Tiểu luận Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và cải cách các Tổng Công ty - Tập đoàn kinh tế

MỤC LỤC

1. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. 2

1.1. Khái niệm về CPH và sự cần thiết phải CPH DNNN 2

1.1.1. Khái niệm CPH DNNN 2

1.1.2. Phân biệt CPH và tư nhân hóa DNNN 3

1.1.3. Sự cần thiết phải CPH DNNN. 5

1.2. Thực trạng CPH DNNN 8

1.3. Giải pháp 14

2. Tổng công ty Nhà nước và tập đoàn kinh tế 16

2.1. Tổng công ty nhà nước: 16

2.2. Tập đoàn kinh tế 18

2.3. Tổng công ty 90 và tổng công ty 91 19

2.4. Quá trình cải cách các TCT và TĐKT 21

2.5. Những hạn chế trong quá trình cải cách theo mô hình công ty mẹ-con và CPH 24

 

 

doc26 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 29/08/2013 | Lượt xem: 852 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và cải cách các Tổng Công ty - Tập đoàn kinh tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
kinh doanh. Việc phân phối về tính chất không dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động mà mạng nặng tính bình quân không kích thích người quản lý và công nhân trong các DNNN nâng cao hiệu quả công tác và năng suất lao động. Ngoài ra, đội ngũ cán bộ với kiến thức và trình độ quản lý không phù hợp, thiếu năng động. Như vậy, tình trạng kém hiệu quả của các DNNN làm cho nền kinh tế không thể phát triển được, chế độ quan liêu bao cấp kìm hãm sự phát triển lực lượng sản xuất, đẩy nền kinh tế vào khủng hoảng. Do đó, khi chuyển sang nền KTTT, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì việc CPH một bộ phận DNNN là cần thiết và cấp bách. 1.1.3.3. Xuất phát từ sự thay đổi nhận thức về vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Hội nghị Trung ương lần thứ VI tháng 3/1989 đã nêu rõ vai trò chủ đạo của nền kinh tế Nhà nước không phải có mặt với tỷ trọng lớn ở tất cả mọi ngành mà chỉ chiếm giữ những vị trí then chổt trong nền kinh tế. Giải pháp được đặt ra để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là: tập trung nguồn lực phát triển có hiệu quả kinh tế Nhà nước trong những lĩnh vực DNNN, thực hiện tốt chủ trương CPH và đa dạng hóa sở hữu đối với những DNNN không cần giữ 100% vốn. 1.1.3.4. CPH là sự lựa chọn tốt nhất của các doanh nghiệp. Ø Chế độ cổ phần là sản phẩm tất yếu của xã hội hóa sản xuất và của nền KTTT. Là một hình thức quyền tài sản, chế độ cổ phần là biểu hiện hình thức vận hành ở góc độ quan hệ sản xuất của sự xã hội hóa sản xuất, theo cách nói của Mác nó là “tư bản xã hội”, tư bản tự nó vốn dựa trên phương thức sản xuất xã hội và đòi hỏi phải có sự tập trung xã hội về tư liệu sản xuất và sức lao động. Ở đây, trực tiếp mang hình thái tư bản xã hội (tư bản của những cá nhân trực tiếp liên hiệp lại với nhau), Mác coi đó là “hình thái quá độ từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sang phương thức sản xuất tập thể” là “sự phủ định”, là hình thức phủ định cao nhất đối với tư bản tư nhân. Ø DNNN áp dụng chế độ CPH sẽ có lợi cho giải phóng và thuận lợi sản xuất được thể hiện. - Phân định ranh giới rành mạch về quan hệ về quyền tài sản tức là quyền sở hữu cuối cùng. Như vậy, doanh nghiệp sẽ thực sự là sản xuất kinh doanh. - Thể hiện sự thống nhất về vai trò song cũng vừa là người lao động vừa là người sở hữu. Khi đó quyền lợi của công nhân sẽ gắn chặt với vận mệnh của công ty. Vì vậy, giúp cho công nhân và công ty trở thành một khối vững chắc đoàn kết. - Tách quyền sở hữu ra khỏi quyền kinh tế. Nó cho phép nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp đồng thời tạo cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù. - CPH giúp cho việc khơi thông nguồn vốn xuyên khu vực kết hợp các yếu tố sản xuất xuyên khu vực, vì vậy mà gắn chặt với việc xây dựng và mở rộng thị trường vốn. Ngoài ra, CPH giúp ích cho việc mở cửa thị trường và thu hút nguồn vốn nước ngoài. Từ kinh nghiệm của nhiều nước và phân tích trên cho thấy CPH DNNN là quá trình phát triển tiến lên phù hợp với quy luật của thời đại, có lợi cho việc phát triển lực lượng sản xuất xã hội hóa hiện đại phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Bởi vậy mà CPH là bộ phận DNNN ở nước ta là cần thiết, tạo tiền đề cho sự phát triển đất nước thành một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển hiện đại. Tóm lại, CPH DNNN là một trong những hướng quan trọng của quá trình cải cách DNNN - bộ phận không thể thiếu trong thành phần kinh tế nhà nước. Trong đổi mới kinh tế, một vấn đề lớn được đặt ra là phải phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất. 1.2. Thực trạng CPH DNNN Quá trình CPH các DNNN trải qua 4 giai đoạn: - Giai đoạn thí điểm (1992 - 1996) Chính phủ ở nước ta đã có chủ trương CPH một số DNNN từ năm 1987. Tại Điều 22 của Quyết định 217/HĐBT (14/11/1987) đã ghi: “Bộ Tài chính nghiên cứu và cho tổ chức làm thử việc mua cổ phần ở một số xí nghiệp (quốc doanh) và báo cáo kết quả lên HĐBT vào cuối năm 1988”. Đến năm 1990, Chính phủ lại có quyết định số 143/ HĐBT (10/5/1990) về làm thí điểm CPH một số DNNN cùng với việc sắp xếp lại khu vực kinh tế quốc doanh nhưng không thành công. Đến năm 1992, Nhà nước ta có chủ trương CPH DNNN, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 202/CT (8/6/1992) kèm theo đề án triển khai CPH DNNN. Và Việt Nam đã bắt đầu CPH với một chương trình thí điểm vào năm 1992. Đến năm 1996, Chính phủ đã đẩy mạnh hơn việc CPH DNNN với Nghị định mới số 28-CP. Nghị định này cùng với các quy định bổ sung đã hình thành một khung pháp lý cho CPH ở Việt Nam. Kết quả: Ở giai đoạn này, chỉ có 5 DNNN đã được CPH. - Giai đoạn mở rộng (1996 - 2002) Kết quả: Số DNNN đã được CPH là 858 doanh nghiệp - Giai đoạn chủ động (6/2002 – 11/2004) Năm 2002: 185 doanh nghiệp Năm 2003: 537 doanh nghiệp Năm 2004: 805 doanh nghiệp Kết quả: Từ 6/2002 đến cuối năm 2004 cả nước đã CPH được 1435 doanh nghiệp. Tuy có sự tăng lên một cách đáng kể so với các năm trước nhưng vẫn không thực hiện được như kế hoạch đề ra. - Giai đoạn đẩy mạnh (12/2004 - nay). Năm 2005, cả nước CPH được 724 doanh nghiệp Năm 2007, cả nước sắp xếp CPH được 116 doanh nghiệp, chỉ đạt khoảng 21% so với kế hoạch đề ra. Tính đến hết năm 2009, đã có gần 4.500 doanh nghiệp hoàn tất CPH nhưng phần lớn trong số đó là các doanh nghiệp cỡ nhỏ và vừa, có quy mô vốn, giá trị tài sản chưa đầy 30% trong tổng giá trị vốn, tài sản của khối DNNN. Năm 2009 chỉ vẻn vẹn 60 doanh nghiệp được CPH. Đến tháng 7-2010, với khoảng 1.500 doanh nghiệp trong đó, có tới 8 tập đoàn, 70-80 tổng công ty nhà nước và hàng trăm công ty lớn thì việc CPH chắc chắn không thể hoàn thành được và phần lớn trong số đó đơn thuần chuyển tên thành công ty TNHH một thành viên thuộc sở hữu Nhà nước. Qua CPH, nhiều yếu kém cố hữu đã được giải quyết là: nợ xấu, tồn kho vật tư hàng hoá kém phẩm chất, các trang thiết bị và tài sản cũ nát… Với các doanh nghiệp đã CPH, bộ máy và phương pháp quản lý đã thích nghi, năng động và sát với thị trường hơn, phần nào làm tăng trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp, động lực lao động mới đang dần được tạo ra. Các biện pháp tiến hành CPH ngày càng được hoàn thiện hơn. Cơ chế định giá doanh nghiệp mới qua các tổ chức tư vấn độc lập (thay vì qua hội đồng định giá như trước đây) được áp dụng. Nhiều doanh nghiệp đã thực hiện đấu thầu giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Sau CPH, các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn trên hầu hết các mặt chủ yếu. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế của các DNNN sau CPH tăng lên rõ rệt. Kết quả khảo sát hơn 850 doanh nghiệp cổ phần (năm 2005) cho thấy: vốn điều lệ tăng bình quân 44%, doanh thu tăng gần 24%, lợi nhuận tăng 140%, nộp ngân sách tăng 25%, thu nhập người lao động tăng 12%. Cũng theo điều tra của Ban, có khoảng 87% số doanh nghiệp khẳng định kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp cổ phần hoá tốt hơn hoặc tốt hơn rất nhiều so với trước CPH. Có thể nói đây là con số rất ý nghĩa đối với các doanh nghiệp, khẳng định CPH là một trong những biện pháp hữu ích nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN. Một điều có ý nghĩa quan trọng nữa là, kết quả trên sẽ tạo niềm tin và động lực cho các DNNN khác tiến hành đổi mới hoạt động kinh doanh của mình một cách tích cực hơn. Tổng kết lại số liệu các DNNN đã CPH qua các năm, ta có bảng số liệu như sau: Bảng 2.1:Bảng thống kê số lượngDNNN đã CPH qua các năm Năm Số DNNN đã CPH 1992- 1998 123 1999 253 2000 212 2001 205 2002 185 2003 537 2004 805 2005 724 2006 640 2007 116 2008 98 2009 60 6/2010 26 Tổng Số 3984 (Nguồn: Theo số liệu của Bộ Tài Chính) (Bảng số liệu các DNNN đã CPH qua các năm) Mặc dù CPH các DNNN đã giải quyết được nhiều mặt yếu kém nhưng quá trình CPH vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế. Vì vậy, CPH các DNNN đã diễn ra chậm. Có rất nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra việc CPH DNNN diễn ra chậm, tuy nhiên, tổng hợp lại thì có một số những nguyên nhân sau: Thứ nhất: còn nhiều vướng mắc về tư tưởng, nhận thức của lãnh đạo, đảng viên và người lao động trong các doanh nghiệp. Những vướng mắc này xuất phát từ nhận thức về việc CPH còn hạn chế và trên hết là tâm lý lo ngại lợi ích của mình sẽ không được bảo đảm. Nhiều lãnh đạo các doanh nghiệp không muốn doanh nghiệp chuyển sang hình thức cổ phần bởi vị trí quản lý của họ có thể sẽ bị thay đổi, và ngay cả khi còn nắm giữ vị trí quản lý, cũng khó có thể điều hành công ty theo lối cũ mà phải chịu sự giám sát mới chặt chẽ hơn của hội đồng quản trị và các cổ đông. So với khi chưa CPH, người lãnh đạo ở các doanh nghiệp CPH còn phải đương đầu và chịu trách nhiệm nhiều hơn, trong khi sự hiểu biết về cách thức điều hành một công ty cổ phần còn hạn chế. Điều đó sẽ làm cho họ lúng túng ngay cả đối với những vấn đề tưởng đơn giản. Người lao động trong các doanh nghiệp cũng có nhiều điều phải lo lắng như sau CPH họ sẽ làm gì nếu như trở thành lao động dôi dư. Bản thân doanh nghiệp khó có đủ kinh phí để giải quyết chính sách hay tìm việc làm mới cho người lao động…Do vậy, đã làm cho tiến trình CPH các DNNN chậm do không được kiên quyết thực hiện. Thứ hai: các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiến hành CPH. Đó là: quy trình CPH rườm rà, phức tạp, có phần còn cứng nhắc; khó xác định đúng được giá trị của doanh nghiệp khi chuyển sang công ty cổ phần bởi chưa có chế tài cụ thể tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp, ngay cả các cơ quan chức năng nhiều khi cũng không thống nhất được các mức giá khác nhau về tài sản của doanh nghiệp. Thêm nữa, nếu như trường hợp giá trị quyền sử dụng đất được tính vào giá trị của doanh nghiệp thì lại kéo theo những tranh chấp mà các doanh nghiệp phải đương đầu trong quá trình sử dụng. Các doanh nghiệp còn khó định được giá trị của các lợi thế kinh doanh (như thương hiệu) như là một phần giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp… Thứ 3: nhiều doanh nghiệp không muốn chuyển sang CPH bởi chưa có được môi trường thật sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Trong thực tế, khi các doanh nghiệp đã được CPH thì thường được coi là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, không được đối xử ngang hàng như những những DNNN khác. Điều này thể hiện rất rõ qua khả năng tiếp cận các nguồn vốn của những tổ chức tín dụng nhà nước. Nếu như khi còn là DNNN, những doanh nghiệp này không chỉ nhận được nguồn vốn từ nhiều kênh khác nhau như đầu tư cơ bản, bổ sung vốn lưu động, được xóa nợ, hay bảo lãnh nợ, thì nay không những không còn các nguồn vốn trên, mà lại còn bị rơi vào tình trạng khó được vay vốn bởi tâm lý lo ngại họ là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, không có người bảo đảm (Chính phủ, các Bộ hay Uỷ ban nhân dân các cấp) khi không có khả năng trả được nợ. Trong lĩnh vực thuế, cách tính thuế đối với một số tài sản của DNNN được CPH cũng chứa đựng những bất hợp lý. Chẳng hạn, nếu tài sản được chuyển giao khi còn là DNNN thì không bị tính thuế trước bạ, nhưng sau khi doanh nghiệp đã CPH thì phải chịu thuế này… Sự phân biệt đối xử như kiểu “con cùng cha khác mẹ” đã tạo lên tâm lý lo ngại trong lãnh đạo doanh nghiệp khi phải đương đầu với nhiều khó khăn phía trước, nên rất lưỡng lự trước việc lựa chọn phương án CPH doanh nghiệp. Thứ tư: các điều kiện kinh tế vĩ mô không tạo điều kiện thuận lợi cho CPH DNNN nói riêng và môi trường kinh doanh nói chung. Lạm phát cao những năm 2007-2008 và tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009 đã làm chậm tiến độ cải cách các DNNN, thậm chí có dấu hiệu ngừng lại và xu hướng quay trở lại củng cố vị thế của khu vực này trong nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn. Thứ năm: hội nhập và khủng hoảng toàn cầu tạo sức ép đẩy nhanh tiến độ CPH các DNNN, song ngược lại, những hệ lụy tiêu cực từ hội nhập và khủng hoảng toàn cầu lại hỗ trợ cho tư tưởng, chính sách dựa vào khu vực DNNN, đặc biệt là các tập đoàn và tổng công ty lớn của Nhà nước để khắc phục những vấn đề mới nảy sinh trong tiến trình hội nhập và vượt qua khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Do vậy, tiến độ CPH không được coi là trọng tâm ưu tiên nữa. Thứ sáu: Vai trò của các doanh nghiệp. Dường như vấn đề CPH vẫn chưa phải là nhu cầu tự thân, nhu cầu nội tại của các DNNN, thậm chí còn là sự miễn cưỡng. Trong thực tế thực hiện, hầu hết các chương trình hay kế hoạch CPH đều là của các bộ, ngành, hay chính quyền địa phương, chưa có (hoặc nếu có thì cũng rất ít) doanh nghiệp chủ động đề xuất đưa tên mình vào chương trình hay kế hoạch đó. Điều này chỉ có thể lý giải là đối với các doanh nghiệp, CPH không hấp dẫn họ. Hầu hết các DNNN vẫn không muốn, hay né tránh, hoặc tìm cách né tránh thực hiện CPH vì muốn được an toàn hơn và không muốn mất đi lợi ích hay lợi thế đang có. Một trong những lợi thế đang mang lại quá nhiều lợi ích-lợi nhuận siêu ngạch đó là sự độc quyền hoặc những ưu đãi mà các doanh nghiệp vẫn nghĩ là chỉ DNNN mới có được. Ở đây, nhà nước và các DNNN chưa có cùng một suy nghĩ và hành động. Do vậy, nếu còn có sự khác nhau về thái độ và quyết tâm đối CPH, và khi các DNNN vẫn còn e ngại và nghi ngờ, chưa quyết tâm thì vẫn còn nhiều trở ngại cho quá trình CPH, do vậy mà làm cho tiến trình CPH diễn ra chậm chạp hơn so với dự kiến. 1.3. Giải pháp Từ những nguyên nhân trên, chúng ta cần phải có những giải pháp thiết thực để thực hiện tốt hơn công tác CPH DNNN, khai thác, thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước và xã hội. Theo chúng tôi cần thực hiện một số giải pháp sau đây: Một là, đẩy mạnh hơn nữa CPH DNNN, coi CPH là giải pháp quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của DNNN. Đối tượng CPH là những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn, kể cả một số tổng công ty và DNNN lớn trong một số ngành, lĩnh vực quan trọng. Mở rộng diện các DNNN cần CPH, triển khai việc CPH Nhà nước giữ cổ phần chi phối đối với tổng công ty và DNNN quy mô lớn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9, khóa IX. Lựa chọn một số tổng công ty “90″ để thí điểm CPH toàn tổng công ty. Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách CPH, tạo lập môi trường pháp lý để khuyến khích, thúc đẩy CPH và đa dạng hóa hình thức sở hữu. Có cơ chế và phương pháp định giá doanh nghiệp khoa học, hợp lý, thực hiện định giá qua các tổ chức chuyên nghiệp đủ uy tín, năng lực, bảo đảm thực hiện nguyên tắc thị trường quyết định giá trị tài sản của doanh nghiệp, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất. Đẩy mạnh công khai việc mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán theo phương thức đấu giá để thu hút các nhà đầu tư có tiềm năng về vốn, công nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lý. Ba là, hoàn thiện cơ chế quản lý phần vốn của Nhà nước tại các công ty cổ phần, tiêu chuẩn người trực tiếp quản lý phần vốn của Nhà nước; làm rõ mối quan hệ giữa tổ chức cơ sở của Đảng – Hội đồng quản trị – Giám đốc doanh nghiệp trong công ty cổ phần, đặc biệt là về vấn đề tổ chức cán bộ. Bốn là, tổng kết và phổ biến kịp thời kinh nghiệm công tác CPH. Thực tế cho thấy, thông qua các cuộc họp, hội thảo khoa học, những đợt tổng kết các thời kỳ và nội dung CPH trong thời gian qua, chúng ta đã thu được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước đã có những điều chỉnh kịp thời về môi trường pháp lý, kiện toàn công tác tổ chức và đưa ra các quyết sách lớn trong quá trình chỉ đạo CPH. Đối với các doanh nghiệp CPH và trong diện CPH trong thời gian tới, việc tổng kết, trao đổi kinh nghiệm sẽ giúp các doanh nghiệp học tập những kinh nghiệm thành công và tránh mắc phải các hạn chế của các doanh nghiệp đi trước. Đẩy mạnh hơn nữa việc sắp xếp và đổi mới DNNN theo các Nghị quyết Trung ương 3 và 9 (khóa IX), là góp phần quan trọng để phát triển kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm thực hiện thắng lợi đường lối phát triển kinh tế mà Đại hội IX của Đảng đề ra. 2. Tổng công ty Nhà nước và tập đoàn kinh tế 2.1. Tổng công ty nhà nước: Theo Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty NN thì: Tổng công ty NN (hay còn gọi là tổng công ty) là doanh nghiệp NN có quy mô lớn bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, do NN thành lập nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiệm vụ NN giao; nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và của toàn Tổng công ty; đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Theo từ điển Bách khoa VN thì: Tổng công ty NN là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn giữa các công ty NN, giữa các công ty NN với các doanh nghiệp khác hoặc được hình thành trên cơ sở tổ chức và liên kết các đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ích của các đơn vị thành viên và Tổng công ty. Cả hai quan niệm trên tuy đã nêu được những đặc trưng cơ bản của Tổng công ty, nhưng đều chưa thể hiện rõ “tính chất NN” của các TCTNN, tức là chưa làm rõ các đặc điểm cơ bản của một TCTNN “khác với các TCT khác” là NN sở hữu 100% vốn và thực hiện các mục tiêu của NN. Theo luật DNNN (2003): “TCTNN là một DNNN do NN sở hữu 100% vốn có quy mô lớn bao gồm nhiều DNNN hạch toán độc lập và các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị hạch toán phụ thuộc. Các DNNN là thành viên của TCT có quan hệ với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, đào tạo nghiên cứu, hoạt động trong một hoặc một số ngành do NN thành lập nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hóa để thực hiện những nhiệm vụ chiến lược của quốc gia”. Như vậy, TCTNN là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn giữa các công ty NN, giữa các công ty NN với các DN khác hoặc được hình thành trên cơ sở tổ chức và liên kết các đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ích của các đơn vị thành viên và TCT. Đây là quan niệm thể hiện đầy đủ nhất về bản chất của TCTNN. Loại hình TCTNN gồm có: - TCT do NN quyết định đầu tư và thành lập: đây là hình thức liên kết và tập hợp các công ty thành viên hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, nhằm tăng cường tích tụ, tập trung vốn và chuyên môn hóa kinh doanh của các đơn vị thành viên và toàn TCT. - TCT do các công ty tự đầu tư và thành lập: đây là hình thức liên kết thông qua đầu tư, góp vốn của công ty NN quy mô lớn do NN sở hữu toàn bộ vốn điều lệ với các DN khác, trong đó công ty NN giữ quyền chi phối các DN kia. - TCT đầu tư và kinh doanh vốn NN là TCT được thành lập để thực hiện quyền và nghĩa vụ của sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn NN một thành viên chuyển đổi từ các công ty NN độc lập và các công ty trách nhiệm hữu hạn NN một thành viên do mình thành lập; thực hiện chức năng đầu tư và kinh doanh vốn NN và quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với cổ phần, vốn góp của NN tới các DN đã chuyển đổi sở hữu hoặc hình thức pháp lý từ các công ty NN độc lập. 2.2. Tập đoàn kinh tế Ở mỗi nước có một quan niệm khác nhau về TĐKT tùy thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị và điều kiện pháp lý của nước đó. Vì vậy, TĐKT hiện nay được mang nhiều tên gọi khác nhau: tại các nước Mỹ Latinh gọi là “groupos”, Ấn Độ gọi là “Business house”, ở Trung Quốc gọi là “Tập đoàn DN”, còn ở phương Tây thì lại gọi là “conglomerate”… Tuy gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau nhưng nhìn chung trong quan niệm của các nước đều có điểm chung là coi TĐKT là một thực thể kinh tế gồm một số DN có tư cách pháp nhân độc lập, kết hợp lại với nhau trên cơ sở chọn một DN làm nòng cốt (thường tồn tại dưới hình thức công ty mẹ) để cùng nhau thực hiện một liên hợp kinh tế có quy mô tương đối lớn. Các công ty trong tập đoàn có sự ràng buộc với nhau về vốn, công nghệ thông tin, đào tạo, nghiên cứu…cùng tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh trong một hoặc cùng nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế. Như vậy có thể hiểu TĐKT là một cơ cấu sở hữu, tổ chức và kinh doanh đa dạng, có quy mô lớn. Nó vừa có chức năng sản xuất kinh doanh vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường khả năng tích tụ, tập trung cao nhất các nguồn lực ban đầu (vốn, lao động, công nghệ) để phát triển khả năng cạnh tranh trên thị trường và tối đa hóa lợi nhuận. Ở VN, Chính phủ đã chính thức thừa nhận mô hình tập đoàn kinh tế như là một chỉnh thể “bao gồm nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hính thức liên kết khác gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty me – công ty con” TĐKT có các đặc trưng cơ bản sau: Tập đoàn có cơ cấu tổ chức nhiều tầng nấc. Giữa các thành viên trong tập đoàn có mối liên kết nhất định. Trong tập đoàn có một hạt nhân đóng vai trò nòng cốt. TĐKT là một liên hiệp pháp nhân chứ không phải là pháp nhân. Các TĐKT được hình thành theo nhiều cách khác nhau: - Có loại TĐKT được hình thành theo nguyên tắc “kết hợp chặt chẽ trong một tổ chức kinh tế” hay còn gọi là các tập đoàn “cứng” . - Có loại TĐKT được hình thành theo nguyên tắc “liên kết kinh tế” hay “liên kết mềm”. - Có loại TĐKT được hình thành dựa trên cơ sở xác lập thống nhất về tài chính và kiểm soát tài chính… Dù được hình thành theo cách nào thì các TĐKT đều có điểm chung là các DN liên kết với nhau theo cách thức liên kết ngang, liên kết dọc hay liên kết hỗn hợp. 2.3. Tổng công ty 90 và tổng công ty 91 Sự ra đời của các TCTNN là một phần quan trọng trong quá trình đổi mới, tổ chức và sắp xếp lại các DNNN theo hướng hình thành các tổ chức kinh tế mạnh của NN. Các TCT ban đầu được thành lập chỉ là việc sắp xếp các TCT, LHXN sẵn có một cách cơ học, không xáo trộn nhằm bảo đảm cho các DN hoạt động bình thường. Sau đó, trong quá trình hoạt động, các TCT mới thiết lập dần các mối liên kết về vốn hoặc đầu tư vốn giữa các DN có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vụ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu…nhằm tăng cường khả năng kinh doanh của các đơn vị thành viên nói riêng và của TCT nói chung. Ngày 7/3/1994, Thủ tưởng Chính phủ đã đề ra Quyết định số 90/TTg và quyết đinh 91/TTg. Các TCT, LHXN được thành lập lại theo QĐ 90/TTg của Chính phủ được gọi tắt là TCT 90, và các TCT, LHXN được thành lập lại theo QĐ 91/TTg của Chính phủ được gọi tắt là TCT 91. Số lượng các TCT theo lĩnh vực, ngành nghề thể hiện ở bảng sau: TCTNN năm 1995 phân theo ngành, lĩnh vực STT Ngành, lĩnh vực TCT 91 TCT 90 Tổng số 1 Công nghiệp 8 12 20 2 Nông nghiệp 4 14 18 3 Giao thông vận tải 2 12 14 4 Xây dựng 1 11 12 5 Bưu chính viễn thông 1 0 1 6 Hàng không 1 0 1 7 Thủy sản 0 3 3 8 Tài chính 0 1 1 9 Ngân hàng 0 5 5 10 Thương mại 0 8 8 11 Y tế 0 2 2 12 Văn hóa thông tin 0 1 1 13 Địa phương 0 8 8 Tổng cộng 17 17 94 (Nguồn: Ban đổi mới và phát triển DN) Như vậy, tỏng tổng số 94 TCT hiện có, 2 ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế là công nghiệp và nông nghiệp chiếm đến 40%, trong đó các TCT ngành công nghiệp chiếm 21% và các TCT ngành nông nghiệp chiếm 19%. Vào thời điểm mới thành lập, các TCTNN có 1 140 DN thành viên hạch toán độc lập, bằng 20% tổng số DNNN hiện có, chiếm 54% về vốn, khoảng 68% doanh thu và 78% mức nộp ngân sách của toàn bộ DNNN, đóng vai trò quan trọng trong các cân đối xuất nhập khẩu đảm bảo vật tư, hàng tiêu dùng thiết yếu, góp phần ổn định giá cả thị trường. TÍnh riêng 171 TCT 91 có 342 DN thành viên hạch toán độc lập, chiếm 6% số lượng DNNN, 36% tổng vốn kinh doanh, 50% doanh thu, xấp xỉ 56% mức nộp ngân sách nhà nước. 2.4. Quá trình cải cách các TCT và TĐKT 2.4.1. Chuyển đổi sang mô hình kinh tế Công ty mẹ - Công ty con. Như chúng ta đã biết, sự đóng góp của các TCT cho nền kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, điều kiện và những ưu đãi mà NN giành cho các TCT này. Thứ nhất, hiệu quả hoạt động của nhiều TCT và các đơn vị thành viên TCT rất thấp. Hiệu quả kinh doanh của các TCT 91 giai đoạn 1997-2000 STT Tên TCT Lợi nhuận / Doanh thu Lợi nhuận / Doanh thu 1997 1999 2000 1997 1999 2000 1 Hàng hải 0,08 0,06 0,05 0,10 0,05 0,17 2 Thép - 0,01 0,01 - 0,02 0,07 3 Điện lực 0,016 0,14 0,13 0,09 0,08 0,10 4 CN tàu thủy 0,01 0,01 0,01 0,03 0,02 0,01 5 Giấy 0,03 0,02 0,02 0,06 0,04 0,05 6 Cao su 0,15 0,07 0,14 0,07 0,04 0,12 7 Cà phê 0,03 - 0 0,08 - 0 8 Than 0,06 0 0 0,07 0 0 9 LT miền Bắc 0,02 0,02 0,04 0,11 0,05 0,77 10 LTmiền Nam 0,02 0,01 0 0,17 0,09 0,06 11 Xi măng 0,08 0,10 0,09 0,09 0,08 0,35 12 Dầu khí 0,52 0,18 0,2 0.25 0,40 0,80 13 Hàng không

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCổ phần hóa DNNN và cải cách các Tổng Công ty - Tập đoàn kinh tế (TCT-TĐKT).doc
Tài liệu liên quan