Luận văn Tăng thẩm quyền cho kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN

HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG CẢI CÁCH TƯ PHÁP

7

1.1. Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát

viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự

7

1.1.1. Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự 7

1.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong

tố tụng hình sự

11

1.2. Những yêu cầu đặt ra trong tiến trình cải cách tư pháp liên

quan đến nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên

28

1.2.1. Những yêu cầu về đổi mới bộ máy tổ chức các cơ quan tư

pháp nói chung và Cơ quan Viện kiểm sát nói riêng liên quan

đến Kiểm sát viên

28

1.2.2. Những yêu cầu về tố chất bên trong Kiểm sát viên đáp ứng

yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay khi thực hiện nhiệm vụ,

quyền hạn, trách nhiệm của mình

33

Chương 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ

TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TỐ

TỤNG HÌNH SỰ

37

2.1. Khái quát về hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân và

tình hình chung về đội ngũ Kiểm sát viên của Viện kiểm sát ở

giai đoạn hiện nay

37

pdf18 trang | Chia sẻ: mimhthuy20 | Ngày: 21/09/2020 | Lượt xem: 81 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Tăng thẩm quyền cho kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình 33 Chương 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 37 2.1. Khái quát về hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân và tình hình chung về đội ngũ Kiểm sát viên của Viện kiểm sát ở giai đoạn hiện nay 37 2.2. Tình hình Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm 40 2.2.1. Những kết quả đạt được trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên 40 2.2.2. Những tồn tại, thiếu sót trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên 51 2.2.3. Những nguyên nhân gây nên những tồn tại, thiếu sót trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên 65 Chương 3: NHỮNG KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUYỀN HẠN CHO KIỂM SÁT VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ 80 3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tăng quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng hình sự 81 3.2. Bồi dưỡng, đào tạo, bổ sung những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ liên quan đến tăng quyền hạn, trách nhiệm cho Kiểm sát viên 86 3.3. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc thực hiện quyền hạn, trách nhiệm của đội ngũ Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng 88 3.4. Tăng cường trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, điều kiện công tác đối với đội ngũ Kiểm sát viên 89 3.5. Hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và của Viện kiểm sát nói riêng 90 KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Viện kiểm sát, theo quy đị nh của Hiến pháp và pháp luật, thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố. Tuy nhiên, người thực hiện chức năng của Viện kiểm sát chính là Kiểm sát viên. Hay nói cách khác, những thành công cũng như những thất bại của Viện kiểm sát trong thực hiện chức năng của mình đều phụ thuộc vào thái độ, trách nhiệm, năng lực, trình độ, phẩm chất, đạo đức của Kiểm sát viên. Chính vì vậy, Kiểm sát viên giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ quan Viện kiểm sát các cấp. Nếu so sánh với quy đị nh của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và các văn bản pháp luật có liên quan, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những quy đị nh về quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát nói chung, Kiểm sát viên nói riêng đã rõ ràng hơn theo hướng từng bước tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng để giải quyết vụ án hình sự. Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự có quy đị nh về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên cho thấy, những quy đị nh tại Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự chưa bảo đảm được yêu cầu để Viện kiểm sát chủ động thực hiện đúng chức năng của mình trong tình hình án hình sự ngày một tăng lên và tính phức tạp ngày càng cao. Đã xuất hiện nhiều vướng mắc, bất cập trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự mà lẽ ra, đã không xảy ra nếu các Kiểm sát viên được trang bị các quyền năng pháp lý một cách đầy đủ, hoàn thiện hơn. Thấy được tình hình này, trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ ra sự cần thiết phải: Phân đị nh rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chị u trách nhiệm trước pháp luật[11]. Như vậy, vấn đề tăng thẩm quyền cho những người tiến hành tố tụng nói chung, trong đó có Kiểm sát viên là yêu cầu bức thiết đặt ra đối với những người tiến hành tố tụng nói chung và Kiểm sát viên nói riêng. Điều này đặt ra sự cần thiết nghiên cứu để đưa ra những đề xuất hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền của Kiểm sát viên. Đó là lý do tại sao tác giả chọn đề tài: "Tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự - một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ luật học. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Cho đến nay chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự để đưa ra đề xuất liên quan đến tính hợp lý trong những quy đị nh của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên nói chung và tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Kiểm sát viên nói riêng. Tuy nhiên, có một số đề tài nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này. Ví dụ, đề tài khoa học cấp Bộ của TS. Lê Hữu Thể, Viện Nghiên cứu khoa học Kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao: "Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ". Đây là một công trình khoa học được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu các quy đị nh trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhằm luận giải cơ sở pháp lý và vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra; đánh giá khái quát thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong những năm qua nhằm phân tích tìm ra những nguyên nhân của các kết quả và những mặt còn hạn chế. Qua đó tác giả đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002. Luận văn thạc sĩ luật học của Phương Lan về: "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩ a trong giải quyết các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở Hà Nội", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2004). Đây được coi là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩ a trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở Hà Nội. Nội dung nghiên cứu của luận văn tập trung vào việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận về pháp chế xã hội chủ nghĩ a nói chung và pháp chế xã hội chủ nghĩ a trong việc giải quyết vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nói riêng; đánh giá thực trạng pháp chế trong hoạt động giải quyết các vụ án hình sự của các Viện kiểm sát cấp huyện trên đị a bàn thành phố Hà Nội, qua đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp góp phần tăng cường pháp chế trong việc giải quyết vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở thành phố Hà Nội hiện nay. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả, được biết cũng chưa có bài viết nào đăng trên các tạp chí pháp lý đề cập vấn đề tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên. Trong một số cuộc hội thảo khoa học do Viện kiểm sát chủ trì cũng như trong nhiều báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát hàng năm đều ghi nhận, bên cạnh những thành tích đạt được trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đội ngũ Kiểm sát viên Viện kiểm sát còn có nhiều vấn đề. Ví dụ, nhận xét của Viện kiểm sát cho rằng, đội ngũ Kiểm sát viên hiện nay còn nhiều yếu kém: ý thức trách nhiệm của một bộ phận Kiểm sát viên chưa cao; năng lực, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, của nhiều Kiểm sát viên còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay; việc quản lý, chỉ đạo, điều hành kiểm tra của Viện kiểm sát cấp trên đối với Viện kiểm sát cấp dưới chưa được quan tâm đúng mức; công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát các cấp với các cơ quan tiến hành tố tụng trong nhiều lĩ nh vực còn chưa kị p thời; công tác phối hợp, chỉ đạo giải quyết án còn yếu. Trong đội ngũ Kiểm sát viên còn một bộ phận sa sút về phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp, nên đã có người vi phạm kỷ luật hoặc vi phạm pháp luật đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trung bình mỗi năm có khoảng 40 đến 50 trường hợp Kiểm sát viên vi phạm pháp luật khi thực thi nhiệm vụ đến mức phải xử lý. Nguyên nhân gây nên tình trạng này có nhiều, nhưng nguyên nhân cơ bản vẫn là quy đị nh của pháp luật tố tụng hình sự chưa được đầy đủ, rõ ràng, trong khi đó, không ít Kiểm sát viên không nắm vững quy đị nh của pháp luật nên đã mắc vào các sai phạm trong thực thi nhiệm vụ của mình. Do vậy, có thể coi đây là nghiên cứu đầu tiên về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên và vấn đề tăng thẩm quyền cho họ trong thực thi nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố nhà nước trong tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta đến năm 2020. 3. Mục đích, nội dung nghiên cứu Mục đích của nghiên cứu đề tài này là làm rõ được những bất cập trong những quy đị nh hiện nay về Kiểm sát viên, trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất về tăng thẩm quyền tố tụng cho Kiểm sát viên khi họ thực thi nhiệm vụ của tố tụng hình sự đặt ra, liên quan đến Viện kiểm sát để họ có đầy đủ điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo. Nội dung nghiên cứu đề cập đến khái niệm, đối tượng, phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự, đi sâu phân tích các quy đị nh của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; thực trạng tình hình thực hiện quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự; đề xuất giải pháp hoàn thiện về vấn đề này. 4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Đề tài đi sâu nghiên cứu về quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm của Kiểm sát viên thuộc cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự theo quy đị nh của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Qua đó phân tích, đánh giá, liên hệ với thực tiễn, đưa ra kiến nghị , giải pháp nhằm luận chứng cho việc cần tăng cường và hoàn thiện các quyền năng và trách nhiệm pháp lý của Kiểm sát viên tại các giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản nêu trên nhằm hoàn thiện quyền năng pháp lý cho Kiểm sát viên khi tiến hành tố tụng hình sự. Luận văn không đề cập tới vấn đề: - Hệ thống Viện kiểm sát quân sự; - Các chức danh Viện trưởng, Phó Viện trưởng cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong và ngoài quá trình tiến hành tố tụng - Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết đị nh của Tòa án, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. 5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩ a Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp, về mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động tố tụng hình sự, về yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường đị nh hướng xã hội chủ nghĩ a, về yêu cầu đặt ra của quá trình cải cách tư pháp Ngoài ra, luận văn còn sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, phương pháp lị ch sử, phương pháp khảo sát thực tiễn, tham khảo ý kiến của các cán bộ tiến hành tố tụng ở các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là các Kiểm sát viên trong ngành Kiểm sát nhân dân đã có bề dày thực tiễn trong tiến hành tố tụng hình sự. 6. Những đóng góp của luận văn Có thể coi những nội dung sau đây được đề cập trong luận văn là những đóng góp cho khoa học luật tố tụng hình sự hiện nay: - Phân tích một cách có căn cứ khoa học về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm sát viên được quy đị nh trong Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan cũng như thực tế áp dụng pháp luật hiện nay; những bất cập trong các quy đị nh này, gây nên những trở ngại cho Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự; - Những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian tới theo tinh thần cải cách tư pháp. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Quy đị nh của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự và những yêu cầu đặt ra trong cải cách tư pháp. Chương 2: Tình hình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự. Chương 3: Những kiến nghị , giải pháp tăng cường quyền hạn cho Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự. Chương 1 QUY ĐỊ NH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG CẢI CÁCH TƯ PHÁP 1.1. QUY ĐỊ NH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1.1. Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự Trong khoa học pháp lý nói chung, vị trí, vai trò của một chủ thể quan hệ pháp luật (cơ quan, tổ chức, cá nhân) được hiểu là tổng hợp các quy đị nh của pháp luật làm cơ sở cho sự tồn tại, tổ chức, hoạt động cũng như thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chủ thể đó; làm căn cứ để phân biệt, tạo nên sự độc lập của chủ thể đó so với các chủ thể khác. Về nguyên tắc cũng như theo lôgích của vấn đề thì vị trí, vai trò của Kiểm sát viên phải thống nhất, không thể tách rời vị trí, vai trò của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân nói chung. Trong lĩ nh vực tố tụng hình sự cũng vậy, quá trình hoạt động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân không thể triển khai tác nghiệp tập thể mà phải thông qua những cá nhân đại diện thường xuyên. Những mà cá nhân này chính là những Kiểm sát viên được phân công thực hiện nhiệm vụ trong từng giai đoạn, từng công việc cụ thể thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát. Theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩ a Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung và theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thì Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất theo ngành dọc, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có vị trí độc lập về tổ chức và hoạt động trong của bộ máy nhà nước để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp nói chung. Trong tố tụng hình sự ở nước ta, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và của Kiểm sát viên nói riêng được ghi nhận, thể hiện trong các quy đị nh của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành. Trước hết, theo quy đị nh của Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Viện kiểm sát là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và Kiểm sát viên là một trong những người tiến hành tố tụng. Đồng thời theo quy đị nh tại Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự thì: Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết đị nh việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kị p thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy đị nh để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này. Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kị p thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội [30]. Như vậy, để Viện kiểm sát thực hiện được chức năng nhiệm vụ nêu trên, Kiểm sát viên chính là người đại diện cho Viện kiểm sát để thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự cụ thể mà Kiểm sát viên được phân công. Kiểm sát viên phải chị u trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng Viện kiểm sát về những hành vi và quyết đị nh của mình. Để hiểu rõ hơn vị trí, vai trò của Kiểm sát viên cần thiết phải thống nhất quan điểm về quyền công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc xác đị nh phạm vi quyền công tố và thực hành quyền công tố có ý nghĩ a lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Giải quyết được rõ ràng, rành mạch vấn đề trên giúp cho việc nhận thức đầy đủ, chính xác vị trí, vai trò của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự. Các tài liệu pháp lý ở nước ta hiện nay chỉ đề cập đến vấn đề quyền công tố và cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Khái niệm thực hành quyền công tố cũng như nội dung, phạm vi, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố với thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp còn ít được đề cập. Một số chuyên đề gần đây ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao và một số Viện kiểm sát nhân dân đị a phương khi đề cập đến hoạt động thực hành quyền công tố cũng mới chỉ đưa ra được một số biện pháp pháp lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hình sự như: kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát thi hành án. Những vấn đề liên quan đến quyền công tố, thực hành quyền công tố, chúng tôi đồng ý với những quan điểm đưa ra của TS. Lê Hữu Thể và TS. Trần Văn Độ. Theo tác giả Lê Hữu Thể: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát). Để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác đị nh tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết đị nh truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [32]. Và theo TS. Trần Văn Độ khi đưa ra quan điểm về thực hành quyền công tố của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân thì cho rằng: "Thực hành quyền công tố là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy đị nh của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó" [12]. Theo Điều 137 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi thì kiểm sát các hoạt động tư pháp là một chức năng của Viện kiểm sát. Chức năng này là một dạng giám sát nhà nước về tư pháp. Đây là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước. Khác với hoạt động giám sát khác của Nhà nước, kiểm sát các hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp và đương nhiên, giám sát các hoạt động tư pháp hình sự là một phần công việc thực hiện chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát. Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, mục đích của kiểm sát là nhằm bảo đảm cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉ nh và thống nhất ở các quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Trong các giai đoạn tố tụng đã nêu, Viện kiểm sát áp dụng những biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy đị nh để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan tư pháp hoặc cán bộ tư pháp nào. Đối tượng của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp ở các giai đoạn tố tụng từ điều tra đến xét xử là hành vi xử sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, của cơ quan Tòa án cùng cấp với Hội đồng xét xử tương ứng với nó, của những cá nhân tiến hành tố tụng như Điều tra viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân nhân, Thư ký Tòa án, của những cá nhân và tổ chức khác khi tham gia tố tụng hình sự. Cụ thể hơn, đối tượng kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự của Viện kiểm sát chủ yếu tập trung vào hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao thẩm quyền thực hiện một số hoạt động tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự. Theo các quy chế hiện hành do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành về công tác kiểm sát điều tra, xét xử đang được áp dụng cho toàn ngành kiểm sát, cũng như theo kết quả các công trình nghiên cứu về khoa học công tác kiểm sát thì phạm vi của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự bắt đầu từ khi vụ án hình sự được khởi tố (một số trường hợp có thể được tiến hành trước khi khởi tố như việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ v.v) và kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp (2004), Báo cáo sơ kết hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị , Hà Nội. 2. Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 3. Dương Thanh Biểu (2007), Tuyển tập các quyết đị nh kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 4. Lê Cảm - Nguyễn Ngọc Chí (2004), Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. 5. Lê Cảm (2007), "Các mô hình lý luận về tổ chức hệ thống Viện công tố trong chiến lược cải cách tư pháp", Kiểm sát, (14). 6. Cục Cảnh sát điều tra Bộ Công an (2003), Một số vấn đề cơ bản trong chỉ đạo và tổ chức điều tra vụ án hình sự, Hà Nội. 7. Ngô Huy Cương (2006), Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 8. Nguyễn Đăng Dung (2004), "Một số vấn đề về cải cách tư pháp ở Việt Nam", Trong sách: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội. 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội. 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội. 12. Trần Văn Độ (1999), "Một số vấn đề về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Hà Nội. 13. Đỗ Văn Đương (2007), "Tiếp tục sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp", Kiểm sát, (1). 14. Đỗ Văn Đương (2008), "Cần phân đị nh rõ thẩm quyền hành chính với trách nhiệm và quyền hạn tố tụng trong tố tụng hình sự", Kiểm sát, (18-20). 15. Phạm Hồng Hải (2007), "Bảo đảm tính độc lập của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự", Kiểm sát, (18). 16. Phạm Hồng Hải (2008), "Vai trò trách nhiệm của Kiểm sát viên trong quá trình thực hành quyền công tố nhà nước nhìn dưới góc độ Luật sư", Kiểm sát, (3). 17. Võ Trí Hảo (2004), "Vai trò giải thích pháp luật của Tòa án", Trong sách: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền; Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. 18. Dương Xuân Kính (2005), "Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ", Kiểm sát, (8). 19. Trương Đắc Linh (2008), "Một số ý kiến đổi mới tổ chức Viện kiểm sát trong chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay", Kiểm sát, (14). 20. Hoàng Nghĩ a Mai (2006), "Một vài suy nghĩ về công tác đào tạo Kiểm sát viên trong lĩ nh vực thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự", Kiểm sát, (15). 21. Hoàng Nghĩ a Mai (2008), "Nâng cao trách nhiệm của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội", Kiểm sát, (3); 22. Nguyễn Đức Mai (2007), "Bàn về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự", Kiểm sát, (17). 23. Mai Thị Nam (2008), "Một số giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự", Kiểm sát, (13). 24. Mai Thị Nam (2008), "Bàn về trách nhiệm của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa hình sự", Kiểm sát, (19). 25. Khuất Văn Nga (2006), "Kết quả thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp", Kiểm sát, (5). 26. Trần Văn Nho (2003) "Một số thủ đoạn lôi kéo, mua chuộc bắt rễ vào đội ngũ cán bộ có chức có quyền trong vụ án Trương Văn Cam và đồng bọn", Công an nhân dân, (5). 27. Nguyễn Thái Phúc (2008), "Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn", Kiểm sát

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfv_l0_02206_8424_2010083.pdf
Tài liệu liên quan