣơng nhân (nhằm đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ hàng hóa của họ và thƣơng nhân kinh doanh dịch vụ XTTM); XTTM của Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. Hai là, theo phạm vi thực hiện bao gồm: XTTM trong nƣớc và XTTM ở nƣớc ngoài. Ba là, theo đối tƣợng tác động, XTTM đƣợc chia thành: XTTM nội địa và XTTM quốc tế. Trong đó, theo quan niệm truyền thống, XTTM quốc tế bao gồm hoạt động xúc tiến xuất khẩu và hoạt động xúc tiến nhập khẩu. 16 Ở nhiều nƣớc đang phát triển cũng nhƣ ở Việt Nam hiện nay, quan niệm về việc thực hiện các hoạt động XTTM quốc tế thực chất là hoạt động xúc tiến xuất khẩu. Quan niệm này hoàn toàn phù hợp trong điều kiện các quốc gia ở thời kỳ đầu thực hiện chiến lƣợc công nghiệp hoá hƣớng về xuất khẩu nhƣ ở Nhật Bản những năm 50 - 60 và ở Hàn Quốc những năm 60 - 70 của thế kỷ XX. Trƣớc bối cảnh hội nhập kinh tế diễn ra ngày càng sâu rộng, mối quan hệ giữa thƣơng mại quốc tế và đầu tƣ quốc tế ngày càng chặt chẽ, đặc biệt là ở các nƣớc phát triển (nhƣ Nhật Bản, Hoa Kỳ,), XTTM quốc tế đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn (bao gồm xúc tiến xuất khẩu, xúc tiến nhập khẩu và xúc tiến đầu tƣ nƣớc ngoài). Đó là quan niệm phù hợp với định nghĩa của Trung tâm thƣơng mại quốc tế (ITC) về XTTM quốc tế. Định nghĩa này đƣợc phát biểu nhƣ sau: “Xúc tiến thƣơng mại quốc tế (International trade promotion) của một quốc gia là hoạt động trợ giúp của Chính phủ của một nƣớc nói chung và các tổ chức xúc tiến thƣơng mại nói riêng nhằm thúc đẩy các hoạt động thƣơng mại quốc tế nhƣ đầu tƣ nƣớc ngoài, xuất khẩu và nhập khẩu của nƣớc đó với cộng đồng quốc tế”. Theo quan điểm của tác giả, Chính phủ, các tổ chức XTTM cũng nhƣ các doanh nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi quan niệm về XTTM theo nhƣ định nghĩa trên và trƣớc hết là thực hiện kết hợp giữa xúc tiến xuất khẩu với xúc tiến nhập khẩu cho phù hợp với điều kiện, mục tiêu phát triển kinh tế trong nƣớc và xu thế phát triển của thƣơng mại quốc tế. Dƣới góc độ kinh doanh quốc tế, XTTM bao gồm xúc tiến xuất khẩu, xúc tiến nhập khẩu, xúc tiến thƣơng mại nội địa.Vì vậy có thể nói xúc tiến xuất khẩu là một bộ phận, một hoạt động cụ thể trong tổng thể hoạt động xúc tiến thƣơng mại. Trên thực tế, trong môi trƣờng kinh doanh cụ thể hoạt động xúc tiến xuất khẩu lại đƣợc đồng nhất với hoạt động xúc tiến thƣơng mại vì khi diễn ra các hoạt động trao đổi thƣơng mại giữa các quốc gia trên phạm vi toàn thế giới thì xúc tiến thƣơng mại, xúc tiến xuất khẩu hay xúc tiến nhập khẩu chỉ có một mục đích làm tăng khối lƣợng và giá trị trao đổi thƣơng mại của thế giới. Việc đồng nhất xúc tiến thƣơng mại với xúc tiến xuất khẩu là do tầm quan trọng đặc biệt của xuất khẩu nói chung, khi các 17 nƣớc có nền kinh tế đang phát triển nhƣ Việt Nam hiện nay thì trọng tâm của XTTM cũng là xúc tiến xuất khẩu. 1.1.1.2 Khái niệm xúc tiến thương mại đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu XTTM đối với ngành hàng TSXK là những hoạt động có mục tiêu và tổ chức để hỗ trợ, thúc đẩy việc giao thương, đầu tư, chuyển giao công nghệ, mua bán XNK thủy sản và các sản phẩm thủy sản của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ; tạo cơ hội mở rộng đối tác, khách hàng,xác định được rõ yêu cầu và dung lượng thị trường, nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng thủy sản ở các thị trường trọng tâm hoặc tiềm năng - bao gồm hoạt động hội chợ triển lãm, quảng bá hàng hóa, khảo sát thị trường, cung cấp thông tin, hội thảo chuyên đề, xây dựng và truyền thông hình ảnh sản phẩm Một cách bao quát thì XTTM đối với ngành hàng TSXK là một công cụ hỗ trợ xây dựng thƣơng hiệu sản phẩm thủy sản, thúc đẩy xuất nhập khẩu và góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thủy sản đối với một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ. 1.2.2 Vai trò xúc tiến thương mại đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu Thứ nhất, hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK tạo điều kiện và thúc đẩy sản xuất, công nghệ, quản lý trong nƣớc phát triển, khai thác tốt hơn những lợi thế của đất nƣớc. Hoạt động XTXK nói chung và XTTM đối với ngành hàng TSXK nói riêng có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của xuất khẩu của đất nƣớc. Thông qua các hoạt động cụ thể nhƣ cung cấp thông tin thị trƣờng; khảo sát, nghiên cứu thị trƣờng; tổ chức hội chợ, triển lãm; sẽ tạo điều kiện và hỗ trợ cho việc hoạt động xuất khẩu thủy sản, phù hợp với nhu cầu thị trƣờng, với khả năng, lợi thế của doanh nghiệp cũng nhƣ của ngành và của quốc gia. Khi đó, hoạt động xuất khẩu thủy sản phát triển sẽ tạo động lực cho sản xuất trong nƣớc phát triển, kéo theo việc chuyển giao và phát triển công nghệ tiên tiến, cũng nhƣ khả năng quản lý (về chất lƣợng, chuỗi giá trị, thƣơng hiệu, tài chính, XTTM.) đƣợc cải thiện và nâng cao để đáp ứng yêu cầu thị trƣờng. 18 Thứ hai, hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK là công cụ thúc đẩy xuất khẩu bền vững và thu ngoại tệ về cho đất nƣớc phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và có ý nghĩa quan trọng trong cân đối vĩ mô. Nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu là nguồn thu chính của mỗi quốc gia để phục vụ công cuộc xây dựng, đổi mới và bảo vệ đất nƣớc; là nguồn lực quốc gia trong phát triển kinh tế. Các ngành hàng nào có điều kiện, tiềm năng và thế mạnh cho XK đều cần tập trung các nguồn lực công nghệ và xã hội để có khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng yêu cầu thị trƣờng và gia tăng XK. Thủy sản Việt Nam là một ngành hàng có điều kiện và tiềm năng nhƣ thế. Hoạt động XTTM cho TSXK không chỉ quan trọng, không chỉ là công cụ hỗ trợ đắc lực việc mở rộng thị trƣờng, gia tăng XK mà còn là mục tiêu cho ngành hàng thủy sản phối hợp, phấn đấu để có hoạt động XTTM ngày càng mạnh mẽ và chuyên nghiệp hơn. Thứ ba, hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK góp phần xây dựng và khuếch trƣơng hình ảnh sản phẩm thủy sản của quốc gia trên thị trƣờng thế giới. Hình ảnh sản phẩm thủy sản của quốc gia có thể đƣợc gây dựng và quảng bá qua các hoạt động trƣng bày, giới thiệu, tuyên truyền trực tiếp qua hội chợ, triển lãm, phòng trƣng bày, trung tâm thƣơng mại hoặc qua các phƣơng tiện thông tin đại chúng nhƣ internet, truyền hình, báo, tạp chí, Đồng thời, chính sự phát triển thành công của hoạt động xuất khẩu từng mặt hàng, nhóm mặt hàng thủy sản do duy trì, nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trƣờng và những thành tựu cao trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia cũng góp phần tích cực vào việc xây dựng hình ảnh thƣơng hiệu của sản phẩm thủy sản, ngành thủy sản của quốc gia trên thị trƣờng thế giới. Thứ tư, hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK góp phần mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế nói chung và thị trƣờng xuất khẩu nói riêng cho đất nƣớc. Hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK tạo điều kiện cho xuất khẩu phát triển một cách có hiệu quả, vừa khai thác tốt hơn lợi thế của đất nƣớc, tăng quy mô xuất khẩu, vừa có thể mở rộng thị trƣờng. Đồng thời, thực hiện tốt hoạt động XTXK cũng góp phần tạo ra môi trƣờng kinh doanh thƣơng mại thuận lợi (về cơ sở hạ tầng 19 nhƣ xây dựng sàn giao dịch trực tiếp hoặc thƣơng mại điện tử; các trung tâm hội chợ, triển lãm tầm cỡ quốc gia và quốc tế; tạo khung pháp lý thuận lợi thông qua ký kết các hiệp định thƣơng mại song phƣơng và đa phƣơng,) cho các hoạt động thƣơng mại quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu của quốc gia nói riêng phát triển. Ngoài ra, việc Chính phủ đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng (xây dựng sàn và trung tâm giao dịch, mạng thông tin điện tử, ) và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tƣ ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển thƣơng mại điện tử trong điều kiện hiện nay sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng và nhà cung cấp tiện lợi và dễ dàng nắm bắt cơ hội kinh doanh hơn. Đồng thời, việc đổi mới ứng dụng công nghệ cao trong kinh doanh cũng là một yếu tố giúp doanh nghiệp khẳng định uy tín và vị thế trên thị trƣờng. Đây là một trong những nội dung xúc tiến xuất khẩu quan trọng đƣợc Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam quan tâm thực hiện. Bên cạnh những hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK góp phần tích cực cho sự phát triển xuất khẩu cũng nhƣ phát triển kinh tế đất nƣớc, còn phải kể đến vai trò của việc đầu tƣ xây dựng, phát triển thƣơng hiệu trong điều kiện hội nhập hiện nay. Thƣơng hiệu sẽ giúp chúng ta dễ dàng khẳng định vị thế cạnh tranh hơn, đồng thời có thể giảm thiểu những tranh chấp thƣơng mại và nâng cao đƣợc hiệu quả kinh tế trong các hợp đồng kinh doanh thƣơng mại do hạn chế đƣợc phần lợi nhuận chia sẻ với bên trung gian khi phải mƣợn uy tín, thƣơng hiệu của họ để thực hiện các giao dịch. 1.2.3 Đặc điểm của xúc tiến thương mại đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu Thứ nhất, XTTM đối với ngành hàng TSXK là một bộ phận của chiến lƣợc phát triển ngành Thủy sản Việt Nam Chiến lƣợc phát triển ngành Thủy sản Việt Nam đã đề ra chiến lƣợc phát triển thị trƣờng và xúc tiến thƣơng mại: Tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác xúc tiến thƣơng mại để củng cố và phát triển các thị trƣờng truyền thống, các thị trƣờng lớn (EU, Nhật, Mỹ) và phát triển mở rộng các thị trƣờng Đông Âu, Trung Đông, Trung Quốc, Hàn Quốc,Phát triển, mở rộng thị trƣờng nội địa phục vụ du lịch, các đô thị, khu dân cƣ lớn. Tăng cƣờng hoạt động xúc tiến thƣơng mại cho các sản phẩm 20 thủy sản ở các thị trƣờng trọng điểm (triển lãm, hội chợ, tuyên truyền, quảng cáo,..). Nâng cao năng lực trao đổi, tiếp cận với thông tin thị trƣờng, thƣơng mại thủy sản cho các doanh nghiệp, các cán bộ quản lý và ngƣời sản xuất. Xây dựng thƣơng hiệu và tiêu chuẩn chất lƣợng cho một số sản phẩm thủy sản chủ lực phục vụ xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu về chất lƣợng, mẫu mã và quy cách sản phẩm thủy sản của các nƣớc nhập khẩu. Thứ hai, XTTM đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu có sự phối hợp của nhà nƣớc, hiệp hội và các doanh nghiệp. Trong mạng lƣới XTTM đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu quốc gia nêu trên, có ba thành phần cơ bản, đó là Nhà nƣớc, các Hiệp hội ngành hàng và các doanh nghiệp xuất khẩu. Nhà nƣớc đóng vai trò định hƣớng, tạo khung pháp lý và cơ chế cho hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK. Hiệp hội ngành hàng hoặc các tổ chức hỗ trợ thƣơng mại đóng vai trò là cầu nối, là nơi tập hợp các DN để hƣớng dẫn và tổ chức các hoạt động XTTM trong khuôn khổ pháp luật và nhu cầu của ngành hàng, của DN. Doanh nghiệp là chủ thể quan trọng tham gia cùng Hiệp hội hoặc Nhà nƣớc để thực hiện các hoạt động XTTM có mục tiêu để mở rộng đối tác, gia tăng khách hàng từ đó phát triển sản xuất và xuất khẩu theo yêu cầu thị trƣờng. 1.3 Quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK 1.3.1 Khái niệm và vai trò quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK - Khái niệm quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK Quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK là tổng thể các chính sách, biện pháp và cơ chế được Nhà nước, tổ chức hỗ trợ xuất khẩu ( Hội, Hiệp hội) và các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu thủy sản Việt Nam thực hiện để hỗ trợ và thúc đẩy việc mở rộng thị trường, gia tăng XK Thủy sản và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng Thủy sản xuất khẩu. - Vai trò quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu Công tác quản lý hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK gồm có vai trò của nhà nƣớc, của các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu (Hội, Hiệp hội, Trung tâm thƣơng 21 mại.) và của doanh nghiệp. Nhƣng chủ thể có vai trò quan trọng trực tiếp trong việc thực hiện quản lý các hoạt động XTTM đối với ngành hàng TSXK là Hiệp hội ngành hàng (Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam). Hiệp hội quản lý ở cấp độ và phạm vi tổ chức hỗ trợ thƣơng mại nhằm đạt mục tiêu của XTTM (hỗ trợ mở rộng thị trƣờng, gia tăng XK, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của DN) mà Hiệp hội còn là cầu nối giữa nhà nƣớc và doanh nghiệp để đảm bảo việc xây dựng và thực hiện đề án XTTM đúng yêu cầu, định hƣớng của nhà nƣớc và tính hiệu quả của chƣơng trình XTTM quốc gia cũng nhƣ chƣơng trình XTTM mà Hiệp hội cùng DN tự tổ chức. Các hoạt động quản lý của Hiệp hội ít nhất gồm: phổ biến cho ngành và DN về định hƣớng phát triển xuất

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf00050007869_967_2003194.pdf
Tài liệu liên quan