Tài chính Ngân hàng và sự phát triển

 

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 1

I. Lý thuyết chung về hệ thống tài chính 2

1. Hệ thống tài chính và vai trò của hệ thống tài chính 2

2. Cấu trúc của hệ thống tài chính. 2

2.1. Tài chính doanh nghiệp. 2

2.2.Ngân sách Nhà nước. 3

2.3. Tài chính dân cư và các tổ chức xã hội 3

2.4. Tài chính đối ngoại 3

2.5. Thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian 4

II. Tính tất yếu khách quan của việc thực hiện cải cách hệ thống tài chính 4

1. Áp lực từ bên ngoài 5

1.1. Áp lực từ các tổ chức tài chính quốc tế 5

1.2. Áp lực trong quá trình hội nhập 5

2. Áp lực từ bên trong 6

2.1. Các nguyên nhân có tính lịch sử 6

2.2. Do bản thân yêu cầu nội tại trong hệ thống ngân hàng 6

III. Xu hướng cải cách hệ thống tài chính 7

1. Sự lựa chọn kiềm chế tài chính 7

2. Sự lựa chọn tự do hoá tài chính 7

IV. Các biện pháp cải cách hệ thống tài chính 8

1. Cải cách các chính sách tài chính 8

2. Cải cách hệ thống ngân hàng 8

3. Phương pháp tiến hành cải cách 8

3.1. Cải cách đồng bộ hệ thống tài chính 8

3.2. Cải cách từng bước hệ thống tài chính 8

PHẦN II: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ VIỆT NAM 9

I. Xu hướng tài chính - tiền tệ quốc tế đầu thế kỷ XXI 10

II. Cải cách hệ thống tài chính ở một số nước trên thế giới 10

1. Cải cách hệ thống tài chính của ASEAN: 10

1.1. Công cuộc cải cách hệ thống tài chính ở Thái Lan 10

1.2. Công cuộc cải cách hệ thống tài chính ở Indonesia, 11

1.3. Công cuộc cải cách hệ thống tài chính ở Malaysia 11

2. Cải cách hệ thống tài chính của Trung Quốc 12

3. Cải cách hệ thống tài chính của Liên bang Nga. 12

4. Cải cách hệ thống tài chính của Hàn Quốc 13

5. Kinh nghiệm đối với Việt Nam: 14

6. Quá trình cải cách hệ thống tài chính ở Việt Nam 15

6.1. Cải cách chính sách tài chính 15

6.1.1. Chính sách lãi suất 15

6.1.2 Chính sách tín dụng 16

6.1.3 Chính sách tỷ giá 17

6.1.4. Kết quả đạt được 18

6.1.5. Những vướng mắc cần tháo gỡ 21

6.2. Cải cách hệ thống Ngân hàng 22

6.2.1. Tính tất yếu phải cải cách hệ thống Ngân hàng 22

6.2.2. Nội dung cải cách: 24

6.2.3. Tình hình thực hiện công cuộc cải cách hệ thống ngân hàng thời gian qua. 25

PHẦN III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 28

I. Các giải pháp về cải cách các chính sách tài chính 29

1. Hoàn thiện chính sách tỷ giá 29

2. Giải pháp cho chính sách lãi suất 30

3. Giải pháp cho chính sách tín dụng 30

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG: 31

1. Xử lý nợ tồn đọng 31

1.1 Thành lập công ty mua bán nợ tách ra khỏi các ngân hàng thương mại. 31

1.2 Tách bạch hoạt động cho vay chính sách với cho vay thương mại. 31

2. Giải pháp tăng vốn cho các Ngân hàng thương mại 31

2.1 Cổ phần hoá từng bước các ngân hàng thương mại 31

2.2 Phát hành trái phiếu Chính phủ 32

3. Giải pháp nâng cao năng lực quản lý 32

4. Giải pháp hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và đa dạng hoá các dịch vụ 32

 

 

doc34 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 22/01/2016 | Lượt xem: 773 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tài chính Ngân hàng và sự phát triển, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đã gây khó khăn cho các nhà đầu tư. - Thiếu tin tưởng giữa các ngân hàng trong hệ thống - Ngân hàng Trung ương chưa có chính sách hợp lý với quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng. Trước tình hình đó, Chính phủ Nga đã đề ra một chiến lược phát triển đồng bộ hệ thống ngân hàng với nhiệm vụ trọng tâm là củng cố hệ thống giám sát ngân hàng, đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng với ưu tiên số một là ngăn chặn các cuộc khủng hoảng. Cụ thể: Cần tiếp tục phát triển hệ thống ngân hàng 2 cấp, đề cao vai trò của Ngân hàng Trung ương. cải cách mạng lưới ngân hàng thương mại theo hướng tăng cường tích tụ tập trung tư bản, hình thành những ngân hàng hạt nhân có tiềm lực tài chính mạnh, công nghệ hiện đại, giảm bớt số lượng ngân hàng. Tạo điều kiện thu hút tư bản nước ngoài đầu tư vào khu vực ngân hàng. Khuyến khích các ngân hàng Nga mở rộng ra thị trường quốc tế. Cải cách sâu rộng Ngân hàng Trung ương nhằm nâng cao vai trò giám sát hệ thống ngân hàng của nó. Nâng cao vai trò của nhà nước trong phát triển ngân hàng theo hướng kinh tế thị trường. Tăng cường kiểm soát của nhà nước với hoạt động của ngân hàng thương mại trước hết là củng cố những nguyên tắc thị trường trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. - Tăng cường gắn bó giữa các ngân hàng với khu vực sản xuất. - Gắn tổ chức hoạt động và cơ cấu mạng ngân hàng với khía cạnh khu vực, giảm sự mất cân bằng của các ngân hàng theo khu vực. - Tăng cường bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư, nhà tài trợ và các cổ đông ngân hàng. Cụ thể đã đưa ra hệ thống bảo hiểm tiền gửi và hoạt động. Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động của hệ thống ngân hàng theo hướng bình đẳng và minh bạch. Lành mạnh hoá hệ thống tài chính, tái cấu trúc các tổ chức tín dụng gặp khó khăn. Nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng theo hướng mở rộng lĩnh vực kinh doanh. Như vậy, cùng với việc hoàn thiện cơ chế thị trường, hoàn thiện các công cụ tài chính -tiền tệ ngân hàng ở Liên bang Nga là những nhiệm vụ quan trọng đảm bảo thực hiện mục tiêu chiến lược của Nga trong những năm đầu của thế kỷ 21. 4. Cải cách hệ thống tài chính của Hàn Quốc Đối với Hàn Quốc, cải cách hệ thống tài chính tập trung chủ yếu vào tài chính ngân hàng với lý do sau: Các ngân hàng của Hàn Quốc đã phải chịu đựng những tác động nặng nề nhất kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính Châu á nổ ra vào giữa năm 1997. Sự mất giá của đồng nội tệ cùng với mức lãi suất cao trong những năm 1997- 1998 đã làm nhiều công ty không thể trả nổi các món nợ ngân hàng. Điều này đã đẩy hệ thống ngân hàng Hàn Quốc rơi vào tình trạng “hiểm nghèo” và nhiều ngân hàng đã buộc phải tuyên bố mất khả năng thanh toán. Các biện pháp mà Chính phủ Hàn Quốc tiến hành cải cách hệ thống ngân hàng như sau: Thứ nhất, chỉ những tổ chức có thể hoạt động hiệu quả mới được tiếp tục hoạt động và khi cơ cấu lại thì thiệt hại phải được phân bổ một cách minh bạch và hạn chế tối đa cho những người đóng thuế. Thứ hai, việc cơ cấu lại phải củng cố các nguyên tắc tài chính bằng việc chia sẻ thiệt hại trước hết cho các cổ đông, sau đó mới đến các chủ nợ, và có thể cả một số người gửi nhiều tiền. Thứ ba, phải có biện pháp duy trì nguyên tắc tín dụng đối với người vay vốn của ngân hàng và có những biện pháp khuyến khích tăng vốn từ nguồn tư nhân mới. Thứ tư, tốc độ cơ cấu lại phải nhanh để có thể khôi phục được tín dụng, đồng thời duy trì được lòng tin của quần chúng đối với hệ thống ngân hàng. Bên cạnh các biện pháp trên, Chính phủ Hàn Quốc còn dự kiến tư nhân hoá các quĩ đầu tư và sáp nhập các ngân hàng, đồng thời nới lỏng những hạn chế đối với các ngân hàng thương mại gặp khó khăn. Theo cách này, kể từ tháng 3 năm 2000 các ngân hàng Hàn Quốc đang gặp khó khăn do giảm sút tiền gửi sẽ được phép mở rộng hoạt động sang lĩnh vực môi giới. Uỷ bán giám sát tài chính Hàn Quốc cũng tuyên bố nới lỏng những hạn chế đối với việc chuyển đổi, sáp nhập các ngân hàng thương mại thành các công ty môi giới nhằm cho phép các ngân hàng này cung cấp các dịch vụ tài chính hợp nhất. Đồng thời các ngân hàng thương mại Hàn Quốc có thể nhằm tiền gửi tiết kiệm trong thời hạn 5, 6 năm thay vì 3 năm như hiện nay. 5. Kinh nghiệm đối với Việt Nam: Trong hai thập kỷ qua, các nước đang phát triển Châu á đã rất quan tâm đến việc cải cách lĩnh vực tài chính theo hướng tự do hoá và đã đạt được những thành công nhất định. Qua nghiên cứu quá trình cải cách khu vực tài chính của một số nước ta có thể rút ra vài nhận xét sau: Thứ nhất, những nước tương đối thành công hơn thường là những nước có tốc độ cải cách từ từ và đáp ứng nguyên tắc cơ bản của trình tự cải cách kinh tế tối ưu mà Mc.Kinnon đã đưa ra là không thể xoá bỏ kiểm soát vốn trước khi tự do hoá thương mại và tài chính. Đó là trường hợp của Trung Quốc. Thứ hai, sự kém thành công hơn trong cải cách tài chính ở một số nước có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau tạo nên, nhưng tốc độ cải cách quá nhanh (đặc biệt trong việc phi điều tiết hệ thống ngân hàng), cải cách không đồng bộ (ví dụ cải cách quá nhanh trong lĩnh vực tổ chức và quản lý, nhưng lại quá chậm trong lĩnh vực luật pháp, hoặc chưa đáp ứng những tiêu chuẩn quốc tế trong quá trình cải cách như tiêu chuẩn kế toán) Thứ ba, trong điều kiện của các nước đang phát triển - trình độ quản lý yếu kém, thiếu kinh nghiệm trong phát triển kinh tế thị trường, cải cách với tốc độ từ từ là phù hợp hơn. Trong quá trình cải cách cần phải đảm bảo một số nguyên tắc sau: - Không nên tự do hoá hệ thống ngân hàng trong nước hoặc mở cửa hoàn toàn đối với các dòng vốn vào trong điều kiện một bộ phận của hệ thống không có khả năng trả nợ hoặc trở nên không trả được nợ khi tự do hoá. - Nên tự do hoá các dòng vốn vào dài hạn, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài, trước các dòng vốn vào ngắn hạn. - Cần loại bỏ từng bước những méo mó như nguyên tắc kế toán, kiểm toán và công bố thông tin cân xứng, đảm bảo ngầm của chính phủ để khuyến khích các dòng vốn vào quá nhiều (chính sách tỷ giá, tiền tệ) Qua phân tích trên ta thấy rằng đối với Việt Nam trong thời gian tới có thể cải cách theo các hướng sau: Thứ nhất, Chính phủ và ngân hàng trung ương phải thể hiện vai trò lãnh đạo rõ ràng và nhất quán trong việc cải cách hệ thống ngân hàng. Thứ hai, tái điều chỉnh khu vực tài chính- ngân hàng gắn liền với việc cải cách hệ thống doanh nghiệp để tạo ra một trật tự kinh tế thị trường lành mạnh cho mọi đối tượng thị trường hoạt động. Thứ ba, chương trình cải cách chủ yếu là dùng công quĩ và có thể phát hành trái phiếu nội địa để tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng, mua nợ khó đòi để lành mạnh hoá tài chính của các ngân hàng thương mại nhằm khôi phục khả năng tín dung của nó. Thứ tư, cải cách hệ thống tài chính cần phải được tiến hành từ từ để tránh những cú sốc ngoại sinh. Bên cạnh đó, cải cách hệ thống tài chính một cách đồng bộ là hết sức quan trọng. 6. Quá trình cải cách hệ thống tài chính ở Việt Nam 6.1. Cải cách chính sách tài chính 6.1.1. Chính sách lãi suất Từ khi có Pháp Lệnh Ngân hàng đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNH) đã không ngừng đổi mới cơ chế điều hành lãi suất nhằm từng bước tiến tới tự do hoá lãi suất. Bắt đầu từ năm 1989, Việt Nam đã thực hiện chính sách lãi suất thực dương tạo cơ hội cho các ngân hàng thu hút được nhiều hơn các nguồn vốn trong dân cư. Tiếp theo đó, chính sách lãi suất đã được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình kinh tế tài chính trong nước và quốc tế. Lãi suất đã được thay đổi từ chỗ khống chế lãi suất cho vay theo ngành sang cơ chế lãi suất trần tín dụng và bỏ dần các mức chênh lệch khống chế nhằm nâng cao tính tự chủ cho các ngân hàng. Năm 1992, NHNN đã thực hiện một bước đổi mới đáng kể về điều hành chính sách lãi suất bằng việc chuyển từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương. Có thể nói đây là bước khởi đầu, tạo cơ sở cho việc theo đuổi mục tiêu tự do hoá lãi suất và tạo đòn bẩy quan trọng để các ngân hàng thương mại (NHTM) chuyển hoạt động kinh doanh từ thua lỗ sang có lãi. Trên cơ sở lãi suất thực dương, NHNN đã từng bước nới lỏng sự quản lý trực tiếp lãi suất của mình và trao dần quyền tự chủ về quy định lãi suất cho các NHTM. Bước sang năm 1996, NHNN đã tiến hành cải cách đáng kể tiếp theo về điều hành lãi suất thông qua việc tự do hoá lãi suất tiền gửi và thực hiện quy định trần lãi suất cho vay. Việc chỉ khống chế lãi suất cho vay tối đa, không quy định lãi suất tiền gửi được thực hiện nhằm từng bước tiến tới tự do hoá lãi suất mà vẫn đảm bảo sự kiểm soát mặt bằng lãi suất của NHNN, phù hợp với sự phát triển của các công cụ hiện có. Với quy chế này, các NHTM được phép tự do quy định mức lãi suất huy động, tự chủ hơn trong kinh doanh. Song việc quy định trần lãi suất cho vay có một số hạn chế nhất định do lãi suất nhiều khi không phản ánh đúng cung cầu vốn trên thị trường, không gắn liền với mức độ rủi ro của món vay, gây nên sự méo mó trong phân bổ nguồn vốn tín dụng. Từ tháng 8/2000, NHNN đã thực hiện bước đổi mới cơ bản về điều hành lãi suất, thay thế cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay bằng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng đồng tiền Việt Nam, và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối với cho vay bằng ngoại tệ. NHNN công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo lãi suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tính dụng được lựa chọn theo quyết định của thống đốc ngân hàng trong từng thời kỳ. Trên cơ sở lãi suất cơ bản do NHNN công bố, tổ chức tín dụng (TCTD) ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng theo nguyên tắc không vượt quá mức lãi suất cơ bản và biên độ do NHNN quy định trong từng thời kỳ. Ngoài ra, NHNN đã có cơ chế chính thức liên hệ lãi suất đồng USD trong nước và lãi suất đồng USD quốc tế thông qua lãi suất đồng USD trên thị trường tiền tệ Singapore. 6.1.2 Chính sách tín dụng Chính sách tín dụng cũng có những thay đổi căn bản đáng kể theo hướng tiến dần tới mục tiêu tự do hoá tín dụng thể hiện ở việc xoá bỏ các hạn mức tín dụng. Trước hết cần phải kể đến việc Chính phủ và NHNN đã ban hành các cơ chế tín dụng khá đồng bộ, tạo khuôn khổ hành lang pháp lý ngày càng có tính hệ thống phù hợp với cơ chế thị trường, hạn chế tới mức thấp nhất bao cấp qua tín dụng và cơ chế “xin-cho”, từng bước tách tín dụng theo chính sách ra khỏi hoạt động tín dụng của các NHTM. Các cơ chế tín dụng mới ngày càng được hoàn thiện theo hướng chỉ đưa ra các quy định mang tính nguyên tắc. Theo đó các TCTD chủ động tìm kiếm các dự án khá thi có hiệu quả và có khả năng trả nợ để quyết định cho vay và tự chịu trách nhiệm về việc cho vay. Phạm vi điều chỉnh của cơ chế tín dụng cũng ngày càng mở rộng phù hợp với quy định của luật pháp. Theo quyết định số 284/2000/QĐ-NHNN1 ngày 25/8/2000 của thống đốc NHNN, quy chế cho vay mới được chỉnh sửa trên nguyên tắc thông thoáng về thủ tục nhưng vẫn đảm bảo an toàn hiệu quả của hoạt đông tín dụng, nâng cao năng lực kinh doanh của các TCTD. Bên cạnh các hình thức cho vay thông thường theo quy chế cho vay, Chính phủ và NHNN đã ban hành một số văn bản quy định về một số hình thức cấp tín dụng khác như cho thuê tài chính, bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá trị ngắn hạn. Đặc biệt, để tạo môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng có hiệu quả, tháo gỡ các vướng mắc, nâng cao quyền tự chủ và trách nhiệm của các TCTD trong việc quyết định cho vay, tạo lập sự bình đẳng giữa mọi khác hàng và mọi TCTD trong đảm bảo tín dụng, Chính phủ đã ban hành Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các TCTD. Theo đó, vấn đề bảo đảm tiền vay được quy định theo hướng bở sung thêm hình thức tín chấp Thủ tục cấp tín dụng và đảm bảo tiền vay được đổi mới theo hướng đơn giản hoá. Việc đảm bảo tiền vay đối với các khoản tín dụng ưu đãi theo chính sách của Nhà nước được tách ra khỏi tín dụng thương mại. Ngoài ra, các TCTD được tự quyết định việc áp dụng các biện pháp bảo đảm hay không bảo đảm trong cấp tín dụng đối với từng khách hàng, không có sự chỉ định bắt buộc hay miễn trừ áp dụng biện pháp bảo đảm đối với từng loại TCTD và khách hàng của họ từ phía Chính phủ. Cho đến nay, cơ chế bảo đảm tiền vay cũng đã được ban hành khá hệ thống và đồng bộ. Bên cạnh Nghị định 178 nêu trên, Chính phủ, NHNN và các Bộ ngành khác đã ban hành một số các văn bản liên quan dến đảm bảo tiền vay như Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 “Về giao dịch bảo đảm”, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 “Về đăng ký giao dịch đảm bảo”, Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 “Về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị sử dụng đất” và các Thông tư hướng dẫn các Nghị định nêu trên. 6.1.3 Chính sách tỷ giá a. Về quản lý ngoại hối Trong những năm qua, chính sách quản lý ngoại hối đã từng bước đổi mới theo hướng tăng cường khả năng quản lý, kiểm soát ngoại hối của Nhà nước, thu hẹp dần phạm vi hoạt động của ngoại tệ. Một loạt các chính sách, quy định về quản lý ngoại hối và các hoạt động liên quan đến ngoại hối đã được ban hành và ngày càng hoàn thiện và hỗ trợ thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ, tạo tiền đề thực hiện mục tiêu trên đất Việt Nam chỉ lưu hành đồng Việt Nam, hướng tới mục tiêu đồng Việt Nam trở thành đồng tiền có khả năng chuyển đổi và tự do hoá các giao dịch ngoại hối. Nghị định 63/1998?NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý ngoài hối đã xây dựng khung pháp lý khá toàn diện và hệ thống quản lý ngoại hối, phù hợp với yêu cầu chuyển đối sang kinh tế thị trường và tăng cường hội nhập quốc tế. Nghị định 63 đã đưa ra một số điểm khá cơ bản về quản lý ngoại hối tạo tiền đề cần thiết để tiến tới tụ do hoá các giao dịch ngoại hối như: Đưa ra khái niệm mới về ngoại hối, xác định rõ khái niệm người cư trú và người không cư trú, phân chia các giao dịch liên quan đến ngoại hối thành giao dịch vãng lai, giao dịch vốn và giao dịch liên quan đến ngoại hối của TCTD, chỉ thừa nhận vàng tiêu chuẩn quốc tế làm ngoại hối. b. Về điều hành tỷ giá. Năm 1989 là mốc quan trọng trong việc thay đổi cơ chế, chính sách điều hành tỷ giá hối đoái ở nước ta. Tháng 3/1989, Việt Nam bãi bỏ hệ thống bao cấp của nhà nước qua tỷ giá đối với các hoạt động ngoại thương, xoá bỏ chế độ tỷ giá kết toán nội bộ; đồng thời áp dụng cơ chế tỷ giá mới. Sau khi áp dụng cơ chế quản lý chặt đối với lưu thông ngoại tệ nói chung, tỷ giá hối đoái nói riêng, trên thực tế tỷ giá hối đoái đã được thả nổi và do vậy tỷ giá tăng lên nhanh chóng dẫn tới lạm phát cao đồng nghĩa với VNĐ giảm giá. Trước tình hình đó, NHNN đã áp dụng một loạt các chính sách bổ trợ như ban hành tín phiếu kho bạc, thay đổi mức dự trữ ngoại tệ bắt buộc để ép tỷ giá giảm xuống nên tỷ giá thị trường đã giảm xuống và ổn định trở lại vào năm 1992. Trong những năm qua, Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực trong việc duy trì tỷ giá hối đoái ổn định. Trong những năm 90, tỷ giá đã từng được duy trì khá ổn định, tuy nhiên vẫn là cứng nhắc. Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, một trong những điều kiện tiền đề cần thiết cho tự do hoá tài chính là việc điều hành tỷ giá theo nguyên tắc thị trường. Thời gian vừa qua, NHNN đã không ngừng đổi mới phương pháp điều hành tỷ giá để từng bước tiến tới mục tiêu trên. Từ năm 1994, với sự ra đời của thị trường liên ngân hàng, NHNN đã thực hiện bước đổi mới đáng kể đầu tiên về điều hành tỷ giá theo cơ chế mới thay cho chế độ đa tỷ giá trước đây. Do đó, tỷ giá mua bán trên thị trường chỉ được phép dao động trong biên độ cho phép. Từ 1994-1996, chế độ tỷ giá ở Việt Nam thiên về mục tiêu đảm bảo tính ổn định của tỷ giá danh nghĩa giữa đồng Việt Nam và đồng USD. Năm 1997, việc điều hành tỷ giá ngày càng trở nên linh hoạt, mục tiêu quản lý tỷ giá đã chuyển hướng từ nhấn mạnh tính ổn định sang điều hành linh hoạt trên cơ sở đảm bảo sự ổn định giá trị đồng Việt Nam. Sang năm 1999, NHNN thực hiện một bước đổi mới cơ bản về điều hành tỷ giá từ quản lý có tính chất hành chính theo hướng thị trường có sự quản lý của nhà nước. Kể từ ngày 26/2/1999, NHNN công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Tỷ giá này được áp dụng làm cơ sở để các TCTD được phép kinh doanh ngoại tệ, xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ, áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu. Trên cơ sở tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất trước đó do NHNN công bố, các TCTD được quy định tỷ giá giao dịch giữa VND và USD không vượt quá 0,1% so với tỷ giá này. Việc thay đổi cơ chế quản lý điều hành tỷ giá đã tạo quyền chủ động cho các NHTM trong việc tự quy định tỷ giá giữa đồng Việt Nam với các ngoại tệ khác 6.1.4. Kết quả đạt được Với tư cách là công cụ quản lý vĩ mô, là nguồn máu của cơ thể sống, là nguồn lực, bằng chính sách và cơ chế vận hành phù hợp, các chính sách tài chính đã góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế. Qua 10 năm đổi mới và mở cửa, hệ thống tài chính Việt Nam đã được xây dựng và phát triển, làm tốt vai trò của mình với nền kinh tế quốc dân và đã được một số kết quả như sau: Thứ nhất là, chính sách lãi suất đã đem lại một bước đệm quan trọng tiến tới tự do hoá lãi suất, góp phần luân chuyển vốn hợp lý. Lãi suất cơ bản hiện nay được coi là phù hợp với mức độ phát triển của thị trường tiền tệ và khả năng kiểm soát của NHNN. Việc xác định lãi suất cơ bản dựa trên lãi suất cho vay tốt nhất của các ngân hàng thương mại cộng với biên độ đủ rộng cho thấy yếu tố thị trường chứa đựng trong cơ chế lãi suất nà nhiều hơn cơ chế trần lãi suất cho vay trước đây. Như vậy, giá cả của đồng vốn trên thị trường đã gắn nhiều hơn với cung cầu vốn trên thị trường, đến mức độ rủi ro cua món vay. Điều này góp phần thúc đẩy sự luân chuyển vốn hợp lý. Việc quy định lãi suất tái cấp vốn cụ thể phù hợp với thông lệ quốc tế, cung cấp tín hiệu về mục tiêu nới lỏng hay thắt chặt chính sách tiền tệ. Như vậy, trong thời gian qua, cùng với việc chuyển sang cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu (hình thức tái cấp vốn). Bên cạnh đó, lãi suất tái cấp vốn do NHNN công bố cũng không ngừng được hoàn thiện nhằm nâng cao tính hiệu quả của công cụ tái cấp vốn trong điều hành chính sách tiền tệ. Từ tháng 5-1997, NHNN đã thực hiện chuyển từ việc quy định lãi suất tái cấp vốn theo tỷ lệ % trên lãi suất cho vay áp dụng đối với dự án cho vay của tổ chức tin dụng (bắng từ 60%-100% lãi suất ghi trên khế ước cho vay của tổ chức tín dụng) bằng việc quy định mức lãi suất tái cấp vốn cụ thể phù hơpự với thông lệ quốc tế, cung cấp tin hiệu về mục tiêu nới lỏng hay thắt chặt chính sách tiền tệ. Như vậy, trong thời gian qua cùng với việc chuyển sang cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu (hình thức tái cấp vốn được áp dụng khi NHNN tái chiết khấu thương phiếu, các giấy tờ có gấ ngắn hạn của TCTD) do NHNN công bố cũng được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp vớ mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Trên cơ sở đó, NHNN từng bước tiến tới mục tiêu tự do hoá lãi suất. Thứ hai là, việc đổi mới chính sách, cơ chế tín dụng phù hợp với các nguyên tắc thị trường và thông lệ quốc tế đã có những kết quả đáng kể. Những bước đổi mới trong lĩnh vực tín dụng đã được thực hiện theo hướng từng bước tiến dần tới mục tiêu tự do hóa tín dụng. Điều này có thể thấy được qua việc xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu chủ yếu là mở rộng tín dụng cho mọi thành phần kinh tế, tạo lập sự bình đẳng giữa các TCTD và các khách hàng, nâng cao tính hiệu quả, chất lượng của tín dụng và đổi mới cơ cấu tín dụng. Trên thực tế, về cơ bản các mục tiêu của chính sách tín dụng đã được thực hiện. Tín dụng đã không những tập trung cho khu vực quốc doanh mà còn mở rộng ra cho các khu vực ngoài quốc doanh. Vào năm 1991, tỷ trọng cho vay doanh nghiệp quốc doanh chiếm tới 90% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống ngân hàng. Cho đến năm 1999, con số này chỉ vào khoảng 48%. Trong khi đó, tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh qua các năm đã tăng dần lên từ con số 10% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của năm 1991 tới 52% vào năm 1999. Bên cạnh đó, cơ cấu tín dụng cũng đổi mơí đáng kể phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế đất nước và chuyển sang kinh tế thị trường. Vào đầu năm 1990, các ngân hàng chỉ tập trung cho vay ngắn hạn, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn chiếm tới 85% đến 90% tổng dư nợ. Nhưng qua các năm, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn ngày càng giảm bớt. Từ năm 1998, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn trong tổng dư nợ chỉ còn khoảng 54%. Trong khi đó tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng dư nợ từng bước được nâng lên. Đồng thời, trong những năm qua, chất lượng tín dụng được hệ thống ngân hàng từng bước nâng cao. Tỷ lệ nợ quá hạn giảm dần từ 20,2% tổng dư nợ tín dụng vào năm 1991 xuống còn 12,5% vào năm 1999. Có thể khẳng định rằng một trong những bằng chứng rõ nét nhất thể hiện các bước đổi mới trong lĩnh vực tín dụng theo hướng tự do hóa tín dụng là việc tạo lập sự bình đẳng giữa các TCTD và khách hàng. Nếu như tín dụng đã được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế thể hiện sự bình đẳng đối với các khách hàng, thì sự bình đẳng giữa các TCTD được thể hiện thông qua việc NHNN đưa ra các quy định về cơ chế tín dụng và bảo đảm tiền vay áp dụng chung đối với mọi TCTD. Ngoài ra, từ quý II năm 1998, việc NHNN ngừng sử dụng các công cụ hạn mức tín dụng như một công cụ thường xuyên trong điều hành chính sách tiền tệ cũng là một bước tiến đáng kể trong tiến trình tự do hóa tín dụng. Điều này đã góp phần thực hiện việc phân bổ các nguồn vốn một cách hợp lý, tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh cho các TCTD. Ngoài ra, việc ngừng sử dụng hạn mức tín dụng được thực hiện trong quá trình NHNN chuyển dần điều hành chính sách tiền tệ từ điều hành bằng công cụ gián tiếp sang trực tiếp là một bước tiến phù hợp với các nguyên tắc thị trường và tiến trình tự do hóa tín dụng. Thứ ba là việc quản lý ngoại hối đã từng bước được nới lỏng cũng là một bước chuyển quan trọng để phù hợp với nền kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế. Sự can thiệp của NHNN tới thị trường ngoại hối đã từng bước giảm dần theo hướng hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính, chủ yếu can thiệp thông qua việc ban hành các chính sách kinh tế. Kết quả có thể thấy rõ qua công tác quản lý ngoại hối trong những năm qua. Trong năm 1998, Chính phủ đã áp dụng một số biện pháp tạm thời có tính chất hành chính về tăng cường công tác quản lý ngoại hối mà đặc biệt là yêu cầu kết hối ngoại tệ đối với người cư trú là tổ chức nhằm giải quyết những ách tắc của thị trường liên ngân hàng, giảm thiểu những tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực tới nền kinh tế. Cho đến nay, theo quyết định 180/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ, tỷ lệ kết hối đã giảm xuống chỉ còn 50%. Đây là một bước tiến quan trọng của quá trình tự do hóa các giao dịch ngoại tệ. Vào năm 2001, các hạn chế khác về ngoại hối như yêu cầu tự cân đối ngoại tệ và thuế chuyển lợi nhuận về nước đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng đã có những bước nới lỏng đáng kể theo Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi vào năm 2000. Ngoài ra, hạn chế đối với các giao dịch chuyển tiền cá nhân trước đây cũng đã được chấm dứt do Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định 170/1999/QĐ-TTg ngày 19/9/1999 Về việc khuyế khích người Việt Nam ở nước ngoài chuyển tiền về nước. Theo đó, người thụ hưởng được phép nhận các khoản tiền này bằng ngoại tệ hoặc VND theo yêu cầu, được bán cho các TCTD hoặc bán đổi ngoại tệ, gửi tiết kiệm ngoại tệ. Quyết định 170 đánh dấu một bước tiến mới trong việc nới lỏng chuyển tiền cá nhân, từng bước tự do hóa các giao dịch vãng lai. Bên cạnh đó, cơ chế điều hành tỷ giá mới đã góp phần ổn định tỷ giá, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong kinh doanh nhưng vẫn đảm bảo vai trò kiểm soát của Nhà nước. Đồng thời, cùng với các biện pháp đẩy mạnh sự phát triển của thị trường ngoại tệ, với cơ chế điều hành tỷ giá mới, tỷ giá VND được hình thành trên cơ sở giao dịch trên thị trường đã phản ánh tương đối khách quan sức mua của đồng Việt Nam so với ngoại tệ 6.1.5. Những vướng mắc cần tháo gỡ Bên cạnh những kết quả tích cực mà sự đổi mới chính sách tài chính Việt Nam đem lại, vẫn tồn tại một số yếu kém nhất định như tỷ lệ huy động vốn thấp, chất lượng tín dụng tại các ngân hàng không cao, các doanh nghiệp tư nhân rất khó tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng ngân hàng, dẫn tới thiếu cơ hội để phát triển. Điều đó được thể hiện cụ thể như sau: Thứ nhất là, mặc dù đã có cơ chế lãi suất dương, tính tự chủ của các ngân hàng đã được nâng cao, lãi suất dần dần được xác định theo cung-cầu thị trường và theo hướng biến động của lãi suất quốc tê, song do nền kinh tế của Việt Nam là nền kinh tế mở, có quy mô nhỏ nên biện pháp của chúng ta vẫn chưa thực sự hiệu quả và tính bao cấp hành chính vẫn còn tồn tại. Ngoài ra, vẫn còn có sự can thiệp của chính quyền vào việc xác định lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng. Chính sách lãi suất của NHNN vẫn bộc lộ những yếu kém cơ bản, cụ thể như: Mặc dù NHNN đã thực hiện tự do hoá ngoại tệ, chuyển sang cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với đồng nội tệ nhưng vẫn còn quy định biên độ để khống chế l

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc3668.doc
Tài liệu liên quan