Quan hệ ngoại giao Việt - Mỹ từ 1991 đến nay

Đối với Việt Nam giai đoạn cuối sẽ đến khi :

- Cuộc bầu cử dân chủ tự do, được LHQ kiểm chứng, đã được tổ chức ở CPC.

- Quốc hội mới của CPC được thành lập và được triệu tập họp để viết hiến pháp mới.

- Việc giải ngũ toàn bộ các lực lượng quân sự CPC- như bốn bên CPC thoả thuận trong Hiệp định Paris- đã được thực hiện triệt để.

- Mỹ và Việt Nam nhất trí rằng những lời hứa về POW/MIA 24 tháng đã đạt được những kết quả to lớn và vẫn được tiếp tục thực hiện nếu cần thiết.

 

doc52 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 14/09/2015 | Lượt xem: 2608 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Quan hệ ngoại giao Việt - Mỹ từ 1991 đến nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đối với việc mở rộng và củng cố địa vị chủ chốt của chủ nghĩa đế quốc ở Đông Nam á. Đông Dương trong chiến lược toàn cầu của Mỹ được coi như “ một bậc đá lót đường” dẫn đến phần còn lại ở Đông Nam á nên Mỹ luôn e sợ rằng nếu mất Việt Nam và Đông Nam á thì chính sách của Mỹ ở những nơi khác trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Sau khi Pháp thua, Mỹ đã thế chân Pháp can thiệp trực tiếp vào Việt Nam. Việc Mỹ ép Pháp phải nhận Ngô Đình Diệm lên thay Bửu Lộc làm Thủ tướng Chính Phủ nguỵ đã chứng tỏ rõ ràng ý đồ của Mỹ muốn hất cẳng Pháp để nắm miền Nam Việt Nam. Ngày 23-10-1954, khi Eisenhour gửi bức thư cho Ngô Đình Diệm cam kết ủng hộ hoàn toàn sự viện trợ của Hoa Kỳ đối với chế độ của ông ta. Điều đó có ý nghĩa rõ ràng rằng Hoa Kỳ chính thức và công khai cam kết chống lại Việt Nam dân chủ cộng hoà với miền Nam Việt Nam. Cuộc chiến đấu của Đảng và nhân dân ta chống cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam (mà Tổng thống Jonhson đã tiến hành để cứu vãn sự thất bại ở miền Nam),đã khởi đầu trong sự so sánh lực lượng bất lợi cho ta. Thấm nhuần lời dạy của Chủ Tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhân dân cả hai miền đều kiên quyết đứng lên chống Mỹ xâm lược. Năm 1967 ta mở mặt trận ngoại giao phối hợp với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị cùng đánh Mỹ. Ta tăng cường đoàn kết với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, phát triển và củng cố mặt trận nhân dân Đông Dương, mở rộng mặt trận nhân dân thế giới , đoàn kết với phong trào phản chiến ở Mỹ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Tuy nhiên, song song với việc động viên nhân dân ta kiên quyết chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ Quốc, Nhà nước Việt Nam luôn luôn phân biệt rõ bạn - thù, phân biệt rõ nhân dân Mỹ với những nhà cầm quyền của nước Mỹ theo đuổi chính sách chiến tranh. Mục đích của nhân dân Việt Nam là giành độc lập tự do, cũng là để có điều kiện xây dựng đất nước đem lại hạnh phúc cho dân tộc và chung sống hoà bình với cộng đồng thế giới trên cơ sở bình đẳng, hữu nghị. Do vậy, Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẵn sàng đàm phán để giải quyết vấn đề Việt Nam với điều kiện tiên quyết là quân Mỹ rút ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam. Với mục đích đó, ta chủ trương buộc địch xuống thang từng bước, giành thắng lợi từng phần. Sau thắng lợi Tết Mậu Thân(1968), Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán, mở cho ta cục diện vừa đánh vừa đàm, kết hợp một cách tài tình và khéo léo quân sự và ngoai giao, tạo điều kiện thuận lợi cho những thắng lợi sau này. Trong Hội nghị công khai cũng như thương lượng bí mật ở Paris, ta kiên trì đấu tranh bốn năm liền, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris năm 1973, chịu rút quân Mỹ và Đồng minh ra khỏi miền Nam trong lúc quân miền Bắc vẫn ở lại miền Nam, tạo ra tình thế miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, ba lực lượng chính trị. Theo Hiệp định Paris 1973 thì “ Hiệp định này sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cũng có lợi giữa Việt Nam dân chủ cộng hoà và Hoa Kỳ, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau”. (9) Hiệp định Paris, 1973, Chương VIII, điều 22 29-4-1975: Sứ quán Mỹ rút hết số nhân viên cuối cùng và đóng cửa. 30-4-1975: Ta giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước, mở ra một chương mới trong lịch sử 4000 năm của dân tộc Việt Nam. Cũng trong ngày đó, Chính quyền Mỹ(Ford) quyết định lệnh cấm vận toàn Việt Nam. Việt Nam và Mỹ cắt đứt quan hệ ngoại giao. c . Quan hệ Việt - Mỹ sau chiến tranh Việt Nam Ngày 2-7-1976, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức ra đời đánh dấu bước phát triển rực rỡ của nước Việt Nam. Trong thời kỳ 1976-1978, hai Chính phủ đã bắt đầu đàm phán để thiết lập quan hệ ngoại giao. Phía Việt Nam đã bày tỏ quan điểm của mình: Mỹ phải thực hiện đúng Hiệp định Paris 1973, theo đó Mỹ đã cam kết viện trợ tái thiết cho Việt Nam sau chiến tranh. NhưngTổng thống G.Ford đã bác bỏ yêu cầu này và đặt ra hai điều kiện tiên quyết cho việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao. Hai điều kiện đó là: kiểm kê đầy đủ những người Mỹ bị coi là mất tích trong chiến tranh mà họ gọi là MIA(mising in action) và giải trình “những hành động gây căng thẳng liên tiếp của Việt Nam” ở Đông Nam á. Trong thời gian này, giữa Việt Nam và Campuchia có mâu thuẫn về lãnh thổ do lực lượng vũ trang Campuchia gây ra nhiều hoạt động nghiêm trọng như lấn sâu vào lãnh thổ Việt Nam, bắt và đem đi hơn 100 người Việt...gây cho ta những thiệt hại nghiêm trọng. Trong hai năm 1975 và 1976, Mỹ đã ba lần phủ quyết việc Việt Nam gia nhập Liên hiệp Quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng phát triển Châu á, đi ngược lại ý kiến của 14 thành viên khác của Hội đồng bảo an. Việc làm này của Mỹ chứng tỏ rõ ràng việc Mỹ tiếp tục thi hành chính sách thù địch, lỗi thời với nhân dân ta và làm cho quan hệ quốc tế có phần bị ảnh hưởng. Mỹ đã làm ngơ trước thiện chí mà Chính phủ ta đã nhiều lần bày tỏ để tạo điều kiện thuận tiện cho cả hai bên có thể gặp nhau, nhằm giải quyết vấn đề còn lại giữa hai bên. Thực tế là Chính phủ ta đã nhiều lần trao trả cho Mỹ những lính Mỹ bị chết, cũng như cung cấp tin tức về những người đã chết...Những việc làm trên thể hiện rõ lập trường và thiện chí đúng đắn của ta. Đầu năm 1977, Jimmy Carter lên làm Tổng thống, ông đã nhận thấy rõ lợi ích của việc cải thiện quan hệ nhằm phát triển thương mại và thúc đẩy sự bền vững trong khu vực. Ông cũng coi thường hoá quan hệ với Việt Nam là một “biểu tượng” nhằm chấm dứt sự chia rẽ bên trong và phục hồi uy tín của Mỹ ở bên ngoài. Ngày 16-3-1977, Tổng thống J.Carter cử đoàn phái viên của Tổng thống sang Việt Nam, do ông L.Woodcook dẫn đầu để thăm dò khả năng bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Cũng trong tháng 3-1977, Tổng thống J.Carter cũng cho phép tàu thuỷ, máy bay nước khác chở hàng cho Việt Nam được ghé qua các sân bay của Mỹ để lấy nhiên liệu. Đây là một động thái rất đáng hoan nghênh của Tổng thống J.Carter nói riêng cũng như của Chính phủ Mỹ nói chung trong một cố gắng nhằm đạt được sự bình thường hoá với Việt Nam. Cuộc đàm phán lần hai vào tháng 5-1977 tại Paris giữa trợ lý ngoại trưởng Mỹ R.Holbrooke và Thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền cũng không đạt thoả thuận nào. Trong khi các cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn chưa có một chút chuyển biến gì thì tình hình quốc tế lại có nhiều thay đổi. Trung Quốc và Mỹ bắt đầu tăng cường hợp tác, mâu thuẫn giữa Trung Quốc với Liên Xô và Trung Quốc với Việt Nam ngày càng tăng. Liên Xô và Trung Quốc nảy sinh những bất đồng, công khai tranh luận về đường lối của phong trào Cộng sản quốc tế. Thêm vào đó là sự khác nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam về đường lối đối với phong trào Cộng sản và công nhân Quốc tế đã dẫn tới cuộc chiến tranh Trung- Việt vào tháng 7-1978. Trung Quốc cho rằng Việt Nam muốn làm tiểu bá thực hiện bá quyền khu vực để phối hợp với Liên Xô là đại bá để chống lại Trung Quốc. Do vậy, Trung Quốc quyết định cắt toàn bộ viện trợ kinh tế, kỹ thuật và rút chuyên gia về nước. Trong năm 1978, Mỹ và Trung Quốc bắt đầu có sự hợp tác để đi đến bình thường hoá quan hệ. Từ giữa năm 1978, Mỹ đã bàn với Trung Quốc để xây dựng mối quan hệ chiến lược lâu dài giữa hai nước trong đó có cả việc phối hợp để chống Liên Xô. Cuối năm 1978, Trung Quốc và Mỹ xúc tiến đàm phán để bình thường hoá quan hệ. Trước triển vọng một mối quan hệ sắp mở ra với Trung quốc, Tổng thống Mỹ J.Carter đã quyết định xếp lại kế hoạch đàm phán để bình thường hoá quan hệ với Việt Nam lại, chờ đợi thiết lập quan hệ với Trung Quốc. Vậy là cơ hội thiết lập quan hệ ngoại giao Việt -Mỹ tưởng như đã có thể nhìn được đích của nó thì một lần nữa lại tuột khỏi tầm tay và bị bỏ lỡ. Sau khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia năm 1979, quá trình đàm phán để bình thường quan hệ Việt - Mỹ bị ngừng trệ. Phía Mỹ cho rằng Việt Nam đã vi phạm luật quốc tế, đưa quân đội sang can thiệp ở nước ngoài, lập ra chính quyền Campuchia- Hiêngxamrin. Mỹ lấy lý do này để lôi kéo dư luận quốc tế ủng hộ những hành động chống phá Việt Nam dưới danh nghĩa bảo vệ sự ổn định an ninh thế giới. Vấn đề Campuchia đã kéo theo sự dính líu của nhiều nước và sự phân cực gay gắt trong nền chính trị khu vực. Từ đó, các cuộc tiếp xúc giữa Mỹ và Việt Nam bị ngừng lại đánh dấu thời kỳ băng giá trong quan hệ Việt Mỹ. Tháng 1-1981, Tổng thống Mỹ Regan tuyên thệ nhậm chức. Dưới sức ép từ cuộc vận động hành lang về vấn đề MIA, ông đã hứa coi việc tìm kiếm người mất tích là ưu tiên cao nhất trong nhiệm kỳ Tổng thống của ông. Nhưng trong nhiệm kỳ đầu của Regan, cả hai bên ít đạt được tiến bộ về vấn đề này bởi những lý do khách quan cũng như chủ quan của mình. Năm 1986, Việt Nam đổi mới thành công nên Mỹ bắt đầu thay đổi chính sách quan hệ với Việt Nam. Tháng 1 năm1987, hai Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hoà là Mark Harfreld và James Mc Caure đến Hà Nội. Tháng 5/1987, Ruhard Childress, chuyên gia về Châu á của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ được cử làm tiền trạm của tướng Vessay tới Hà Nội. Từ 3-8-1987, tướng Vessay, đặc phái viên của Tổng thống Reagan thăm Việt Nam. Đây là những dấu hiệu cho thấy quan hệ Việt-Mỹ đã có biểu hiện ấm dần lên. Sang năm 1988, tình hình lại có chiều hướng sáng sủa hơn. Ngày 20-1-1988, Tổng thống Regan tuyên bố: trong khung cảnh một giải pháp cho vấn đề Campuchia bao gồm việc Việt Nam rút hoàn toàn quân đội ra khỏi Campuchia, Mỹ sẵn sàng đi vào bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trên cơ sở tiến bộ trong vấn đề MIA, trẻ lai, trại cải tạo. Ngày 8-6-1988, diễn ra cuộc gặp gỡ giữa tướng Vessay và Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch tại New York, bàn về sự hợp tác sâu hơn về vấn đề quan hệ song phương và đặt nền tảng cho một vài thoả thuận. Cuộc gặp gỡ này đã được Reagan đánh giá là “sự phá vỡ có thể có”. Đầu năm 1989, Tướng Vessay đã đệ trình một danh mục chi tiết những lời khuyên cho tương lai của các mối quan hệ với Bộ ngoại giao Mỹ trong đó nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc theo đuổi các mối quan hệ ngoại giao bình thường với các nước Đông Dương. Vào thời gian này, Việt Nam cũng bắt đầu có các cuộc gặp song phương cũng như là đa phương nhằm tìm một giải pháp cho vấn đề Campuchia. Tháng 1-1989, Việt Nam bắt đầu rút các chuyên gia dân sự ra khỏi Campuchia, sau đó tiến tới rút hết quân ra khỏi Campuchia trong năm 1989. Ngày 16-9-1989, Việt Nam hoàn thành việc rút quân khỏi Campuchia, mở ra một thời kỳ mới với nhiều hi vọng cho quan hệ Việt- Mỹ. II. Những thay đổi trong quan hệ Việt Mỹ thông qua các hoạt động ngoại giao 1. Tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ . Tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt -Mỹ có thể được coi như đánh dấu bắt đầu từ nhiệm kỳ của Bush, người trúng cử và lên là Tổng thống thứ 41 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Nhận thấy rõ lợi ích của Mỹ ở Đông Nam á, cũng như lợi ích trong quan hệ Việt -Mỹ, ông và Chính phủ của mình đã quyết định thay đổi chính sách với Việt Nam. Trong bài diễn văn nhận chức của mình vào tháng 1 năm1989, Tổng thống Bush đã ám chỉ về vấn đề POW/MIA, hứa rằng viện trợ trong lĩnh vực này sẽ được nhớ đến lâu dài và kêu gọi người Mỹ xoá tình trạng chia rẽ về cuộc chiến tranh Việt Nam. Mỹ nhận thấy rằng quan hệ Việt -Mỹ như lúc này là bất bình thường, không đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước và cũng chưa theo kịp sự phát triển của tình hình thế giới. Trước một thực tế không thể phủ nhận, chính quyền Bush đã quyết định tìm kiếm quan hệ với Việt Nam và bắt đầu xúc tiến các cuộc tiếp xúc với Chính phủ Việt Nam. Ngày 6-8-1990, đối thoại một vòng Mỹ - Việt tại New York giữa Đại sứ Trịnh Xuân Lãng và phó trợ lý Bộ trưởng ngoại giao K.Quyn về quan hệ Việt -Mỹ. Điểm nổi bật của giai đoạn mới trong mối quan hệ Mỹ-Việt là hai Ngoại trưởng đã tới gặp nhau tại New York vào ngày 29-9-1990 (Nguyễn Cơ Thạch và James Baker). Đây là cuộc gặp gỡ đầu tiên của hai ngoại trưởng kể từ năm 1973. Ngoại trưởng Việt Nam sau đó gặp Tướng Vessay và hứa có sự hợp tác mới về vấn đề POW/MIA. Ngày 9-4-1991, lần đầu tiên Mỹ công khai đưa ra bản lộ trình 4 giai đoạn. Bản “lộ trình” cho việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam nhằm : -Tìm ra giải pháp ở Campuchia để khôi phục ổn định ở Đông Nam á. -Thúc đẩy Việt Nam tìm kiếm đầy đủ thông tin về POW/MIA. Mỹ tạo điều kiện thực hiện các thủ tục di cư có trật tự cho thân nhân Việt Nam của các công dân Mỹ hoặc người định cư ở Mỹ. -Cho phép người Việt Nam hợp tác với Chính phủ miền Nam Việt Nam được Mỹ hỗ trợ di cư sang Mỹ. Khi đưa ra bản lộ trình này thì ngay trong quốc hội Mỹ vẫn có những cuộc tranh luận công khai về vấn đề Việt Nam giữa những người mềm dẻo, muốn thúc đẩy quan hệ với Việt Nam và những người chống đối. Ngược lại, khi đó, phía Việt Nam vẫn làm hết sức mình để khép lại quá khứ chiến tranh tàn khốc, hướng về tương lai tốt đẹp hơn trong quan hệ hai nước. Bên cạnh những mất mát đau thương không gì bù đắp nổi của mình về hàng vạn người mất tích dến nay vẫn chưa có chút thông tin nào, về hàng vạn thương bệnh binh, nhân dân Việt Nam rất thông cảm với nhân dân Mỹ và những gia đình có người thân còn bị mất tích trong chiến tranh Việt Nam.Chính phủ và nhân dân Việt Nam coi việc giải quyết vấn đề MIA là công việc nhân đạo mà truyền thống nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam đòi hỏi phải làm. Với quan niệm chung cho rằng các vấn đề nhân đạo phải tách khỏi các vấn đề chính trị, Chính phủ Việt Nam đã hợp tác với Chính phủ Mỹ trong nhiều chương trình để giải quyết các vấn đề: người Mỹ mất tích, con lai, đoàn tụ gia đình theo chương trình ra đi có trật tự (ODP) và các chương trình cho phép những người ra khỏi các trại cải tạo xuất cảnh. Chính vì được tạo điều kiện như vậy nên ngày 8-7-1991, Mỹ đã mở một văn phòng ở Hà Nội để giúp tìm kiếm MIA. Những vấn đề nhân đạo khác mà Việt Nam quan tâm như trẻ mồ côi, chân tay giả cho người tàn tật, thuốc men và lương thực cho các vùng bị chiến tranh tàn phá cũng bắt đầu được sự giúp đỡ và chú ý của nhiều tổ chức khác nhau của Mỹ. Mặc dầu những chương trình hợp tác trong các vấn đề nhân đạo vẫn còn rất khiêm tốn so với những hậu quả chiến tranh để lại nhưng nó cũng là sự mở đầu hết sức quan trọng để quá khứ đi vào dĩ vãng và xây dựng sự hiểu biết chung trên tinh thần nhân đạo. Thêm vào đó, Việt Nam luôn luôn ủng hộ việc đàm phán nhằm đưa ra một giải pháp cho vấn đề Campuchia. Việt Nam tán thành 3 nguyên tắc mà Mỹ nêu ra trong vấn đề Campuchia. Đó là: -Rút quân đội nước ngoài. -Không để trở lại chế độ diệt chủng. -Quyền tự quyết của nhân dân Campuchia thực hiện thông qua tuyển cử tự do và bình đẳng dưới sự giám sát quốc tế. Việt Nam luôn mong muốn một nước Campuchia hoà bình, độc lập, trung lập và không liên kết, có quan hệ hữu nghị với tất cả các nước và không đe doạ nước nào. Với việc ký Hiệp định Paris về vấn đề Campuchia, con đường đầy chông gai của quan hệ Việt- Mỹ bắt đầu vào giai đoạn I của bản lộ trình. Việt Nam đã đáp ứng các đòi hỏi của Mỹ liên quan đến Campuchia và tăng cường hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề POW/MIA. Chính quyền Bush quả quyết rằng tất cả các đòi hỏi của giai đoạn I vẫn chưa hoàn tất đặc biệt là việc hồi hương các hài cốt người Mỹ và tiếp cận toàn bộ các thông tin mà Mỹ mong muốn - các sổ nhật ký bay, bản đồ và báo cáo của các tỉnh liên quan đến lính Mỹ bị mất tích. Tuy nhiên, cũng đã đạt được tiến bộ để có đi có lại. Mỹ đã thực hiện các nghĩa vụ mà Mỹ tự ý đặt ra cho mình trong giai đoạn I. Tháng3-1992, Chính phủ Mỹ đã cam kết : -Viện trợ nhân đạo cả gói 3 triệu đola dưới hình thức học bổng cho sinh viên Việt Nam sang Mỹ học. -Cho phép các tổ chức phi Chính phủ(NGOs) viện trợ nhân đạo cho Việt Nam. -Mở rộng viện trợ với y tế và chân tay giả cho Việt Nam dưới hình thức viện trợ của các đội y tế Mỹ đến tìm kiếm MIA tại Việt Nam. Mỹ cũng đã thực hiện một số cam kết của giai đoạn II. Các cuộc đàm phán cấp cao về bình thường hoá đã được tổ chức vào tháng 11-1991 ở New York, vào tháng 3-1992 ở Hà Nội và các cuộc thảo luận đó vẫn tiếp tục. Các giao dịch thương mại đáp ứng các tiêu chuẩn về nhu cầu cơ bản của con người như tay giả và các chăm sóc y tế khác, đánh giá các nhu cầu giáo dục đào tạo và sách vở, nói chung đã được phép; các hạn chế đối với các hoạt động của các tổ chức phi Chính phủ Mỹ(NGO) ở Việt Nam đã được bãi bỏ. Đến lúc này, có thể kết luận rằng Campuchia không còn là trở ngại cho quá trình bình thường hoá quan hệ nữa. Vấn đề POM/MIA cũng đã được xác định rõ,Việt Nam đã đi bước tiến dài hoà hợp với lập trường Mỹ về các thể thức giải quyết. Sau chuyến đi Hà Nội hồi tháng 3 năm 1992 của trợ lý ngoại trưởng phụ trách về vấn đề Đông á và Thái Bình Dương của Mỹ, ông Richard Solomon, Việt Nam đã thay đổi chính sách một cách có ý nghĩa và đã tác thành một số những yêu cầu chủ chốt của Mỹ. Các đòi hỏi này bao gồm việc tiếp cận một số hồ sơ quân sự của Việt Nam từ thời kỳ chiến tranh và cuộc điều tra phản ứng nhanh về các tin tức nói đến “những tù binh Mỹ được nhìn thấy còn sống” thông qua việc sử dụng máy bay lên thẳng để đi tới bất kỳ nơi nào để tìm kiếm hài cốt lính Mỹ mất tích hoặc trong thông tin về MIA. Trong Bản báo cáo của uỷ ban đặc biệt Thượng viện Mỹ phụ trách về POW/MIA. Cuối năm 1992, vấn đề POW/MIA đã được xem xét trên mọi phương diện, bao gồm cả sự hợp tác của cả Việt Nam và sự hợp tác sẽ tác động đến quá trình bình thường hoá quan hệ như thế nào. Các cuộc điều trần đầy tranh cãi của uỷ ban và cuộc cãi vã công khai của các phe trong nội bộ Chính phủ Mỹ và giữa các nhóm quan tâm đến POW/MIA đã làm nổi bật tính nan giải của vấn đề nhức nhối này, trong đó gồm tất cả những bất đồng gay gắt về những tin nói đến những tù binh được nhìn thấy còn sống, và luận điệu tố cáo chính phủ “bưng bít” tin tức suốt từ kỷ nguyên chiến tranh Việt Nam. Có thể nói rằng, diễn biến quan trọng nhất trong nhiều thập kỷ thương lượng vấn đề POW/MIA diễn ra vào tháng 10 năm 1992 khi có tuyên bố rằng người Việt Nam đồng ý trao 4800 tấm ảnh tù binh và lính Mỹ chết trong chiến tranh và mở hồ sơ lưu trữ quân sự cho các nhân viên điều tra Mỹ.(10) Nguồn: Frederic Brown, Viện nghiên cứu Phát triển quốc tế John Hopkins, USA, 1992 Ngày23 tháng 10 năm 1992, Tổng thống Bush tuyên bố rằng Mỹ sẽ nhanh chóng tiến tới bình thường hoá, kể cả bãi bỏ cấm vận, nếu những tấm ảnh này và bằng chứng có thể bổ sung cho việc giải quyết số phận các quân nhân Mỹ bị mất tích, những người mà Mỹ tin rằng Việt Nam có những tin tức cuối cùng. Năm 1993, Bill Clintơn đắc cử Tổng thống Mỹ và lên thay G.Bush. Chính quyền Clintơn cũng kế thừa chính sách “lộ trình” của chính quyền Bush, trong đó cốt lõi của quá trình bình thường hoá quan hệ vẫn là “ tốc độ và quy mô” của quá trình bình thường hoá bị tác động của sự hợp tác của Việt Nam về vấn đề POW/MIA. Tuy rằng lộ trình 4 giai đoạn cho quá trình bình thường hoá quan hệ với Việt Nam do chính quyền Mỹ công bố tháng 4-1991 không chính thức được coi là bản chỉ dẫn tuyệt đối cho việc cải thiện quan hệ hai nước, nhưng trên thực tế nhiều bước đi đã diễn ra theo đúng lịch trình này. ở giai đoạn 3, có 2 điều kiện Việt Nam phải thực hiện là: -Tiếp tục ủng hộ và khuyến khích sự ủng hộ của chính phủ PhnômPênh với hiệp định hoà bình Campuchia, rút hết các cố vấn, lực lượng quân sự Việt Nam ra khỏi Campuchia. -Giải quyết các trường hợp POW/MIA không trùng khớp thông tin. Trên thực tế, điều một đã quá lạc hậu trong tình hình hiện nay và điều này đã bắt đầu phù hợp với giai đoạn 4. Điều kiện 2 cũng được giải quyết tích cực với sự giúp đỡ to lớn của Việt Nam. Mỹ đã thực hiện đầy đủ các điều ghi trong khoản 3: Huỷ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam ngày 3-2-1994 mở văn phòng liên lạc và ngoại giao tại Hà Nội và mời Việt Nam lập văn phòng tại Washingtơn cũng như ủng hộ các cơ quan tài chính quốc tế viện trợ để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người ở Việt Nam. ở giai đoạn 4, không có đòi hỏi bổ sung yêu cầu Việt Nam thực hiện trong giai đoạn này Mỹ sẽ lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ với Việt Nam, xem xét việc dành chế độ Tối huệ quốc cho buôn bán với Việt Nam của Mỹ. Ngày 28-1-1995, CHXH Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chính thức thông báo mở cơ quan liên lạc ở thủ đô hai nước. Đây là kết quả của một năm đàm phán kể từ khi hai bên tuyên bố sẵn sàng mở cơ quan liên lạc tháng 2-1994. Chắc chắn rằng, với tư cách ngoại giao thường trực của nước này tại nước kia, cả hai cơ quan liên lạc sẽ góp phần thúc đẩy các quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trên mọi lĩnh vực có lợi ích chung. Với nỗ lực và thiện chí của cả hai bên, ngày 11-7-1995, hai nước chính thức bình thường hoá quan hệ ngoại giao. Đây là một bước đi quan trọng đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay của tình hình quốc tế đồng thời góp phần vào sự nghiệp hoà bình, ổn định và phát triển ở Đông Nam á. Bình thường quan hệ ngoại giao với Mỹ là thắng lợi lớn của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Việt Nam và Mỹ cũng là thành công lớn trong hoạt động ngoại giao đầy đủ của Chính phủ và nhân dân ta, là thành công của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá và muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế vì hoà bình, ổn định và phát triển. Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đây là lần đầu tiên Việt Nam có quan hệ ngoại giao đầy đủ với tất cả các nước trên thế giới. Điều này củng cố thêm thế đứng vững vàng và ổn định của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng kinh tế ở Việt Nam. Kể từ nay, quan hệ Việt -Mỹ bước sang một trang mới, một thời kỳ của “hàn gắn và kiến tạo” . 2. Kết quả đạt được trên lĩnh vực ngoại giao giữa Việt Nam và Mỹ. a. Trao đổi ngoại giao. Quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai nhà nước quốc gia là cơ sở pháp lý, là sự đảm bảo chính thức từ phía Chính phủ mỗi bên đối với việc thiết lập, mở rộng, củng cố, phát triển các quan hệ ở lĩnh vực khác. Tại các diễn đàn, thể chế khu vực cũng như toàn cầu, quan hệ ngoại giao chính trị chính thức giữa hai quốc gia là điều kiện pháp lý đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ bình đẳng của mỗi nước trong quan hệ với nhau, cũng như trong quan hệ với các đối tác khác. Với chức năng khai thông, mở đường cho các mối quan hệ khác, quan hệ ngoại giao thường đi trước một bước. Thời gian qua, quan hệ ngoại giao giữa hai nước đã đạt được một số kết quả chủ yếu sau đây: Một là, việc bổ nhiệm Đại sứ đã được hoàn tất. Ngay sau khi Tổng thống Bill Clinton tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ở cấp Đại sứ, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có ngay bản tuyên bố hoan nghênh và nói phía Việt Nam sẵn sàng trao đổi Đại sứ. Đầu tháng 8-1996, Chính quyền Clinton đã quyết định bổ nhiệm Hạ nghị sĩ Douglas Peterson làm Đại sứ tại Việt Nam và đề nghị Quốc hội Mỹ thông qua theo luật lệ Mỹ. Nhưng khi đó ông Peterson là nghị sĩ đương nhiệm, do đó không được giữ một chức vụ của chính quyền mới lập ra và hưởng lương cao hơn mức lương hiện tại của dân biểu. Những người chống đối đã dựa vào đó để trì hoãn việc ông Peterson điều trần trước Quốc hội cho đến đầu năm 1997. Ngày 13 tháng 2 năm 1997, tiểu ban Châu á- Thái Bình Dương thuộc uỷ ban đối ngoại Thượng viện Mỹ thông qua việc cử ông Peterson. Thượng nghị sĩ Bob Smith (Đảng Cộng hoà) và một số người ủng hộ ông ta yêu cầu Quốc hội xem lại việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam từ vấn đề tù binh Mỹ trong chiến tranh. Mặc dù vậy, ngày 4 tháng 3 năm 1997, Uỷ ban đối ngoại Thượng viện Mỹ đã nhất trí thông qua việc cử Đại sứ Peterson. Ngày 10-4-1997, toàn thể Thượng viện Mỹ đã nhất trí phê chuẩn việc cử ông Peterson làm Đại sứ tại Việt Nam, chấm dứt cuộc tranh cãi làm chậm việc phê chuẩn ông Peterson 11 tháng. Phía Việt Nam cử ông Lê Văn Bàng làm Đại sứ tại Hoa kỳ. Ngày 9-5-1997, ông Lê Văn Bàng tới Washington trong khi cùng ngày ông Peterson tới Hà Nội. Ngày 14-5-1997, tại Nhà Trắng, ông Lê Văn Bàng, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trình thư uỷ nhiệm lên Tổng thống B.Clinton. Cùng ngày, tại phủ Chủ tịch, ông Peterson, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hoa Kỳ, trình thư uỷ nhiệm lên phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình. Có thể nói đây là một kết quả quan trọng và cao nhất về mặt ngoại giao. Nó là điều kiện cần thiết về mặt pháp lý để mở rộng các quan hệ khác cho cả hai bên. Hai là, với việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao, việc tạo lập cơ sở vật chất cơ cấu, cơ cấu tổ chức bộ máy cho hoạt động của Đại sứ quán ở thủ đô mỗi nước đã được tiến hành tuần tự theo từng bước một. Từ chỗ mở các văn phòng đại diện lúc đầu nhằm thực thi các nhiệm vụ cụ thể, như phòng liên lạc POW/MIA của Hoa Kỳ ở Hà Nội đến việc khai trương các văn phòng Đại sứ quán, tiếp theo là thiết lập các Lãnh sự quán. Cơ sở vật chất của đại diện ngoại giao của hai bên đã được thiết lập với việc khai trương đi vào hoạt động của các Đại sứ quán ở hai thủ đô và việc mở Lãnh sự quán của Việt Nam tại San Phrăng- xít-Cô, Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh cơ sở vật chất của đại diện ngoại giao hai bên đã được thiết lập. Cơ cấu, bộ máy tổ chức, nhân sự của các Đại sứ quán về cơ bản đã được hình thành và thực thi chức năng của mình. Việc hai nước chính thức trao đổi Đại sứ (tháng 5-1997) đánh dấu một bước tiến mới, quan trọng tro

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docR0018.doc
Tài liệu liên quan