Luận văn Tội ác diệt chủng của khmer đỏ ở Campuchia và vai trò của Việt Nam trong việc tiêu diệt chế độ diệt chủng

MỞ ĐẦU. 1

CHưƠNG 1. QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ TỘI ÁC CỦA CHẾ ĐỘ KHMER

ĐỎ . 10

1.1. Khái quát về Khmer Đỏ. 10

1.2. Các nhân tố tác động tới sự hình thành tội ác của Khmer Đỏ. 12

1.2.1. Nhân tố bên trong đất nước Campuchia . 12

1.2.2. Nhân tố bên ngoài . 19

1.3. Tội ác của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ . 25

1.3.1. Tội ác diệt chủng. 25

1.3.2. Tội ác xâm lược. 41

CHưƠNG 2. QUÁ TRÌNH TIÊU DIỆT CHẾ ĐỘ KHMER ĐỎ VÀ VAI

TRÕ CỦA VIỆT NAM. 46

2.1. Khái quát quá trình tiêu diệt Khmer Đỏ . 46

2.1.1. Lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ . 46

2.1.2. Tiêu diệt hoàn toàn chế độ diệt chủng Khmer Đỏ . 47

2.2. Vai trò của Việt Nam. 49

2.2.1. Giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ Campuchia dân chủ . 49

2.2.2. Giúp hồi sinh đất nước Campuchia, xây dựng nhà nước CHND

Campuchia. 57

2.2.3. Truy quét tàn quân Khmer Đỏ trên chiến trường. 62

2.2.4. Ngặn chặn Khmer Đỏ quay trở lại trên chính trường . 70

2.3. Kết quả đạt được. 79

CHưƠNG 3. BÀI HỌC RÖT RA CHO VIỆT NAM TRONG CÔNG TÁC

ĐỐI NGOẠI. 84

3.1. Phản ứng của cộng đồng quốc tế khi Việt Nam đưa quân vào

Campuchia . 84

pdf52 trang | Chia sẻ: anan10 | Ngày: 03/11/2020 | Lượt xem: 69 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Tội ác diệt chủng của khmer đỏ ở Campuchia và vai trò của Việt Nam trong việc tiêu diệt chế độ diệt chủng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
quyền lực ở Campuchia: Ngày 18/3/1970, Lon Nol đảo chính lật đổ Norodom Sihanouk, sau đó thành lập chính thể Cộng hòa Khmer mà thực tế là biến Campuchia thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Cuộc đảo chính này đã gây ra cho nhân dân Campuchia một số khó khăn, đồng thời tạo ra một cục diện mới cho cách mạng Campuchia. Tƣơng quan giữa lực lƣợng cách mạng và phản cách mạng đã có sự thay đổi. Theo Philip Short, tác giả cuốn “Pol Pot: Anatomy of a Nightmare” xuất bản năm 2005 tại New York, quyết định tàn sát của Pol Pot sau năm 1975 một phần là phản ứng các đợt giết chóc dã man của quân Lon Nol. Chính quyền của Lon Nol đã giết hại không chỉ những ngƣời chống đối ông ta, theo Norodom Sihanouk mà đồng thời mở những cuộc tàn sát ngƣời Việt Nam, đuổi Việt kiều ra khỏi đất nƣớc Campuchia. Chính cuộc đảo chính của Lon Non đã khiến mối quan hệ giữa Pol Pot và Norodom Sihanouk trở nên gần gũi hơn. Bởi vì lúc này, khác với giai đoạn trƣớc đó, cả Khmer Đỏ và Norodom Sihanouk đều có mục tiêu chung là lật đổ Lon Nol. Norodom Sihanouk muốn lấy lại địa vị lãnh đạo của mình và tiêu diệt Lon Nol, kẻ phản bội ông ta. Để làm đƣợc điều đó, Norodom Sihanouk cần đến sự giúp đỡ của Khmer Đỏ, nhóm cộng sản mà ông vẫn coi là kẻ thù. Tuy nhiên, lúc này, Norodom Sihanouk không có gì trong tay, không có quân đội, chính vì vậy, ông phải nhờ cậy sự giúp đỡ của cả Việt Nam và Trung Quốc. Đặc biệt, dƣới sự kết nối của Trung Quốc, Norodom Sihanouk phải “xuống nƣớc” để phối hợp với Pol Pot thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia vào ngày 23/3/1970. 16 Tháng 4 năm 1975, sau 5 năm chiến đấu, lực lƣợng của Pol Pot lên nắm quyền ở Thủ đô Phnom Penh. Norodom Sihanouk với tƣ cách là lãnh tụ của Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia đã trở thành nguyên thủ danh nghĩa của Campuchia Dân chủ, nhƣng địa vị của ông ta là một địa vị danh dự, không có thực quyền. Chính vì vậy, ông đã từ chức vào ngày 4 tháng 4 năm 1976. Việc Khmer Đỏ lên cầm quyền là do kết quả của sự tan rã xã hội và sự sụp đổ chính trị xảy ra khi Norodom Sihanouk bị lật đổ và đất nƣớc đột ngột bị chìm vào cơn lốc của cuộc chiến tranh Đông Dƣơng, chứ không phải do một phong trào vững chắc của sự phản đối xã hội và sự thay đổi chính trị. Phong trào đó đã phát triển một cách bùng nổ từ năm 1970, nhƣng không đƣợc thống nhất và sự ủng hộ của quần chúng không vững chắc. Tại Campuchia, một chính phủ hoàn toàn Khmer Đỏ đã đƣợc thành lập với Khieu Samphan làm Quốc trƣởng thay Norodom Sihanouk và Pol Pot trở thành Thủ tƣớng, Ieng Sary vẫn là ngoại trƣởng. Tháng 1 năm 1976, Pol Pot cho ban hành Hiến pháp mới, thành lập chế độ Campuchia Dân chủ (Democratic Kampuchea). 1.2.1.2. Yếu tố cá nhân Pol Pot Cá nhân Pol Pot có vai trò đặc biệt trong việc hình thành tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ. Pol Pot, tên thật là Saloth Sar, sinh ngày 25/5/1928, là con một phú nông lớp trên ở huyện Kompong Xvay, tỉnh Kompong Thom. Ngay từ nhỏ Pol Pot đã lên Phnom Penh sống với anh trai và chị dâu là vũ nữ trong hoàng cung Campuchia. Pol Pot đã từng đi tu ở chùa Thamayut, học trong trƣờng cố đạo Mise và trƣờng trung học Kongpong Cham. Năm 1948, Pol Pot học ở trƣờng kỹ nghệ Russay Keo và năm 1949 đƣợc chọn là một trong 100 học sinh Khmer đi Pháp học (trƣờng vô tuyến điện Paris) và trở thành đảng viên Đảng Xã hội Pháp. 17 Năm 1953, Pol Pot về nƣớc, tham gia Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia. Thời kỳ này đảng KPRP còn rất non trẻ, thiếu đƣờng lối và phƣơng pháp cách mạng thích hợp nên đã tạo cho Pol Pot cơ hội từng bƣớc nắm quyền lãnh đạo. Tại Đại hội lần thứ hai của KPRP ngày 28/9/1960, Pol Pot đƣợc bầu vào Ban chấp hành Trung ƣơng, rồi “leo” lên vị trí thứ ba của KPRP, sau đó đã giành đƣợc quyền kiểm soát và đổi tên KPRP thành Đảng Công nhân Khmer (WKP) và ngày này đƣợc Pol Pot coi là ngày thành lập đảng này vì đánh dấu sự “thoát khỏi ảnh hƣởng” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghiên cứu về quá trình Pol Pot thâu tóm quyền lực, có thể rút ra một số yếu tố đã đẩy Pol Pot vào con đƣờng chống Việt Nam và đƣa Campuchia tới thảm họa diệt chủng. Ngay từ rất sớm Pol Pot đã bị ảnh hƣởng sâu sắc bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Không riêng gì Pol Pot, chính chủ nghĩa dân tộc đã đƣa nhiều thanh niên ngƣời Khmer nhƣ Pol Pot đến với cách mạng Campuchia, đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp nhằm giành độc lập cho Campuchia những năm 1940. Phong trào đấu tranh cho độc lập dân tộc trong thế kỷ 20 đã trở thành một động lực chính chi phối tƣ tƣởng cũng nhƣ chính sách của Pol Pot cho đến cuối cuộc đời. Tuy nhiên, Pol Pot đã bị ảnh hƣởng bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở hai khía cạnh. Một là, Pol Pot rất tự cao tự đại về tinh thần sức mạnh dân tộc và sức mạnh của đế chế Angkor, muốn phục dựng lại đế chế Angkor cổ truyền. Hai là, do sinh ra ở một đất nƣớc vốn có một lịch sử rất huy hoàng nhƣng hiện tại luôn bị chia rẽ và phải đối mặt với một số nƣớc láng giềng hùng mạnh hơn nên Pol Pot luôn có hiềm khích và tìm mọi cách xuyên tạc về quan hệ Việt Nam - Campuchia, cho rằng “ở đâu có cây thốt nốt là thuộc về đất của Campuchia” và Pol Pot chủ trƣơng dùng vũ lực để lấy lại [7, tr.32, 35, 36 - 48]. 18 Kể từ năm 1963, khi trở thành lãnh đạo cao nhất của đảng, Pol Pot đã bắt đầu triển khai các ý đồ thâu tóm quyền lực của mình, tìm cách gạt những ngƣời cộng sản chân chính, những ngƣời Campuchia yêu nƣớc, xuất thân từ trong nƣớc ra khỏi lực lƣợng cách mạng và xây dựng vây cánh riêng. Theo một hồ sơ để lại, bè phái của Pol Pot thủ tiêu bốn ủy viên thƣờng vụ trung ƣơng; 79 bí thƣ và ủy viên đảng ủy miền; 67 bí thƣ và ủy viên đảng ủy vùng; 88 bí thƣ và ủy viên các ban, ngành, bộ cùng hàng chục vạn cán bộ, đảng viên ở cơ sở [20, tr.65]. Trong một báo cáo của Khmer Đỏ (đƣợc thu giữ sau này) có ghi: “Chúng ta đã giành đƣợc thắng lợi lớn đó, nhờ bởi chúng ta quyết định lựa chọn và truy quét thanh trừng sạch sẽ kẻ thù theo hệ thống, đào tận gốc rễ to lớn của chúng từ cơ sở”. Càng về sau, những cuộc thanh trừng nội bộ của Pol Pot càng gay gắt đẫm máu hơn, quy mô rộng lớn hơn. Trong một danh sách ghi tên 242 cán bộ cao cấp bị giết hại từ năm 1976 đến ngày 9/4/1978, có 24 bí thƣ và ủy viên vùng, 4 bộ trƣởng, 5 thứ trƣởng, 9 ủy viên các bộ, 8 chính ủy và phó chính ủy sƣ đoàn và một số đại sứ đƣợc gọi về nƣớc. Bản thân Pol Pot đã đóng một vai trò lớn trong các sự kiện này. Với tƣ cách là Tổng Bí thƣ, Pol Pot đã đi khắp đất nƣớc, đích thân điều tra lòng trung thành và khả năng của nhiều cán bộ địa phƣơng và ra lệnh thanh lọc. Những việc này đã đƣợc những trợ lý đắc lực nhƣ Son Sen và Nuon Chea thực hiện. Họ thành lập các “trƣờng huấn luyện” dƣới sự bảo trợ của Ban chấp hành trung ƣơng Đảng Cộng sản Campuchia, bí mật dùng các trƣờng này huấn luyện các đội thanh lọc. Ngày 2/3/1976, Khmer Đỏ đã bắt nhân dân Campuchia đi bỏ phiếu bầu ra Quốc hội do Nuon Chea làm chủ tịch với 250 đại biểu công nhân, 50 đại biểu quân đội. Nhƣng thực ra Quốc hội đó không có thực quyền. Vào tháng 4 năm 1976 sau khi triệu tập trong ba ngày để “thông qua” danh sách thành viên 19 chính phủ thì quốc hội thực tế đã bị giải thể. Còn cái gọi là chính phủ Campuchia Dân chủ thành lập ngày 14/4/1976 cũng chỉ là hình thức. Mọi quyền hành thực sự tập trung vào tay hai cặp vợ chồng Pol Pot - Khieu Ponnary và Ieng Sary- Khieu Thirit [16, tr.331]. Pol Pot ở cƣơng vị Bí thƣ “Angka” (tổ chức đảng) và Thủ tƣớng chính phủ có trách nhiệm cao nhất lãnh đạo toàn bộ guồng máy quốc gia, đề ra các chủ trƣơng và đƣờng lối đối nội, đối ngoại và chỉ đạo bộ máy thực hiện. 1.2.2. Nhân tố bên ngoài 1.2.2.1. Tác động của hiệp định Genève Do áp lực của các nƣớc lớn nhƣ Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc và Liên Xô, Việt Nam phải chấp nhận ký hiệp định Genève năm 1954 với một số điều khoản bất lợi cho cách mạng Campuchia nhƣ vùng giải phóng nông thôn rộng lớn trƣớc kia do lực lƣợng cách mạng Campuchia kiểm soát phải bàn giao lại cho chính quyền Norodom Sihanouk. Không những thế, lực lƣợng này thậm chí còn phải giải giáp tại chỗ, không có khu vực tập kết nhƣ quân đội Việt Nam và Pathet Lào. Sau đó, quá trình thực hiện Hiệp định Genève đã dẫn tới những thay đổi to lớn về so sánh lực lƣợng ở Campuchia. Chính sách đàn áp và khủng bố đối với các lãnh đạo và phong trào Khmer Issarak của Norodom Sihanouk là nguyên nhân quan trọng làm cho lực lƣợng cách mạng Campuchia bị tổn hại nghiêm trọng và không giữ đƣợc thành quả đạt đƣợc trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Sự tan rã của phong trào cách mạng ở Campuchia sau 1954 đã tạo ra khoảng trống quyền lực, tạo cơ hội cho nhóm sinh viên từ Pháp về nƣớc vƣơn lên kiểm soát quyền lực, dần làm biến chất phong trào cách mạng Campuchia. Từ năm 1954 đến năm 1960, phong trào cách mạng của Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia đã hai lần bị chính quyền Norodom Sihanouk khủng 20 bố (1955 và 1958), hàng trăm đảng viên bị giết hoặc bị tù đày. Lợi dụng thời kỳ Đảng gặp khó khăn, nhóm của Pol Pot đã “chui” vào Đảng, dùng mọi thủ đoạn để gây ảnh hƣởng riêng, chia rẽ nội bộ. Cũng từ Hội nghị Genève, Khmer Đỏ cho rằng Việt Nam “bán rẻ” Campuchia. Bản thân Pol Pot và một số lãnh đạo Khmer Đỏ khác là những ngƣời trực tiếp chứng kiến quá trình triển khai Hiệp định Genève và tận mắt chứng kiến các lực lƣợng cách mạng Campuchia bị giải giáp tại chỗ, bị lực lƣợng của Norodom Sihanouk đàn áp khốc liệt. Pol Pot cũng nhƣ nhiều đảng viên KPRP đã phải chịu nhiều gian khổ và khó khăn to lớn trong giai đoạn sau 1954. Chính điều này đã tác động lên tƣ duy, hành động của Pol Pot và thái độ của Pol Pot đối với Việt Nam. Do những hạn chế về nhận thức và không tiếp cận đƣợc đầy đủ thông tin, Pol Pot và không ít ngƣời Khmer Đỏ theo chủ nghĩa dân tộc đã đổ lỗi cho Việt Nam về vấn đề này. Chính yếu tố này đã dẫn Pol Pot tới việc sử dụng vấn đề Hội nghị Genève năm 1954 để tuyên truyền chống Việt Nam và qua đó lên nắm quyền lãnh đạo KPRP. 1.2.2.2. Nhân tố Trung Quốc Chuyến thăm Trung Quốc của Pol Pot vào năm 1965 Tháng 9/1965, Pol Pot bí mật sang thăm Trung Quốc. Trong thời điểm đó, Norodom Sihanouk cũng đi thăm Trung Quốc và quan hệ giữa hai nƣớc lên đỉnh cao. Tuy nhiên, Norodom Sihanouk không hề biết rằng Pol Pot cũng đang ở Bắc Kinh. Chuyến thăm Trung Quốc của Pol Pot đánh dấu bƣớc ngoặt trong quan hệ Campuchia - Trung Quốc, đồng thời đánh dấu việc Pol Pot chuyển hẳn sang đi theo tƣ tƣởng Mao Trạch Đông, ly khai với Việt Nam. Pol Pot thăm Trung Quốc trƣớc khi Cách mạng Văn hóa nổ ra và trở về Campuchia đầu năm 1966, năm đánh dấu bƣớc ngoặt đối với Đảng cộng sản Campuchia. Lấy cƣơng vị là Tổng bí thƣ, Pol Pot thay đổi hoàn toàn cƣơng lĩnh chính trị mà Trung ƣơng đảng đã thông qua trƣớc đó. Pol Pot đã củng cố 21 lập trƣờng độc lập, chủ quyền, tự cƣờng và thấy rõ “thực chất” của ngƣời Việt Nam. Khi trở về Campuchia, Pol Pot đã cho ra đời tờ báo bí mật Reasmei Krahom (Ánh sáng đỏ). Đáng chú ý là cái tên này cũng có nghĩa nhƣ tên một tờ báo Đặng Tiểu Bình đã xuất bản ở Pháp trong những năm 1920 (Xích quang). Pol Pot chỉ đạo truyền đạt 4 bài học về hiệp định Genève năm 1954 và khẳng định không để bất cứ nƣớc nào quyết định vận mệnh của mình. Đồng thời Pol Pot bí mật đổi tên Đảng Công nhân Khmer thành Đảng cộng sản Campuchia và ra Nghị quyết thực hiện đấu tranh vũ trang chống lại chính quyền Norodom Sihanouk. Điều đáng nói là chủ trƣơng của Pol Pot đi ngƣợc lại so với mục tiêu lớn nhất của cách mạng 3 nƣớc Đông Dƣơng là chiến đấu đánh đuổi đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc. Norodom Sihanouk và Pol Pot không phải những con bài duy nhất trong tay Chu Ân Lai. Cũng nhƣ tại các cuộc thƣơng lƣợng ở Genève năm 1954, mối quan tâm chính của lãnh đạo Trung Quốc là làm sao ngăn không để quân lực Mỹ sử dụng Campuchia hoặc ngăn không cho thiết lập tại đó những căn cứ có khả năng tiềm tàng đe dọa Trung Quốc. Lợi ích của Trung Quốc ở Campuchia nằm ở việc giữ nơi này làm một “khu vực ảnh hƣởng” hoặc một phần trong khái niệm một vùng Bancăng hóa. Cổ vũ và viện trợ cho Khmer Đỏ Sau chiến thắng năm 1975, Khmer Đỏ đã tổng kết 8 yếu tố thắng lợi, trong đó không tính tới sự giúp đỡ to lớn về nhiều mặt của Việt Nam (thực tế trong suốt quá trình kháng chiến lật đổ lực lƣợng Lon Nol, chính ngƣời Việt Nam là những ngƣời đầu tiên đã đƣợc kêu gọi sang Campuchia để đào tạo và xây dựng các đơn vị quân sự cho các cuộc kháng chiến; cũng là ngƣời Việt Nam đã nhiều lần tới cứu thoát cho lực lƣợng của Pol Pot và Norodom Sihanouk và Việt Nam là nƣớc đã vận chuyển dọc theo đƣờng mòn Hồ Chí 22 Minh vũ khí và các đồ tiếp tế thiết yếu để cho nhân dân Campuchia tiếp tục cuộc đấu tranh). Không những thế, Khmer Đỏ còn tiến hành hàng loạt các hoạt động xâm lấn biên giới với cả ba nƣớc láng giềng là Việt Nam, Lào và Thái Lan. Trong khi đó, quan hệ Campuchia - Trung Quốc ngày càng đƣợc thắt chặt. Ngày 19/4/1975, trong khi lính Khmer Đỏ đang tiến hành tản cƣ Phnom Penh, Ieng Sary đã công du đến Bắc Kinh và đàm phán với Trung Quốc về một thỏa thuận cung cấp 13.300 tấn vũ khí và sẽ vận chuyển chúng qua cảng Kampong Som, thay vì bằng đƣờng bộ qua Việt Nam [34. Tr.301]. Bốn ngày sau, ông ta trở lại Phnom Penh cùng một nhóm quan chức và chuyên viên kỹ thuật ngƣời Trung Quốc, đem theo các thiết bị liên lạc và những trang bị tối cần thiết cho việc thiết lập một chính phủ mới. Ngày 26/5/1975, Pol Pot bí mật đi thăm Trung Quốc nhằm tăng cƣờng mối quan hệ Campuchia - Trung Quốc. Trong năm 1976, quan hệ giữa hai nƣớc đƣợc đẩy mạnh với nhiều chuyến thăm cấp cao, đặc biệt là chuyến thăm Campuchia của Tổng bí thƣ Đảng cộng sản Trung Quốc Hoa Quốc Phong. Đáng chú ý, trong chuyến thăm Campuchia của Phó Tổng tham mƣu trƣởng Quân giải phóng Trung Quốc Vƣơng Thịnh Vinh, hai bên đã ký hiệp định hợp tác, trong đó Trung Quốc viện trợ quân sự cho Campuchia và tháng 3/1976, ký Hiệp định viện trợ không hoàn lại cho Campuchia trị giá 140 triệu nhân dân tệ và 20 triệu USD. Trƣớc đó, ngày 13/9/1975, Trung Quốc đã dành cho Campuchia 1 tỷ USD viện trợ kinh tế và quân sự không lấy lãi, kể cả một số khoản tặng ngay lập tức 20 triệu USD. Toàn bộ khoản này đƣợc tuyên bố công khai là viện trợ lớn nhất chƣa từng có của Trung Quốc cho bất kỳ một nƣớc nào. Đồng thời, Trung Quốc cũng giảm một cách đột ngột viện trợ cho Việt Nam, cùng với đó, gây ra 814 vụ vi phạm ở 102 điểm trên biên giới giữa hai nƣớc. 23 Quan hệ giữa Trung Quốc và Khmer Đỏ tiếp tục đƣợc củng cố sau tháng 4 năm 1975. Các máy bay Trung Quốc bay vào Campuchia ngay sau thắng lợi của Khmer Đỏ và trong một số tháng đã trở thành khâu liên lạc duy nhất của Campuchia với thế giới bên ngoài. Trung Quốc là nƣớc duy nhất mà chế độ mới ở Phnom Penh có quan hệ chặt chẽ. Không lâu sau đó, Bắc Kinh cung cấp viện trợ quân sự lớn, bảo đảm việc mở rộng quân đội Khmer Đỏ. Tháng 8 năm 1975, Khieu Samphan thăm Bắc Kinh và ký một hiệp định về hợp tác kinh tế, theo đó Trung Quốc viện trợ cho Campuchia 200 triệu USD Mỹ trong khoảng thời gian từ 5 đến 6 năm. Cùng dịp đó, Khieu Samphan cũng ký một thông cáo chung lên án “bá quyền” Xô Viết” [10, tr.208]. Trung Quốc còn cử 2 vạn cố vấn sang Campuchia. Trung Quốc giúp Khmer Đỏ xây dựng một đội quân lên tới 23 sƣ đoàn vào năm 1978, có đủ ba binh chủng hải, lục, không quân. Đội quân này đƣợc trang bị hoàn toàn bằng vũ khí và phƣơng tiện chiến tranh của Trung Quốc, vƣợt xa khả năng của nền kinh tế và nhu cầu phòng thủ của Campuchia [20, tr.56]. Bắc Kinh ra sức khuyến khích và ủng hộ chính sách điên cuồng của Khmer Đỏ nhằm nắm chắc Pol Pot làm tay sai. Trong thời gian từ năm 1975 đến 1978, trong khi Bắc Kinh giảm đáng kể viện trợ cho các nƣớc đang phát triển, chấm dứt hoàn toàn viện trợ cho Việt Nam và Lào thì họ lại tập trung tăng cƣờng viện trợ cho Khmer Đỏ, số lƣợng viện trợ cho Khmer Đỏ chiếm hơn ½ tổng số viện trở của Bắc Kinh cho nƣớc ngoài. Bắc Kinh muốn biến đất nƣớc Campuchia thành một căn cứ quân sự, một bàn đạp để phục vụ chủ trƣơng bành trƣớng đại dân tộc ở khu vực Đông Nam Á. Trung Quốc đã tăng cƣờng viện trợ quân sự, bố trí mạng lƣới dày đặc hàng vạn cố vấn để giám sát mọi hoạt động của Khmer Đỏ, khuyến khích Pol Pot thi hành chính sách diệt chủng đẫm máu với nhân dân Campuchia và 24 khiêu khích vũ trang với Thái Lan, Lào, đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lƣợc Việt Nam. Bắc Kinh muốn Pol Pot ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc. Tư tưởng Mao Trạch Đông và Cách mạng Văn hóa Ngay từ khi ở Pháp, tham gia hoạt động trong nhóm “sinh viên cộng sản Khmer”, Pol Pot và Ieng Sary đã tôn sùng Mao Trạch Đông và ca ngợi tƣ tƣởng Mao, đồng thời nuôi mộng “phục hồi lãnh thổ” Campuchia thời Angkor. Sau khi lên lãnh đạo Campuchia, Pol Pot càng tôn sùng tƣ tƣởng này. Nói về vấn đề này, Wilfred Burchett viết: “Khmer Đỏ bị ám ảnh bởi cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Quốc: để cho nông dân “cải huấn” trí thức; đặt nông dân (ít ra là về lý thuyết) lên bậc cao nhất của xã hội Trung Quốc; săn lùng và tàn sát cán bộ kỳ cựu của đảng và cả giai cấp tƣ sản dân tộc trƣớc đây đã từng đƣợc dễ dãi chấp nhận. Những ngƣời nhƣ Pol Pot và Xon Xen, từng theo các khóa nghiên cứu ở Bắc Kinh trong thời kỳ cao điểm của Cách mạng Văn hóa, nhận đƣợc một liều thuốc mạnh về tuyên truyền chống Việt Nam và đã truyền cho đồng bọn trong giới lãnh đạo” [25, tr.81]. Trung Quốc từng chống lƣng cho Hoàng thân Norodom Sihanouk chống lại quân nổi dậy Khmer Đỏ suốt những năm 1960, không nhiệt tình ủng hộ quân nổi dậy Campuchia (tức Khmer Đỏ) sau khi Lon Nol tiếm quyền vào năm 1970, và từng nỗ lực xích lại gần Hoa Kỳ vào giai đoạn 1971-1972. Tuy nhiên, Khmer Đỏ lại chọn cởi mở với Bắc Kinh, vì lý do chủ nghĩa Mao gần với thiên hƣớng tƣ tƣởng của họ hơn cả, bên cạnh đó còn bởi họ vẫn chƣa sẵn sàng để có thể tự đi trên đôi chân của mình. Giống nhƣ phƣơng châm của Mao Trạch Đông (nói tại Hội nghị lần thứ 11 của BCH Trung ƣơng Đảng cộng sản Trung Quốc, tháng 8/1958) “nếu một nửa loài ngƣời có bị giết trong chiến tranh thì cũng không có nghĩa lý gì”, Pol Pot tuyên bố: Dù có phải hao tổn một triệu ngƣời, Đảng cũng không tiếc, 25 Đảng cần phải mạnh. Nếu chỉ còn lại 2 triệu ngƣời Campuchia thì vẫn có thể xây dựng lại đất nƣớc. Trên thực tế, “Công xã” - trại tập trung khổng lồ - lò sát sinh nhân dân Campuchia là phỏng theo mô hình “công xã” Trung Quốc, việc kích động và sử dụng thanh niên theo lệnh Pol Pot - Ieng Sary chém giết không ghê tay các tầng lớp nhân dân, kể cả ngƣời thân của họ là sự sao chép nguyên văn bài học “Đại cách mạng Văn hóa” của Trung Quốc. Chủ trƣơng của Pol Pot và Ieng Sary chỉ dựa chủ yếu vào bần nông và trung nông lớp dƣới để tiến hành cách mạng, phủ định quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân cũng là sản phẩm của tƣ tƣởng Mao Trạch Đông. 1.3. Tội ác của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ 1.3.1. Tội ác diệt chủng 1.3.1.1. Khái niệm “tội ác diệt chủng” “Diệt chủng” trong tiếng Anh là “genocide” do Raphael Lemkin, một luật gia ngƣời Pháp sống tại Mỹ sáng tạo ra vào năm 1944. Từ “genocide” đƣợc ghép từ từ “genos” trong tiếng Hy Lạp nghĩa là chủng tộc hoặc bộ lạc, và từ “caedere” trong tiếng Latin nghĩa là giết. Theo từ điển Cambrigde, diệt chủng là việc giết hại hoàn toàn một nhóm ngƣời, đặc biệt là cả một quốc gia, chủng tộc, nhóm tôn giáo. Còn từ điển Oxford định nghĩa “Genocide” là việc giết hại có chủ đích một nhóm đông ngƣời, đặc biệt là nhóm ngƣời thuộc về một quốc gia, dân tộc cụ thể nào đó. Theo Từ điển bách khoa toàn thƣ của Viện Từ điển và bách khoa toàn thƣ Việt Nam (Viện khoa học xã hội Việt Nam), diệt chủng là tội ác tiêu diệt các nhóm cƣ dân, chủng tộc, dân tộc, tôn giáo, thiết lập một chế độ thống trị độc tài của một nhóm ngƣời; hoặc áp dụng các biện pháp để tuyệt diệt sự sinh đẻ trong các cƣ dân nói trên. Diệt chủng là một trong những tội ác ghê tởm nhất chống nhân loại. 26 Có rất nhiều học giả cũng nhƣ tổ chức khác nhau đƣa ra các định nghĩa về “diệt chủng”. Tuy nhiên định nghĩa về “diệt chủng” đƣợc thừa nhận và sử dụng rộng rãi nhất chính là định nghĩa đƣợc nêu trong Công ƣớc của Liên hợp quốc về Trừng phạt và Ngăn ngừa Tội ác Diệt chủng năm 1948 (bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 12/1/1951). Điều 2 của Công ƣớc này định nghĩa “diệt chủng” là những hành động nhằm tiêu diệt toàn bộ hoặc một phần một nhóm ngƣời vì lý do quốc tịch, sắc tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo. Theo đó, Công ƣớc đã liệt kê năm hành động sau đƣợc coi là hành động diệt chủng: sát hại các thành viên của nhóm ngƣời đó; gây nên những tổn hại nghiêm trọng về thể xác và tinh thần đối với các thành viên của nhóm ngƣời đó; cố tình buộc nhóm ngƣời đó phải chịu những điều kiện sống đƣợc tính toán nhằm gây nên sự tiêu vong toàn bộ hoặc một phần nhóm ngƣời đó; áp đặt các biện pháp nhằm ngăn chặn việc sinh đẻ trong nhóm ngƣời đó; dùng vũ lực chuyển trẻ em trong nhóm ngƣời đó sang một nhóm khác [36, tr.87]. Điểm khác biệt đầu tiên giữa hành động diệt chủng và việc giết ngƣời trên quy mô lớn là phạm vi của hành động diệt chủng rộng lớn hơn. Diệt chủng không chỉ liên quan đến việc giết ngƣời mà còn bao gồm các hành động nhƣ thanh lọc sắc tộc, ép buộc triệt sản, hãm hiếp tập thể, tra tấn về thể xác và tinh thần, trục xuất, di dời chỗ ở Thứ hai, trong khi giết ngƣời trên quy mô lớn thƣờng nhằm tiêu diệt các cá nhân nạn nhân thì hành động diệt chủng chỉ xảy ra khi một chính phủ hay bất kỳ một nhóm có tổ chức nào hành động một cách có tính toán nhằm tiêu diệt hoàn toàn một nhóm ngƣời hoặc triệt tiêu khả năng tồn tại của nhóm ngƣời đó. Chính vì vậy, việc Mỹ thả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật dù gây ra cái chết của hàng trăm nghìn ngƣời cùng lúc nhƣng không bị coi là hành động diệt chủng. 1.3.1.2. Tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ 27 Tàn sát có hệ thống nhiều tầng lớp nhân dân với quy mô ngày càng khốc liệt. Ngay sau ngày giải phóng Phnom Penh (17/4/1975), một Hội nghị Trung ƣơng đặc biệt cho các Bộ trƣởng nội các và tất cả các Bí thƣ cấp khu và vùng đƣợc Khmer Đỏ tổ chức. Tại hội nghị này, Pol Pot nêu ra 8 điểm: Một là sơ tán dân chúng ra khỏi tất cả các thành phố; Hai là xóa bỏ tất cả chợ búa; Ba là xóa bỏ tiền tệ của chính quyền Lon Nol và giữ lại tiền tệ cách mạng đã in; Bốn là bắt sƣ sãi Phật giáo bỏ áo cà sa, đƣa họ đi lao động trồng lúa; Năm là xử lý tất cả cán bộ lãnh đạo của chế độ Lon Nol, bắt đầu từ lãnh đạo cao nhất; Sáu là thiết lập các hợp tác xã bậc cao trên cả nƣớc, với chế độ ăn uống tập thể công xã; Bảy là trục xuất toàn bộ Việt kiều; Tám là phái quân đội tới biên giới, đặc biệt tới biên giới Việt Nam. Trong nƣớc Campuchia, Khmer Đỏ chia nhân dân thành 3 loại. Loại A hay còn gọi là “dân cũ” gồm những ngƣời đã ủng hộ kháng chiến và đã có mặt trong vùng giải phóng vào ngày 17/4/1975 hoặc trong những khu vực đã đi theo Khmer Đỏ trƣớc khi chính quyền Lon Nol sụp đổ. Loại B hay còn gọi là “dân mới” gồm những ngƣời bị bắt trong những vùng chƣa đƣợc giải phóng, bị lƣu đày khỏi Phnom Penh. Loại C gồm bất kỳ ai đã từng phục vụ trong các lực lƣợng vũ trang hoặc các cơ quan chính quyền của chế độ Lon Nol và chế độ Norodom Sihanouk. Những ngƣời này bị săn lùng và trừ khử cùng toàn bộ bà con họ hàng mình. Trong xã hội Campuchia khi đó, mọi thứ đều đƣợc thực hiện nhân danh Angka (theo tiếng Campuchia, Angka là tổ chức). Sau ngày 17/4/1975 thuật ngữ Angka xuất hiện trong “Hiến pháp của Campuchia Dân chủ” [16, tr.332]. Angka là một bộ máy đàn áp và khủng bố khổng lồ nhƣ một thứ hỗn chất gồm Đảng, Chính phủ và Nhà nƣớc, không phải hiểu theo nghĩa thông thƣờng của những từ này mà đặc biệt nhấn mạnh vào đặc tính thần bí, khủng 28 khiếp và tàn nhẫn của nó. Theo một cách hiểu nào đó, nó là một quyền lực chính trị - siêu hình, vô danh, có mặt ở khắp mọi nơi, là thƣợng đế huyền bí, gieo rắc cái chết và sự khủng bố nhân danh chính nó. Vì mọi cán bộ Khmer Đỏ đều có thể đƣơng nhiên hành động nhân danh Angka nên đƣơng nhiên đƣợc miễn giải bất kỳ ý thức trách nhiệm cá nhân nào khi phạm tội giết chóc hoặc tra tấn nhân danh Angka [25, tr.116]. Khmer Đỏ đã tiêu diệt không phân biệt hầu nhƣ toàn bộ những sĩ quan, binh lính của chế độ cũ, đã giết hại tầng lớp trí thức, tàn sát những ngƣời, những tổ chức bị quy là chống đối, bất kể là hàng binh hay tù binh, có nhiều hay ít tội ác, tán thành hay không tán thành chế độ Khmer Đỏ. Ngay từ khi mới giải phóng, binh lính của Pol Pot đã dùng nhiều thủ đoạn bịp bợm nhƣ gọi đi tập trung học tập, rồi xả súng bắn chết hàng loạt, hoặc cho lính dẫn đến các khu rừng, bao vây, trói lại rồi dung gậy tre đập chết hàng loạt. Khmer Đỏ cho rằng, sinh viên, trí thức, các giáo chức, các nhà khoa học, kỹ thuật đã bị tiêm nhiễm sâu sắc chế độ cũ, là phản động, không thể dung thứ đƣợc, do đó họ chủ trƣơng thanh lọc đối tƣợng này để “làm t

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf02050004747_1_3876_2002832.pdf
Tài liệu liên quan